Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Saint Germain qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.
TA LÀ Chân sư Thăng thiên Saint Germain. Chúng ta hãy nhắc tới câu truyện trong Kinh thánh về Saint Joseph là cha của Giê-su và trong các đợt truyền giáo trước đã đề cập thày là sinh thể đã hiện thân như Joseph. Một lần nữa, như Mẹ Mary đã giải thích, đây toàn là biểu tượng và con có thể xem biểu tượng ở nhiều tầng cấp khác nhau. Chắc chắn con có thể thấy sự kiện em bé Ki-tô được mẹ nuôi dưỡng nhưng bé cũng có một người đóng vai trò người cha. Người cha làm gì cho Ki-tô khi Ki-tô lớn lên, khi em bé Ki-tô trưởng thành?
Ấy, trước tiên, người cha dạy em bé Ki-tô một ngành nghề, một kỹ năng. Lẽ tất nhiên điều này áp dụng cho con theo nghĩa con là cha của Ki-tô trong con. Con đóng vai trò người cha và người mẹ cho sự biểu hiện Ki-tô cá nhân của con. Con cần dạy Ki-tô một kỹ năng nào đó, một kiến thức nào đó. Điều này không nhất thiết nghĩa là một ngành nghề như thợ mộc hay khoa học gia hay bất cứ gì khác. Có thể là con chọn một chủ đề gần gũi với con, một chủ đề mà con ưa thích và con nghiên cứu chủ đề đó.
Con không nhất thiết phải theo một khóa học chính thức. Có thể là con tự học về chủ đề đó. Con trở thành một chuyên gia về chủ đề theo nghĩa con biết chủ đề đó qua nhiều góc độ, nhiều tầm nhìn. Việc này có kết quả gì? Nó tạo một cấu trúc qua đó tâm Ki-tô có thể biểu đạt qua tâm của con, để có một chén thánh mà tâm Ki-tô chảy vào được. Lẽ tất nhiên con có một biểu tượng khác từ Kinh thánh là chiếc chén thánh mà Ki-tô dùng trong bữa ăn tối cuối cùng, mà người đời thường gọi là chiếc Chén thánh (Holy Grail). Biểu tượng này là khi con đạt được một kỹ năng nào đó, một kiến thức nào đó, thì con tạo ra trong bốn thể phàm của con một chiếc chén để khi con trưởng thành trong quả vị Ki-tô, thì có một chiếc chén thánh, một cấu trúc, để rượu của tâm thức Ki-tô có thể rót vào. Bởi vì Ki-tô không thể chảy vào chỗ trống không, không thể chảy vào cái bình rỗng và bị đổ vãi xuống đất.
5.1. Tâm Ki-tô cần một cấu trúc để biểu đạt
Một lần nữa, như Padmasambhava đã chỉ ra, tâm vỏ ngoài, tâm thuần lý có thể lấy bất cứ gì các thày nói và bẻ quẹo và nói: “Đây chẳng phải là một mâu thuẫn sao, vì chẳng phải là Padmasambhava đã nói là con cần thấy tất cả những ngã dính mắc vào quá khứ, dính mắc vào tương lai? Chúng ta có thể suy diễn chăng là nếu ta dọn sạch tâm khỏi tất cả những ngã này thì tâm sẽ thông thoáng và ánh sáng Ki-tô có thể tuôn chảy.”
Ngay đây, thày đang nói chuyện con trở thành một chuyên gia về một chủ đề nào đó, con tạo dựng một cấu trúc trong tâm. Thày không nói tới việc dựng lên một cấu trúc qua các ngã tiềm thức tách biệt. Thày nói tới việc dựng lên một cấu trúc kiến thức, hiểu biết, kỹ năng để tâm Ki-tô có một cái gì qua đó nó có thể được biểu đạt. Con có thể nói: “Đây là một sứ giả đang truyền đạt một thông điệp từ một chân sư thăng thiên tuôn chảy tự nhiên từ tâm Ki-tô, và đúng vậy, người sứ giả, như ông đã giải thích, tìm cách ở trong tâm thái trung hòa.” Nếu ông tuyệt đối không biết gì về chủ đề thì thày không thể trao bài truyền đọc qua ông. Qua người sứ giả này, thày không thể trao một bài truyền đọc có chất lượng trong lãnh vực vật lý thiên văn hay vật lý hạt nhân hay giải phẫu não bộ. Vì trong tâm người sứ giả không có cấu trúc có thể đón nhận những khái niệm mà thày có trong tâm thày.
