35 | Quả vị Ki-tô là đi vào cộng hưởng

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Phật Gautama. Nếu các tín đồ Cơ đốc giáo trên thế gian này nghe câu này thì họ sẽ nói: “Phật dính dáng gì tới Ki-tô và con đường quả vị Ki-tô?” À, chúng ta sẽ thấy, phải không các con? Con đường quả vị Ki-tô và Bát chánh đạo khác nhau thế nào? Bây giờ thày sẽ nói cho các con nghe.

[Im lặng]

Đúng, chẳng có khác biệt gì cả. Chỉ khác hình tướng bên ngoài. Hình tướng bên ngoài quan trọng hay kết quả cuối cùng quan trọng? À, bây giờ chúng ta thấy sự phân chia giữa những ai đã thăng thiên và những ai chưa thăng thiên. Những ai chưa thăng thiên dính mắc vào hình tướng bên ngoài. Những ai đã thăng thiên đã vượt quá dính mắc đó và nhận ra chỉ có kết quả cuối cùng là quan trọng.

35.1. Lời dối trá chủ yếu của rắn

Những người dính mắc vào hình tướng vỏ ngoài của giáo lý, dù họ là Phật tử, tín đồ Cơ đốc, tín đồ Ấn giáo, tín đồ Hồi giáo hay tôn giáo này tôn giáo kia, họ tin gì? Họ tin lời dối trá của rắn rằng một giáo lý có một hình tướng đặc thù trên Trái đất có thể dẫn họ lên thiên đàng và chỉ có giáo lý duy nhất đó có thể đưa con người lên thiên đàng. Đây là một lời dối trá, thậm chí còn không là một lời dối trá khôn khéo. Nó chỉ có vẻ thật đối với tự ngã mà thôi, tự ngã đang tìm cách đảm bảo sự cứu rỗi của nó bằng cách dùng những thứ của thế gian.

Con đường quả vị Ki-tô, con đường quả vị Phật, con đường dẫn tới bất kỳ nhận biết cao hơn nào, con đường vượt quá Trái đất, các con đường này là gì? Đó là thăng vượt tất cả các hình tướng trên Trái đất để con nối kết lại với sự thật là con không đến từ Trái đất. Con không là sản phẩm của Trái đất. Con là một sinh thể tâm linh đi xuống Trái đất và mang vào hình tướng của thân vật lý của con, bốn thể phàm của con. Con đã không trở thành tấm áo vỏ ngoài đó. Chính vì con đã không trở thành hình tướng nên con có thể thoát khỏi hình tướng. Nếu con đã không trở thành hình tướng mà con đã khoác vào ở đây trên Trái đất, và nếu cách duy nhất để con đi vào cõi cao hơn là con thăng vượt hình tướng trên Trái đất, thì có lý chăng là hình tướng mà con có trên Trái đất cần một giáo lý vỏ ngoài có một hình tướng đặc thù để con có thể thoát khỏi hình tướng?

Con thấy đó, con đang tìm cách thoát khỏi hình tướng của bốn thể phàm của con bằng cách dùng một hình tướng khác trong bốn tầng của vũ trụ vật chất. Con không thấy chăng là điều này sẽ không bao giờ thành công? Lẽ dĩ nhiên thày đang nói vào tâm thức tập thể. Giờ đây, con có thể nói: “Ấy, thày nói điều này vào tâm thức tập thể có phải là vô bổ không, vì thày luôn luôn nói tâm thức tập thể rất thấp?” Đúng, đấy là sự cám dỗ mà thày phải đối mặt khi thày nhập Niết bàn và quyết định trở về Trái đất để giáo huấn: “Thày đã đạt một tầng tâm thức cao tới độ không ai trên Trái đất có thể hiểu.” Câu trả lời của thày lúc đó là: “Sẽ có một số người hiểu,” hay đúng hơn sẽ có một số người cộng hưởng với giáo lý của thày.

35.2. Tâm thức Ki-tô có hình tướng không?

Tâm thức Ki-tô là gì? Tâm thức Ki-tô thực sự là gì? Các thày đã giải thích gì ở đây? Khi lần đầu tiên con người nghe tới khái niệm tâm thức Ki-tô thì họ phóng chiếu lên đó những hình ảnh dựa trên những gì họ thấy trên Trái đất, dựa trên chính tự ngã của họ và sự pha màu và những giáo lý giả mà họ tin. Họ đang làm gì khi họ phóng chiếu những hình ảnh này lên tâm thức Ki-tô? Họ phóng chiếu một hình tướng lên tâm thức Ki-tô. Tâm thức Ki-tô có hình tướng chăng? Phật Tánh có hình tướng chăng? Không đâu. Phải, mọi hình tướng được làm ra từ tâm thức Ki-tô hay từ Phật Tánh, nhưng chính tâm thức Ki-tô có hình tướng chăng? Không. Nó vượt quá hình tướng – và đó là lý do tại sao nó là cái duy nhất có thể dẫn con vượt quá hình tướng.