Đây là điều thày muốn nói khi thày nói tới việc con dấy lên một chén thánh, con tạo một chén thanh. Chén thánh không được cấu tạo với những ngã tách biệt. Nó gồm những khái niệm, ý tưởng, ngôn ngữ để con có thể đón nhận những xung lực đến từ tâm Ki-tô. Lẽ tất nhiên, rõ ràng đây không phải là chuyện đơn giản. Không phải là con chỉ cần thu thập tất cả sách con có thể tìm được về một chủ đề và nghiên cứu các sách này và viết xuống những ghi chú, và thế là xong, con biết hết mọi chuyện. Bởi vì thách đố là cung cấp một cấu trúc để Ki-tô có thể chảy vào nhưng cùng lúc hạn chế càng ít càng tốt sự biểu đạt của tâm Ki-tô.
5.2. Kiến thức thế gian có thể hạn chế Ki-tô
Ý thày muốn nói là gì? À, điều thày muốn nói là nếu con lấy ví dụ một nhà khoa học lớn lên trong một xã hội Tây phương hay một xã hội hiện đại, đi học, lên đại học, học một số năm, tốt nghiệp, tìm được một việc làm, tiếp tục thử nghiệm và học hỏi, nhà khoa học đó trong khung cảnh hiện hành trên Trái đất sẽ bị lập trình, bị nhồi sọ, bị tẩy não bởi triết lý, ý thức hệ, tôn giáo gọi là chủ thuyết khoa học duy vật. Có nghĩa là nếu nhà khoa học ấy hấp thụ những ý tưởng đã đượt đặt để trong tâm, thì y sẽ không dám đón nhận bất cứ gì từ tâm Ki-tô chất vấn, thách thức, vượt lên trên thế giới quan duy vật. Lẽ dĩ nhiên điều này sẽ giới hạn sự biểu đạt của tâm Ki-tô.
Con thấy thách đố là con trở thành một chuyên gia trong một lãnh vực nào đó mà không lấy vào những tin tưởng giới hạn hiện có trong lãnh vực đó. Có thể đó không phải là chủ nghĩa duy vật, mà là những ý tưởng khác. Đó có thể là những ý tưởng vi tế không thuộc bất kỳ ý thức hệ hay tôn giáo nào. Trong bất kỳ lãnh vực nào cũng có một số giới hạn và tại sao thày nói thế? Bởi vì nếu con nhìn vào bất kỳ lãnh vực nào của xã hội, thì con thấy có một lối suy nghĩ, một hệ thuyết nào đó thống trị lãnh vực đó. Cho dù nó tạo nền móng cho lãnh vực đó, nhưng nó cũng giới hạn khả năng con người đón nhận ý tưởng mới từ cõi thăng thiên. Lẽ tất nhiên, đây là một thách đố cho con, nhưng nó không lớn bằng thách đố cho những người ở thế giới ngoài kia không hay biết gì về quả vị Ki-tô.
Khi con có kiến thức mà các thày đã cho con về quả vị Ki-tô, thì con có thể thấy là con có thể nghiên cứu một lãnh vực, biết những gì được đưa ra trong lãnh vực đó cho tới ngày nay mà không giới hạn tư duy của mình bằng cách suy nghĩ: “À, đây là kiến thức tối hậu.” Một khi con có tầm nhìn tâm linh về cuộc đời, giả dụ con biết chủ thuyết khoa học duy vật không phải là thế giới quan tối hậu hay thế giới quan Công giáo không phải là cái nhìn tối hậu. Do đó, con có thể tránh không để tâm mình bị giới hạn bởi những hộp tư duy đã được tạo ra trong thế gian, như vậy kiến thức của con không giới hạn khả năng của thày hay một chân sư thăng thiên khác gửi cho con những ý tưởng mới có thể đẩy lãnh vực này tiến lên, và con có thể nói về lãnh vực đó một cách mới, khác lạ, đưa ra một tầm nhìn khác có thể giúp người khác suy nghĩ.
5.3. Kỷ luật tâm Ki-tô
Giờ đây có một khía cạnh khác của yếu tố cha là em bé Ki-tô, vì vẫn còn là một em bé, nên cần có người đặt giới hạn cho nó. Có những câu chuyện kể rằng khi Giê-su còn nhỏ, thày thử nghiệm dùng quyền năng của thày, tỷ dụ như thày nặn những hình tượng đất sét và thổi sự sống vào chúng. Giờ đây, mặc dù những câu chuyện này hư cấu, đây là một ví dụ về những mơ tưởng của con người khi nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô. Họ nghĩ họ có thể làm những phép lạ như thế, biểu hiện đủ loại phép lạ, đủ loại dấu hiệu và điều kỳ diệu. Đây là điểm cần kỷ luật tâm Ki-tô để nó có thể hòa điệu với thời đại và xã hội nó đang sống.
Như các thày đã nói trước đây, tâm thức tập thể vào thời Giê-su dày đặc đến độ Giê-su cần làm một số chuyện có vẻ như phép lạ để lôi kéo sự chú ý của con người. Giờ đây con có thể nhìn tất cả những phép lạ được mô tả trong kinh thánh theo nghĩa biểu tượng và thấy được ý nghĩa biểu tượng sâu xa đằng sau thay vì hiểu chúng theo nghĩa đen, nhưng đây là một câu chuyện mà chúng ta sẽ thảo luận một lúc khác. Điều thày muốn chỉ ra ở đây là vì nhiệt tâm muốn biểu hiện, tâm Ki-tô có thể biểu hiện một số điều không nhất thiết xây dựng trong một hoàn cảnh đặc thù.
Con cần phải kỷ luật tâm con bằng cách nhận ra con sẽ có những ngã trong tiềm thức muốn biểu hiện một chuyện gì không thể bác bỏ để con có thể chứng minh có cái gì vượt lên trên những gì con người tin. Điều này đặc biệt áp dụng cho các avatar vì con có một viễn quan nào đó, con có một mong muốn nào đó trước khi tới Trái đất mà con muốn thực hiện. Sau đó con gánh chịu chấn thương nhập đời, cảm thấy bị xua đuổi, con bắt đầu hoài nghi mình có thể hoàn tất ước muốn của mình. Khi con bắt đầu biết khái niệm quả vị Ki-tô và mở lòng đón nhận khả năng có thể có Ki-tô sinh ra trong con, thì con có thể dễ dàng chuyển động cơ này vào và nghĩ: “À, khi tôi đạt quả vị Ki-tô thì tôi có thể làm điều tôi muốn làm trước khi tới đây, tôi có thể biểu hiện điều mà họ không thể bác bỏ, họ không thể coi khinh.” Đây không phải là một biểu hiện quả vị Ki-tô thích đáng trong đa số trường hợp và do đó yếu tố cha cần can thiệp và kỷ luật em bé Ki-tô. Yếu tố cha trong bản thể của con là gì? Nó không phải là cái Ta Biết, nó là Hiện diện TA LÀ. Khi cái Ta Biết hòa điệu với Hiện diện TA LÀ, con có thể học cách biểu đạt quả vị Ki-tô một cách thận trọng hơn.
Giờ đây, như PadmaSambhava đã chỉ ra, một lần nữa có vẻ như các thày mâu thuẫn với nhau vì các thày đã từng nói, ngay cả trong kinh thánh, là Thánh linh thổi nơi nó muốn. Ý này hòa hợp thế nào với ý con phải hạn chế sự biểu hiện quả vị Ki-tô của con? À, thày không nói là tâm vỏ ngoài của con phải hạn chế biểu hiện quả vị Ki-tô của con. Thày nói Hiện diện TA LÀ của con làm việc này. Tâm vỏ ngoài sẽ hạn chế quả vị Ki-tô dựa trên nền văn hóa, ví dụ như nền văn hóa của quốc gia hay gia đình nơi con sống, và nền văn hóa này quy định cái gì là điều thích đáng. Hiện diện TA LÀ không bị các trói buộc này. Nó có viễn quan cao hơn về cách xây dựng nhất để biểu đạt quả vị Ki-tô.