Giờ đây do cơ chế vận hành của vũ trụ vật chất, tâm thức Ki-tô không thể biểu hiện dưới dạng thuần khiết của nó trên một hành tinh phi tự nhiên như Trái đất. Quả thực là nó không thể biểu hiện được dưới dạng thuần khiết của nó ở bất cứ đâu. Nó phải được cá nhân hóa. Nó phải khoác vào hình tướng. Đó là cốt lõi của ý tưởng về sự hiện thân của Ki-tô. Điều này có nghĩa là nếu Ki-tô không hiện thân, thì những người bị kẹt trong nhị nguyên và tách biệt sẽ không có cơ hội thấy rằng con người có thể thăng vượt tâm thức tách biệt, tâm thức chết, tâm thức nhị nguyên.

Việc Ki-tô hiện thân, việc Phật hiện thân là để cống hiến cơ hội đó. Hầu hết con người không sẵn lòng thay đổi và do đó, họ sẽ làm gì? À, họ có thể theo một tôn giáo hay phong trào dựa trên một hiện thân thật, nhưng họ lại chú tâm vào hình tướng bên ngoài thay vì thấy được là hình tướng bên ngoài không quan trọng. Chính cái bên trong được biểu lộ qua hình tướng bên ngoài mới quan trọng. Con đường dẫn tới thăng vượt, tới sự sống, sự sống trường cửu là phải nhìn vượt quá hình tướng. Hãy nhìn cái bên trong được biểu lộ, cái vô hình tướng được biểu lộ qua hình tướng và hãy đi theo cái vô hình tướng đó để tới tâm thức Ki-tô, hay Phật tánh, hay bất cứ chữ nào con muốn dùng để gọi nó.

35.3. Diễn giải hình tướng bên ngoài của giáo lý

Thay vào đó, những người không sẵn lòng thăng vượt chính họ, họ tập trung vào hình tướng bên ngoài. Giờ đây, họ bắt đầu diễn giải giáo lý. Chao ôi, ho có bao nhiêu cách để diễn giải giáo lý! Giê-su đã thách thức các thày thông giáo và Pha-si-si. Thày đã gặp những người Bà là môn Ấn giáo – và chao ôi, họ có bao nhiêu cách để diễn giải! Giờ đây, con nhìn xem chuyện gì đã xảy ra cho Phật giáo, đã chia ra thành nhiều tông phái khác nhau. Tại sao thế? Vì họ diễn giải và diễn giải và diễn giải, họ tranh cãi bất tận về chữ này hay chữ kia. Có phải chữ đó nghĩa là thế này? Hay nó nghĩa là thế kia? Phật muốn nói gì khi chối bỏ là có một ngã trường tồn? Có phải ý Phật là không có ngã? Và vân vân và vân vân.

Con có thể nói: “Ấy, đó chỉ là trò chơi mà con người chơi trên Trái đất để trì hoãn cái ngày mà họ phải chọn lựa giữa thăng vượt hình tướng hay chết vĩnh viễn.” Tuy nhiên, con người có hiểu chăng họ đang làm gì khi chơi trò chơi này? Không đâu, vì trò chơi chính nó che mờ thực tại là không có sự sống bên ngoài tâm thức Ki-tô. Trò chơi muốn ta nghĩ nó có thể tiếp tục vô tận, nhưng không phải vậy đâu. Tự ngã, sa nhân có ngày hết hạn, hạn kỳ này có thể được kéo dài qua quyền tự quyết của con người nhưng nó không thể kéo dài mãi mãi. Họ có thể có bao nhiêu kiếp hiện thân trên Trái đất trước khi cơ hội hết hạn? À, đây là một câu hỏi không có giải đáp nhất định, nhưng con đừng nghĩ đó là con số vô tận.

35.4. Mục đích của việc Ki-tô hiện thân

Mục đích của việc Ki-tô hiện thân là gì? Phải chăng là khi thày sinh ra, thày đã ở trong một trạng thái tâm thức cao hơn rồi, thày đã ở trong tâm thức Phật rồi? Phải chăng là khi Giê-su sinh ra, thày đã ở trong tâm thức Ki-tô rồi? Như các thày đã giải thích nhiều lần, không phải như thế. Thày và Giê-su đều phải theo một tiến trình tu tập. Do đó, hiện thân của Ki-tô và hiện thân của Phật có ý nghĩa gì? Đó là một con người, hay đúng hơn một sinh thể tâm linh trong một thân thể con người, đạt tới mức tâm thức hội đủ điều kiện để Ki-tô có thể bắt đầu biểu hiện qua hình tướng bên ngoài đó. Khi con vượt qua sáng ngộ ở tầng 96, thì con trở nên hiện thân của Ki-tô. Con chưa có Ki-tô trọn vẹn nhưng con trở nên hiện thân.