5.4. Để cho tự ngã quy định quả vị Ki-tô
Điều này dẫn thày tới một đề tài mà không phải chỉ có thày sẽ bình luận trong hội nghị này. Đây là một đề tài mà một lần nữa, quả thực chỉ có Hiện diện TA LÀ mới giúp được con có viễn kiến về điều thày sắp nói tới. Con thấy ở đây, chúng ta hãy bước lùi lại và nhìn hoàn cảnh một người tìm ra giáo lý chân sư thăng thiên, nghe thấy khái niệm quả vị Ki-tô cá nhân và quyết định: “Tôi muốn biết thêm về đề tài này.” Hoàn cảnh một người tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên là gì? Hoàn cảnh của tất cả các con khi tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên là gì? À, con đã lớn lên trong một nền văn hóa nào đó, con có một tâm lý nào đó dựa trên các kiếp trước và kiếp này, con có một số ngã tiềm thức, những ngã này cùng nhau họp thành một tập hợp mà chúng ta gọi là tự ngã. Khuôn tư duy của con, cách con nhìn thế gian, cách con nhìn chính mình, toàn bộ cách con tiếp cận cuộc sống đều bị pha màu tới một mức nào đó bởi tự ngã.
Chúng ta có thể nói đây là bí ẩn chủ yếu trên con đường tâm linh. Nó là một thách đố cho con, nó là một thách đố cho các thày, các chân sư thăng thiên. Bởi vì khi con nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô, con vẫn còn bị tự ngã pha màu nhiều đến độ con sẽ pha màu tất cả những gì các thày nói về quả vị Ki-tô.
Các thày thấy hiện tượng này trong các tổ chức Phong trào TA LÀ (I AM Movement), Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse) và đợt truyền giáo này khi những học trò mới, và ngay cả những người đã đi khá lâu trên con đường tâm linh, nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô (hay trạng thái tâm thức cao hơn). Trong tâm họ, họ tạo ra một hình ảnh về ý nghĩa quả vị Ki-tô và hình ảnh này bị pha màu một mức nào đó bởi tự ngã, bởi các ngã tiềm thức. Một lần nữa, thày không nói những điều này để trách cứ con. Chuyện này không tránh được. Không thể có cách nào khác. Tất cả những người đã thăng thiên từ Trái đất đều trải qua tình trạng tương tự. Khi chúng tôi lần đầu tiên nghe tới các khái niệm này, thì trong tâm chúng tôi pha màu các ý tưởng, các khái niệm đó với các quan điểm, tầm nhìn của tự ngã.
Một lần nữa, yếu tố cha trong tâm con, Hiện diện TA LÀ, sẽ có thể gửi cho con những xung lực vi tế có thể giúp con thấy khi nào nỗ lực biểu đạt quả vị Ki-tô của con bị pha màu bởi tự ngã. Điều này có một số hệ quả mà các thày sẽ nói tới sau nhưng điều thày muốn tập trung ở đây là ý tưởng tự ngã sẽ luôn luôn nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô, uy lực của tâm Ki-tô sẽ có thể thực hiện những mong muốn của tự ngã.
5.5. Tìm cầu bất khả thi của tự ngã
Các con hãy lắng nghe điều thày sắp nói. Tự ngã có một số ham muốn. Tự ngã thấy những ham muốn của nó chưa được hoàn thành. Do đó tự ngã lúc nào cũng bực bội. Như các thày đã giải thích, những ham muốn sâu thẳm của tự ngã không thể nào hoàn thành. Tại sao thế? Bởi vì tự ngã, ít nhất trong biểu hiện thấp của nó, được sinh ra khi con bước xuống dưới tầng 48 của tâm thức, khi con bước vào ảo tưởng tách biệt, ngừng không thấy mình là môt sinh thể kết nối.
Đây là một mất mát bởi vì khi con thấy mình là một sinh thể kết nối thì con có cảm nhận con có thể hoàn thành tối hậu các mong muốn của con bằng cách gia tăng kết nối với Hiện diện TA LÀ. Mong muốn tối hậu của cái Ta Biết là hợp nhất với Hiện diện. Mãn nguyện tối hậu của cái Ta Biết là hợp nhất với Hiện diện. Khao khát tối hậu của cái Ta Biết là trở về hợp nhất với Hiện diện.
Khi con thấy mình là một sinh thể kết nối, thì con chưa cảm thấy hoàn toàn là một với Hiện diện, con chưa cảm thấy hoàn toàn mãn nguyện, nhưng con biết là nếu con gia tăng cảm nhận kết nối, gia tăng cảm nhận hợp nhất, thì con có thể càng ngày càng tiến gần hơn điểm thành tựu tối hậu của mọi ước muốn. Ngay lúc con bước vào tách biệt và tạo ra tự ngã, con không thể thỏa mãn ước muốn là một với Hiện diện qua tự ngã. Lẽ tất nhiên con có thể đạt điều này bằng cách trở về là một sinh thể kết nối, nhưng khi con còn nhìn mình qua pha màu của tự ngã, phin lọc nhận thức của tự ngã, thì con không thể nào thực hiện ước muốn tối hậu của con. Cho nên, ngay từ đầu cuộc tìm cầu của tự ngã không thể thực hiện, nhưng tự ngã lẽ tất nhiên sẽ không bao giờ có thể thấy điều này, không bao giờ. Nó còn không thể hiểu điều này bằng trí năng.
Tự ngã luôn luôn tìm cái gì đó có thể bù đắp cho sự thiếu nối kết cơ bản của nó với Hiện diện. Thoạt tiên, tự ngã tìm cái gì đó trong thế giới vật chật, cái gì đó trong vật chất có thể thỏa mãn con. Nếu con có đủ tiền, nếu con có đủ quyền lực, nếu con có đủ cái này, có đủ cái kia trong thế giới vật chất thì con sẽ toại nguyện.
Rất nhiều người, trải qua nhiều thời đại, đã đi tìm thỏa nguyện qua vật chất nhưng dù họ làm gì chăng nữa, họ không được thỏa nguyện. Các sa nhân đã qua nhiều bầu cõi tìm thỏa nguyện qua cái gì đó trong thế giới vật chất và họ đã không tìm ra. Một sinh thể có thể rốt cuộc tới điểm chán ngán sự tìm cầu bất khả thi đó. Y thấy tìm cầu này vô ích, thấy nó phù phiếm, vô nghĩa, trống rỗng. Lúc ấy, y có thể sẵn sàng mở tâm ra với một con đường tâm linh chỉ đến một cái gì vượt lên trên thế gian này.
Con thấy đấy, tự ngã vẫn tìm cách làm việc bất khả thi. Khi con nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô, tự ngã nghĩ gì? Nó nghĩ: “À! Quả vị Ki-tô là cách để làm được cái bất khả thi. Chắc chắn là tâm Ki-tô… Kìa! hãy nhìn những phép lạ của Giê-su! Chắc chắn khi tôi đạt quả vị Ki-tô, tôi có thể làm được cái bất khả thi.” Nhưng con không làm được. Thánh linh thổi nơi nó muốn, quả vị Ki-tô biểu hiện chính nó theo một viễn quan rộng lớn, không theo viễn quan của tự ngã.
5.6. Tầm nhìn của tự ngã về quả vị Ki-tô
Con thấy đấy, một trong những yếu tố chính có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô nơi bất cứ ai chính là việc con có trong tâm vỏ ngoài một ý tưởng nào đó, một viễn quan nào đó là khi con là Ki-tô, khi con đạt quả vị Ki-tô, con có thể làm phép lạ này, làm điều siêu nhiên kia, con có thể làm cái bất khả thi. Ngày nào con còn mang niềm tin này thì con có thể tới gần quả vị Ki-tô nhưng con sẽ không bao giờ vượt qua mức đến.
Con sẽ giống như người chạy một cuộc đua dài, một ma-ra-tông, y thấy mức tới nhưng y không nhận ra có sợi dây toòng teng sau lưng y buộc vào một cột gỗ. Ngay trước khi chạm mức đến, sợi dây đã kéo dãn đến mức tối đa. Người chạy đua vẫn tiếp tục chạy, hai chân giơ cao, hai cánh tay vung vẩy, buồng phổi hít thở và y nghĩ: “Tôi rất gần mức đến, tôi ngay sát mức đến,” nhưng y không nhận ra sợi dây không cho phép y tiến xa hơn.
Các thày đã thấy đệ tử chân sư thăng thiên, các thày đã thấy đệ tử tâm linh thuộc các truyền thống khác kẹt ở chỗ đó. Họ chạy đua, họ thực tập, họ đọc bài chú, họ làm điều này nọ, họ học hỏi và họ nghĩ: “Tại sao tôi chưa tới? Tại sao tôi chưa tới?” Bởi vì họ bị buộc vào tự ngã qua ham muốn đạt cái gì tối hậu.
Mẹ Mary đã giải thích tận tường điều gì? Con không thể xoay chuyển tức khắc từ không là Ki-tô sang là Ki-tô. Đây là một tiến trình đòi hỏi nhiều bước tuần tự nhưng tự ngã thì không có thời gian bước tuần tự. Nó muốn quả vị Ki-tô ngay bây giờ, nó muốn toại nguyện tối hậu ngay bây giờ và cách nhìn đó có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô của con nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác. Lẽ tất nhiên có những yếu tố khác nhưng yếu tố này có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô của con nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác.