Nói cách khác, hiện thân của Ki-tô không phải là một trạng thái mà con đã là trước khi con đầu thai. Đó là trạng thái mà con đạt được bằng cách nâng cao tâm thức của con. Mục đích của sự hiện thân đó là gì? À, lẽ dĩ nhiên, mục đích là cho con người một chọn lựa mà họ không có nếu họ không thấy được là một con người đang hiện thân có khả năng đạt được một tầng tâm thức có bản chất cao hơn tầng tâm thức mà họ đang có. Nếu họ không được thấy có cái gọi là tâm thức Ki-tô hay Phật tánh, thì họ đâu có chọn lựa, phải không con?

Để quyền tự quyết trải bày toàn vẹn thì con người phải được phép đi vào nhị nguyên. Như các thày đã giải thích, hậu quả của việc đi vào nhị nguyên là có một chiếc đồng hồ bắt đầu đếm giờ. Tới một điểm nào đó, chiếc đồng hồ sẽ báo là thời hạn chấm dứt. Trước khi đồng hồ báo thời hạn chấm dứt, thì con người phải được cơ hội thấy khả năng thoát khỏi trạng thái tâm thức tách biệt. Họ chỉ nhận được cơ hội đó khi gặp một sinh thể đã trở nên hiện thân Ki-tô, và qua đó chứng minh một trạng thái tâm thức cao hơn. Có thể nói đây là khía cạnh alpha của hiện thân Ki-tô.

Vậy thì khía cạnh omega của hiện thân Ki-tô là gì? À, đó là Ki-tô Hằng sống đi giáo huấn. Giáo huấn lẽ dĩ nhiên là một từ, như nhiều thày khác đã đề cập, đã bị con người trên Trái đất và các thày giả bóp méo. Bởi vì quả thực Ki-tô không tìm cách trao truyền một giáo lý vỏ ngoài sẽ thức tỉnh con người một cách tự động và máy móc. Đúng hơn là Ki-tô tìm cách trao một giáo lý hằng sống, và trải qua các thời đại ít người đã nhận ra điều này.

35.5. Ki-tô trao một giáo lý hằng sống

Con thấy đó, khi 2.500 năm trước đây thày ngồi trong thế kiết già – mà người sứ giả này không ngồi được – thày trao một giáo lý hằng sống. Thày dùng chữ để nói, đúng, nhưng các chữ này được thấm đẫm bởi dòng chảy của Tánh linh, dòng chảy của Phật Tánh, dòng chảy của tâm Ki-tô – giống như những chữ mà người sứ giả đang nói được thấm đẫm bởi Tánh linh hằng sống của thày. Sau đó, sau khi thày rời thân vật lý, những tông đồ mà thày thu hút đã tạo ra giáo lý khẩu truyền bằng cách học thuộc các chữ của thày.

Lẽ tất nhiên sau này, các chữ này được viết ra, được dịch sang nhiều ngôn ngữ. Các chữ này không phải là lời hằng sống. Chúng không nhất thiết là chữ chết, vì con có thể lấy một giáo lý được viết thành văn và con nghiên cứu nó và con có thể dùng giáo lý vỏ ngoài để tìm cách kết nối với sinh thể tâm linh đằng sau giáo lý, sinh thể đã trao truyền giáo lý. Nhờ vậy, con có thể cảm thấy dòng chảy của Tánh linh khi học hỏi một giáo lý vỏ ngoài.

Con người rất dễ không làm như thế và thay vào đó họ chú tâm vào giáo lý vỏ ngoài, nghĩ rằng nếu họ hiểu giáo lý bằng trí năng, hay học thuộc lòng giáo lý, hay tìm ra một diễn giải mà họ nghĩ đó là ý của sinh thể hằng sống khi vị ấy trao truyền giáo lý, thì như vậy họ đã làm đủ. Lúc ấy, giáo lý vỏ ngoài trở thành phương tiện cho sự cứu rỗi của họ, sự giác ngộ của họ. Con chỉ cần học giáo lý của Phật đủ lâu và làm một số thực tập đủ lâu, thì con sẽ giác ngộ. Có thể không trong kiếp này, nhưng chắc chắn sau kiếp này. Cách tu này không bao giờ thành công được. Như các thày đã nói, không có con đường tâm linh bảo đảm thành công.

Chỉ khi nào con nhìn quá hình tướng của giáo lý vỏ ngoài và nối kết với Tánh linh Hằng sống của sinh thể đã trao truyền giáo lý, thì giáo lý đó mới dẫn con tới giác ngộ hay quả vị Ki-tô. Không hình tướng nào có thể giúp con thăng vượt hình tướng. Chỉ có Tánh linh mới có thể giúp con thăng vượt hình tướng. Tuy thế, với những người trong các con đã đạt được các tầng quả vị Ki-tô bắt đầu ở tầng 96 và cao hơn (với một số các con, không phải là tất cả các con nhưng một số các con), giảng dạy là một phần của Sứ vụ Thiêng liêng của con. À, có thể nói là tất cả các con đều có phần giảng dạy trong Sứ vụ Thiêng liêng của mình, nhưng giảng dạy không nhất thiết là giảng dạy theo nghĩa thông thường.

35.6. Sứ mệnh giảng dạy

Với một số các con, các con sẽ giảng dạy trong đời sống hàng ngày khi con tương tác với người khác trong những hoàn cảnh bình thường: tương tác với trẻ thơ, gia đình, người làm cùng sở, hay bất cứ ai khác. Đôi khi con sẽ có linh hứng nói một điều được thấm đẫm bởi Tánh linh Hằng sống. Đấy là giảng dạy dù con không giảng dạy họ một cách chính thức, dù con không đề cập tới giáo lý chân sư thăng thiên, thậm chí dù con không có ý định giảng dạy bất cứ gì. Khi có dòng chảy thì con đang dạy. Một số khác sẽ có trong Sứ vụ Thiêng liêng của họ công việc giảng dạy một cách bình thường hơn, chính thức hơn. Lúc ấy họ xuất hiện trong vai trò người giảng dạy và trình bày một giáo lý cho người khác dưới bất cứ dạng nào.

Giờ đây, trải qua các thời đại, các thày đã thấy nhiều đệ tử chân sư thăng thiên tìm được giáo lý, rồi họ nhận ra giảng dạy có thể là một phần của Sứ vụ Thiêng liêng của họ và sau đó tâm vỏ ngoài của họ ép họ bắt đầu giảng dạy. Có thể nói đó là một gánh nặng, một chiếc gông họ đeo vào cổ. Cho nên thày khuyến khích con nhìn vào chính mình. Con hãy nhìn phản ứng của con trước ý tưởng con có thể giảng dạy. Con hãy coi xem tâm vỏ ngoài có nhìn chuyện này rất hệ trọng không. Con hãy coi xem tâm vỏ ngoài có nhìn việc giảng dạy một cách cuồng đại không. Con hãy coi xem tâm vỏ ngoài có cảm nhận là con có thể thành công hay thất bại không.  

Nếu con cảm thấy như thế, thày cho phép con quyết định trì hoãn việc giảng dạy. Con không tìm cách giảng dạy từ tâm vỏ ngoài. Thay vào đó, con hãy dùng những dụng cụ để khám phá và phơi bày những ngã tiềm thức mà con có liên quan đến việc giảng dạy. Chỉ những ngã này mới khiến con rất nghiêm trọng về việc giảng dạy, cảm thấy ám ảnh-cưỡng chế về giảng dạy, cảm thấy đây là một chuyện mà con phải làm.

Người sứ giả này có những ngã như thế và ông đã bỏ ra một số năm để xem xét chúng, và dần dần buông bỏ chúng. Một vài năm trước đây, ông bắt đầu làm video trên YouTube vì ông cảm thấy ông phải làm chuyện đó. Ông tới điểm cảm thấy không muốn biểu hiện mình như vậy. Ông để nó qua bên, nghĩ rằng đây chỉ là một thời gian nghỉ ngắn. Rồi nhiều năm trôi qua và cho dù thỉnh thoảng ông có ý nghĩ làm video trở lại, nhưng ông không bao giờ đủ quyết tâm để làm điều đó. Rồi hai năm trước đây, ông cảm thấy từ bên trong: “À, bây giờ tới lúc tôi xuất hiện ra bên ngoài.” Ông làm điều này, và con thấy bây giờ ông thoải mái hơn nhiều. Ngay cả chỉ trong hai năm đó, ông đã trở nên thoải mái hơn, trong suốt hơn. Đó là vì ông đã làm việc với tâm lý mình cho tới khi ông không quyết định giảng dạy với tâm vỏ ngoài. Quyết định đơn giản phát xuất từ bên trong.