Cho nên, con cần bỏ thời giờ để quán chiếu điều này. Con hãy hỏi bất kỳ vị chân sư nào con cảm thấy gần gũi với con, xin thày giúp con thấy những yếu tố nào trong tâm con, trong tiềm thức con, trong bốn tầng của tâm con vẫn còn giấc mơ biểu hiện điều gì tối hậu. Một điều không thể bác bỏ, một điều mà con người ở đây trên Trái đất không thể bác bỏ và rốt cuộc họ sẽ lắng nghe con, họ sẽ công nhận con và họ sẽ nhìn con như một vị cứu tinh, như vị cứu thế mà con ao ước mình là trước khi con tới đây. Đây là điều mà tất cả chúng ta đều ao ước trước khi tới Trái đất, bởi vì tất cả chúng ta đều có một viễn kiến nào đó về điều chúng ta muốn hoàn thành trên Trái đất, bằng không chúng ta đâu đã tới đây, không một ai trong chúng ta đã tới đây.
Con thấy chăng, viễn kiến đó vẫn có thể có giá trị nhưng khi nó bị pha màu bởi tự ngã thì nó mất giá trị. Nó trở thành sợi dây kềm con lại không cho con vượt qua mức đến. Lẽ tất nhiên, không có mức đến vì như Mẹ Mary đã giảng, quả vị Ki-tô là một tiến trình liên tục không bao giờ dứt.
Khi nào thì con hoàn toàn là Ki-tô? Ngày nào con còn trên Trái đất thì chuyện đó sẽ không xảy ra. Ngay cả ngay lúc con thăng thiên con vẫn chưa hoàn toàn là Ki-tô. Khi con đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo, chúng ta có thể nói tới thế nào là Ki-tô toàn vẹn. Nhưng chuyện này còn xa xăm lắm với tất cả chúng ta, kể cả thày là một chân sư thăng thiên đang làm việc với Trái đất.
5.7. Giấc mơ đạt cái tối hậu
Con thấy đấy, con cần phải buông bỏ giấc mơ đạt cái gì đó tối hậu, để con muốn là Ki-tô từng bước một. Con biểu đạt quả vị Ki-tô từng bước một. Ngay cả một biểu đạt quả vị Ki-tô nhỏ nhất cũng quan trọng vì nó giúp con trải nghiệm tâm Ki-tô có thể chảy qua con và con có thêm tin tưởng tâm Ki-tô có thể biểu đạt qua con và sẽ biểu đạt chính nó qua con.
Chuyện đó cũng giúp con nhận ra tâm Ki-tô chỉ có thể biểu đạt chính nó qua con khi tự ngã của con không tìm cách kiểm soát Ki-tô, không ép uổng nó vào một hình tướng nào đó. Bởi vì nếu tâm Ki-tô biểu đạt chính nó qua hình ảnh mà tự ngã của con cầm giữ, thì tâm Ki-tô sẽ chứng nhận hình ảnh đó. Cái Ta Biết sẽ nghĩ cái nhìn của tự ngã về Ki-tô là cái nhìn tối hậu về Ki-tô và lẽ tất nhiên điều này có thể trở thành một khối đá khác buộc nặng vào cổ con.
Vì tự ngã sẽ không bao giờ nắm bắt được Ki-tô là gì. Thậm chí nó còn không hiểu được bằng trí năng bởi vì các thày đã nói gì nhiều lần? Ki-tô luôn luôn là hơn nữa. Ki-tô biểu hiện cái hơn nữa trong mỗi tình huống nhưng nó không phải là cái tối hậu, nó chỉ hơn một chút xíu và điều này giúp con người thấy được có nhiều điều mà họ có thể hiểu hơn, có thể nắm bắt hơn so với những gì họ đang hiểu ngay bây giờ. Ki-tô dẫn họ lên một bước cao hơn. Đó là Ki-tô.