Thày cho phép con trải qua tiến trình này theo ý con. Nếu con cảm thấy lo âu về chuyện giảng dạy thì con hãy quyết định trì hoãn nó. Con hãy làm việc trên tâm lý mình. Con hãy cố gắng vươn lên cao hơn trong quả vị Ki-tô. Thậm chí con có thể nói, hãy để quyết định đến tự nhiên, tự phát từ bên trong. Giờ đây, khi nói điều này, thày không có ý nói con cần ngưng dòng chảy của Tánh linh chảy qua con. Bởi vì, một lần nữa, cho dù con quyết định không giảng dạy một cách chính quy, con vẫn gặp người khác trong nhiều hoàn cảnh của đời sống hàng ngày và lúc đó có điều gì đó bắt đầu tuôn chảy qua con. Thày không nói là khi con cảm được dòng chảy đó, con phải nói: “Ồ không đâu, tôi đang không giảng dạy. Phật Gautama nói tôi không phải giảng dạy. Hãy để tôi yên.” Điều thày muốn nói là khi con cảm được dòng chảy đó, con biểu lộ nó một cách tự nhiên. Bởi vì đấy không phải là tâm vỏ ngoài quyết định con phải giảng dạy. Đấy chỉ là dòng chảy.

35.7. Giảng dạy như một dòng chảy

Con luôn luôn cho phép dòng chảy chảy và con không tìm cách ép nó. Con thấy đó, con không tìm cách ép dòng chảy vào sự giảng dạy chính quy nhưng con không tìm cách ép dòng chảy không được chảy. Con cho phép nó chảy. Nếu con làm được điều này, nếu con gỡ bỏ được sự cưỡng chế phải giảng dạy hay sự sợ hãi giảng dạy, thì sẽ tới một điểm đối với nhiều người trong các con (không phải tất cả các con nhưng nhiều người trong các con) sự giảng dạy đơn giản sẽ bắt đầu tuôn chảy. Con sẽ cảm thấy có gì đó muốn được biểu hiện qua con. Lúc đó, con thấy con sẽ giảng dạy như thế nào, mỗi người mỗi khác (dựa trên quá trình lớn lên của con, việc làm của con, sự nghiệp của con, quá trình giáo dục của con). Một lần nữa, điều này không có nghĩa là con cần dạy giáo lý chân sư thăng thiên hay ngay cả một giáo lý tâm linh.

Nếu, tỷ dụ, con ở trong môi trường kinh doanh thì con có thể dùng một số ý tưởng chung chung mà các thày nói tới liên quan tới tâm lý và áp dụng chúng vào nhiều khía cạnh khác nhau của thế giới kinh doanh. Giống như một số người đã bắt đầu làm, họ có sẵn nền tảng về việc huấn luyện và họ viết sách và mở lớp về các đề tài này. Có nhiều cơ hội mở ra cho các con.

Có thể là các thày cần nói: “Điều gì khiến nhiều đệ tử lo sợ chuyện giảng dạy?” Ấy, đó là vì họ đưa vào tâm họ ý tưởng là giờ đây họ đã tìm được giáo lý chân sư thăng thiên, thì họ cần truyền bá giáo lý này cho mọi người họ gặp. Các thày đã nói con không cần làm như vậy. Các thày đã nói điều này nhiều, nhiều lần. Tùy theo quá trình xuất thân của con, có thể con không cần giảng dạy bất kỳ điều gì tâm linh.

Con có thể không nói gì cả về chân sư thăng thiên cho dù con theo học giáo lý các thày. Nếu con là một kỹ sư giảng dạy ngành kỹ sư tại một đại học, có thể là con không có cơ hội thực tế để nói về các đề tài tâm linh. Tuy thế con có thể tới điểm khi con dạy môn kỹ sư, thì lời dạy của con được thấm đẫm bởi dòng chảy của Tánh linh tuôn chảy qua con. Con có thể dùng cùng những chữ con đã dùng nhiều năm trước đây, nhưng có cái gì đó tuôn chảy qua con thấm đẫm các chữ này. Nó có thể tạo cảm hứng cho các học trò của con và một số người sẽ nhận dòng chảy này, tự hỏi nó từ đâu tới và nó có thể đánh thức điều gì đó trong họ. Lẽ tất nhiên, điều này áp dụng vào mọi ngành, mọi lãnh vực trong xã hội: giáo dục, điều dưỡng, y khoa, bất kỳ lãnh vực nào, chính trị, kinh tế.

35.8. Dòng chảy của sự giảng dạy tự thân nó là kết quả

Khi con trở nên trung hòa, khi con trở thành cánh cửa mở, thì Tánh linh có thể được biểu lộ trong bất kỳ lãnh vực nào của sinh họat con người. À, không hẳn là mọi lãnh vực nhưng nhiều lãnh vực. Khi con tới điểm (mà các chân sư khác đã nói tới) con trở nên trung hòa, con trở nên trong suốt, thì con không giảng dạy với mục đích tạo một thay đổi đặc thù nơi người học trò hay trong xã hội. Quả thực con không giảng dạy theo cách con người thường xem việc giảng dạy. Con chỉ biểu lộ, cho phép Tánh linh tuôn chảy qua con và dòng chảy tự thân nó là kết quả. Con hãy nghe thày: Dòng chảy tự thân nó là kết quả! Tác dụng bên ngoài không quan trọng với con ở tầng mức này. Khi dòng chảy có mặt, khi nó được biểu hiện, thì công việc đã hoàn tất.

Thành quả của việc giảng dạy hay biểu hiện không phải là bất kỳ kết quả bên ngoài nào, bất kỳ thay đổi nào nơi người khác hay xã hội. Thành quả của việc biểu hiện là chính sự biểu hiện, là dòng chảy. Khi con xác nhận điều này, khi con nhận ra điều này, khi con làm việc với những ngã cực lực muốn con tin là con phải đạt được thành quả nào đó, thì lúc đó con sẽ trải nghiệm là dòng chảy tự thân nó là phần thưởng. Phần thưởng của việc giảng dạy là con đã giảng dạy. Phần thưởng của giảng dạy không phải là người khác đón nhận lời giảng. Đây không phải là trách nhiệm của người thày khi người thày mở tâm với dòng chảy của Tánh linh.

Khi con để cho Tánh linh biểu hiện chính nó qua con, con không cần lượng định, xét đoán hay phân tích hình tướng mà Tánh linh dùng. Con không phải là người làm. Tại sao con cần lượng định cách con hoàn thành công việc? Con có thể lượng định: “Tôi có mở đủ cánh cửa của tôi chưa? Tôi có phản ứng gì chăng? Tôi có ngã tiềm thức nào chăng?” Con có thể lượng định: “Tôi có biết đủ đề tài này chăng? Tôi có cần học thêm để có thể là dụng cụ tốt hơn cho Tánh linh chăng?” Người khác có đón nhận lời dạy hay không, người khác có thay đổi nhờ lời dạy hay không, con không cần lượng định các điều này. Các việc này tùy thuộc quyền tự quyết của họ. Con chỉ cần biết: Một số người sẽ hiểu, một số người sẽ cộng hưởng. 

Tại sao thày nói khía cạnh quan trọng của giảng dạy không là hình tướng mà là sự biểu hiện của Tánh linh? À, như thày đã nói trước đây: Tâm thức Ki-tô là gì? Phật tánh là gì? Nó vô hình tướng theo nghĩa nó không có bất cứ hình tướng nào có thể nhận ra được trên Trái đất. Nó vẫn có năng lượng, rung động, cộng hưởng. Khi nó được cho phép biểu hiện, thì con người được cho cơ hội hòa điệu với nó để họ cộng hưởng với Tánh linh. Cái gì chuyển hóa con người nhiều hơn từ ngữ vỏ ngoài? Đó là khi họ cộng hưởng với Tánh linh.

35.9. Cộng hưởng với tâm thức Ki-tô

Điều gì sẽ tối hậu giúp con đạt được tâm thức Ki-tô, cho con khả năng và sức mạnh để đạt tâm thức Ki-tô? Con, cái Ta Biết, cần cộng hưởng với một chân sư thăng thiên đã là một với tâm thức Ki-tô. Là một với vị thày, là một với một chân sư thăng thiên nghĩa là gì? Nó nghĩa là con cộng hưởng với vị thày đó cho tới khi con cộng hưởng với sự rung động, tâm thức, bản thể của vị thày. Đây quả thực là mục tiêu cao nhất của một đệ tử chân sư thăng thiên: cộng hưởng với vị thày. Thày đã cho con cơ hội cộng hưởng với thày. Con đừng trách mình nếu con chưa cảm thấy được điều này. Con tiếp tục đi trên con đường tâm linh và sẽ có một ngày con có thể nghe một bài truyền đọc và con cảm thấy con cộng hưởng. Con cũng có thể đột nhiên cảm thấy con cộng hưởng trong khi đang làm một sinh hoạt thường ngày.

Kết quả tối hậu, kết quả cuối cùng của bầu cõi của con, bầu cõi chưa thăng thiên này là gì? Điều gì sẽ khiến một bầu cõi thăng thiên? Đó là khi đại đa số các sinh thể trong bầu cõi cộng hưởng với các chân sư thăng thiên đã sinh tạo bầu cõi và do đó là đại diện cho tâm thức Ki-tô cho bầu cõi đó. Đấy là ý nghĩa của câu “Trên sao dưới vậy.” Có sự cộng hưởng giữa Trên và dưới. Khi ấy bầu cõi thăng thiên. Một hành tinh cũng thế. Đa số những sinh thể trên một hành tinh đi vào cộng hưởng, và khi ấy hành tinh thăng thiên. Cá nhân con đi vào cộng hưởng và con có thể thăng thiên. Với lời này thày đã cho con cơ hội cộng hưởng với thày. Đây là điều thày muốn cho con.