Một lần nữa con thấy là giấc mơ biểu đạt Ki-tô tối hậu có thể phá hoại ngay cả một biểu đạt Ki-tô nhỏ nhất, do đó giấc mơ sẽ khiến con không bao giờ bắt đầu. Lẽ dĩ nhiên đây là mục tiêu lớn của tự ngã. Khi con nghe thấy con đường quả vị Ki-tô, tự ngã muốn con không bao giờ bắt đầu theo con đường đó. Nó muốn con theo con đường giả bắt Ki-tô chiều theo viễn kiến của tự ngã nhưng Ki-tô sẽ không bao giờ chiều theo. Cho nên, lúc ấy con làm gì? Con người làm gì khi họ đi con đường giả, con đường cánh tả? Họ dùng tự ngã để dựng một thần tượng về Ki-tô, quy định Ki-tô là gì và họ tìm cách sống theo thần tượng đó, khép mình theo thần tượng đó.
Có những ví dụ những người đạt được một số khả năng khuynh loát người khác, khuynh loát tâm, thậm chí điều khiển vật chất bằng cách đi theo con đường cánh tả. Đây không phải con đường mà các thày muốn giúp con đi. Các thày tìm cách giúp con đi con đường chân chính thật sự dẫn con tới quả vị Ki-tô.
5.8. Con đường chân chính tới quả vị Ki-tô
Cái gì có thể hướng dẫn con đi theo con đường chân chính? Đó là yếu tố cha trong bản thể con. Yếu tố cha là Hiện diện TA LÀ của con, nhưng cũng là tất cả các chân sư thăng thiên, những vị gần con nhất. Một nữ chân sư thăng thiên có thể đại diện cho yếu tố cha trong bản thể con nếu con sẵn lòng xin được hướng dẫn.
Chưa bao giờ có ai thăng thiên từ Trái đất bằng một bước nhảy vĩ đại, hay không có sự trợ giúp từ bên trên. Đây là toàn bộ ý tưởng về Ki-tô. Con hãy cẩn thận lắng nghe chỗ này. Một khi con đi vào tách biệt và nhị nguyên, con không thể tự mình thoát ra. Tâm con có thể lý luận để đi vào nhị nguyên và tách biệt. Nó không thể lý luận để thoát ra.
Chỉ có một con đường thoát duy nhất, đó là kết nối lại với tâm Ki-tô. Con không thể kết nối với tâm Ki-tô hoàn vũ, con chỉ có thể kết nối với một biểu hiện cá nhân của tâm Ki-tô, là một chân sư thăng thiên. Đấy là vai trò của các thày, vai trò mà các thày đã chọn. Đấy là vai trò các thày được giao phó. Các thày hoan hỉ hướng dẫn con nhưng các thày tôn trọng quyền tự quyết của con. Do đó, con phải hỏi, con phải hỏi với tâm cởi mở và càng trung hòa càng tốt.
Biết bao nhiêu đệ tử đã đến xin thày hướng dẫn nhưng họ nói trong tiềm thức: “Ôi Saint Germain, xin thày chứng nhận tự ngã của con! Con quả thực cảm thấy nếu thày chứng nhận tự ngã của con, đấy sẽ là chứng nhận cao nhất mà tự ngã của con có thể có được và con sẽ cảm thấy rất đỗi dũng mãnh và sung sướng.” Lẽ tất nhiên, thày không thể cho con điều con xin như thế vì làm như vậy sẽ giam con nặng hơn trong các ảo tưởng của tự ngã.
Đó là lý do tại sao yếu tố cha đôi khi phải phát mông em bé, nói một cách biểu tượng, phải mạnh tay kéo em bé ra khỏi niềm tin là nó đã hiểu hết mọi chuyện. Con có thể nghĩ, và nhiều người cũng nghĩ thế trải qua nhiều thời đại, là con đã hiểu hết mọi chuyện, nhưng họ chỉ làm được một chuyện là ngăn họ bước vào vương quốc Thượng đế. Bởi vì vương quốc Thượng đế ở đâu? Bên trong con. Không phải bên trong thể vật lý của con, không phải bên trong thể tình cảm của con, không phải bên trong thể lý trí của con, không phải bên trong thể bản sắc của con. Nó ở bên trong Con, bên trong cái Ta Biết. Cái gì ở bên trong cái Ta Biết? Hiện diện TA LÀ.
Tới đây thì thày đã cho con những gì thày muốn cho con, ngay cả nhiều hơn một chút. Thày cảm ơn các con đã chú ý, đã cho phép thày là vị cha như thày đã là cha cho Giê-su và như thày đã là cha cho Ki-tô sinh ra trong chính thày – hay ít ra Hiện diện TA LÀ của thày đã là cha. Tới đây, thày niêm con trong niềm vui của tim thày.