Tất cả các thày cám ơn các con đã cung cấp diễn đàn này qua việc thực tiễn tổ chức hội nghị, và qua việc cac con hiện diện ở đây và sẵn lòng là cánh cửa mở. Chúng ta đã cùng nhau tạo một khuôn đúc mạnh mẽ hơn những gì các thày hy vọng cho buổi hội nghị này. Chúng ta đã phóng ra một xung lực mạnh mẽ không những vào tâm thức tập thể của Hàn Quốc mà còn của toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia mà các con đại diện. Điều này giúp cho những người sẵn lòng, có tâm cởi mở và nhạy cảm, được cơ hội cộng hưởng với tâm Ki-tô, với rung động cao mà giờ đây họ có cơ hội cảm nhận được, cho dù họ không ý thức điều đó.

Đây là một kết quả, nếu con muốn dùng từ này, vô giá cho sự tiến triển của hành tinh này. Vì vậy, các thày đều cám ơn các con. Cho nên, thày hân hạnh và đầy niềm vui khi niêm buổi hội nghị này, niêm các con trong Ngọn lửa mà THÀY LÀ. Chân sư Thăng thiên Phật Gautama, TA LÀ.

33 | Ki-tô là đấng tiêu hủy ảo tưởng

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Shiva qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư thăng thiên Shiva. Thày hy vọng các con không ngạc nhiên. Thày muốn nói vài điều ở đây về ba ngôi trong Ấn giáo, Brahma, Vishnu, Shiva. Brahma đấng Sáng tạo, Vishnu đấng duy trì và Shiva đấng tiêu hủy. Đúng thế, có một số giáo lý sâu sắc hơn có thể được trao truyền ở đây.

33.1. Giáo lý sâu sắc hơn về ba ngôi trong Ấn giáo

Brahma đấng Sáng tạo là gì? Đấy không phải là đấng Sáng tạo tối hậu – nếu Brahman quả thực là đấng Sáng tạo tối hậu trong huyền thoại Ấn giáo và họ có một quan điểm về Brahman khác với quan điểm mà các thày đã trao truyền về đấng Sáng tạo. Chúng ta hãy tạm gác điểm này sang một bên. Yếu tố sáng tạo trong thế giới hình tướng là gì? À, trước tiên đó là đấng Sáng tạo nhưng gần hơn là các sinh thể thăng thiên sau khi các bầu cõi đầu được sinh tạo. Trong bầu cõi chưa thăng thiên của con – con cũng có thể nói bầu cõi chưa thăng thiên của chúng ta –  yếu tố sáng tạo trước tiên là tất cả các chân sư thăng thiên ở Bầu cõi thứ Sáu. Đối với Trái đất, các chân sư đó là các Elohim đã sinh tạo Trái đất. Các sinh thể có tự nhận biết và quyền tự quyết giống như con, là các sinh thể đồng-sáng tạo, cũng là một phần của Brahma.

Yếu tố duy trì là gì? À, đó chính là các chân sư thăng thiên đã sinh tạo bầu cõi chưa thăng thiên này vì các thày cầm giữ viễn kiến cho phép bầu cõi này tiếp tục được duy trì. Các con, những người đồng-sáng tạo cũng là một thành phần của yếu tố duy trì hình tướng hiện hành. Nhân loại, với tâm thức thấp hơn, đã mang Trái đất xuống thấp hơn bản mẫu nguyên thủy của các Elohim và đã duy trì Trái đất trong trạng thái thấp này vì không chịu thăng vượt tâm thức của mình.

Đấng tiêu hủy là gì? À, đấy là tâm thức Ki-tô. Tâm thức Ki-tô dưới hình thái hoàn vũ thì không lay chuyển, không dị dịch nhưng dưới hình thái hiển lộ của nó, hình thái biểu hiện của nó, thì nó mang hình thái của những sinh thể đang hiện thân trên Trái đất. Họ vươn lên một tầng tâm thức cao hơn mức trung bình, qua đó họ chứng minh con đường dẫn tới quả vị Ki-tô: đó là Giê-su, đức Phật, nhiều người khác, và hy vọng cũng là chính các con.

33.2. Đấng tiêu hủy thực sự là gì?

Con thấy ở đây là quan điểm của Ấn giáo về Shiva không phải là cách nhìn cao nhất. Nhiều người nghĩ thày là một vị thần ngự đâu đó trên cao và một ngày kia thày sẽ giáng xuống và phá hủy Trái đất hay tiêu trừ những người mà họ không thích. Nếu thày làm như vậy trong cương vị một sinh thể thăng thiên, thì thày sẽ vi phạm luật tự quyết. Yếu tố tiêu hủy trên Trái đất là gì? À, đó là những người đã đạt những tầng cao hơn của tâm thức Ki-tô và do đó, họ trở nên cánh cửa mở cho sự phán xét Ki-tô và sự thách thức Ki-tô.

Tiêu hủy thực sự nghĩa là gì? Trong cương vị một chân sư thăng thiên, một biểu hiện của tâm thức Ki-tô, một sinh thể cầm giữ ngọn lửa mà người Ấn giáo gọi là sự tiêu hủy, vai trò của thày không thực sự là tiêu hủy mà là thăng vượt. Tuy nhiên, thày tiêu hủy cái gì? Thày tiêu hủy con người chăng? Thày tiêu hủy toàn bộ Trái đất chăng? Không đâu, thày tiêu hủy ảo tưởng, bởi vì điều gì đã biểu hiện những điều kiện hiện hành trên Trái đất? Đó chính là những ảo tưởng mà con người đã phóng chiếu lên Ánh sáng Mẫu-Vật qua các thể bản sắc, tư tưởng và tình cảm của họ và qua những hành động mà họ làm với thân vật lý của họ.

Cái gì có thể thay đổi tình trạng này? À, chỉ khi nào những viễn kiến, những hình ảnh, những ngã mà con người cầm giữ trong bốn thể phàm của họ thay đổi. Bởi vì chúng dựa trên ảo tưởng cho nên những ảo tưởng này phải được thách thức, những ảo tưởng này phải được tiêu hủy. Giờ đây, có nhiều đệ tử đến với giáo lý chân sư thăng thiên và họ nghe tới con đường quả vị Ki-tô và họ nghĩ: “À phải đấy, khi tôi trở thành Ki-tô thì tôi có thể đi vào xã hội và thách thức mọi người. Tôi có thể ép họ phải nhìn thấy những sai lầm trong cách sống của họ. Thậm chí tôi có thể  đi vào xã hội và thách thức những nguời lãnh đạo, thách thức giới thượng lưu quyền lực, thách thức sa nhân.” Họ bị ám ảnh và cưỡng chế về việc này. Một số đã thử làm vậy và bị sa nhân đập bẹp dí, và họ khám phá là các chuyện đó không dễ làm. Đó là vì họ chưa đạt đủ mức quả vị Ki-tô trước khi họ bước ra ngoài làm việc, cho nên hành động của họ bị pha màu bởi tự ngã có tham vọng tôn mình lên như một thẩm quyền có khả năng làm công việc quan trọng này.

Khi con khắc phục hết những điều này, khi con đi qua những giai đoạn mà các chân sư khác đã mô tả và đạt những tầng cao hơn của quả vị Ki-tô, thì con không thách thức những ảo tưởng trên Trái đất. Các chân sư thăng thiên có thể thách thức qua cánh cửa mở của con. Điều này không có nghĩa là tất cả các con đều có phần vụ này trong Sứ vụ Thiêng liêng của mình. Sứ vụ Thiêng liêng là kế hoạch riêng biệt của mỗi người. Một số các con có thể chú tâm hơn vào khía cạnh sáng tạo, một số các con vào khía cạnh duy trì, nhưng một số các con chú tâm vào Shiva, khía cạnh tiêu hủy ảo tưởng.

33.3. Là người tiêu hủy trong đời sống hàng ngày

Con có thể tới điểm làm được điều này trong đời sống hàng ngày. Không phải là con chủ động hành động với tâm vỏ ngoài. Con chỉ đơn giản là người con là. Con thường thách thức ảo tưởng của con người theo cách hay nhất – bằng cách chứng minh họ không thể kiểm soát con, họ không thể thao túng con, họ không thể khiến con bất an, họ không thể lay chuyển con như họ nghĩ họ phải có khả năng lay chuyển tất cả mọi người. Khi một người gặp con và nhận ra con không thể bị lay chuyển, thì họ có thể nghĩ lại và có thể tới điểm nhìn ra một ảo tưởng mà con đã khắc phục.

Một số có thể nhờ đó thức tỉnh và hỏi con là làm sao con tới được điểm đó. Một số khác có thể sẽ nổi giận. Một số khác có thể tìm cách né tránh con. Một lần nữa con không quan tâm phản ứng người khác khi con đạt tới tầng mức đó. Con đơn giản là cánh cửa mở và con không cần quan tâm bất cứ phản ứng nào của người khác. Sự kiện một tấm gương được đưa ra, một giáo huấn được đưa ra, một tấm gương được nêu lên, có nghĩa là con người đã được cho một cơ hội.

Thày không tìm cách dùng sức mạnh để tiêu hủy ảo tưởng của con người. Thay vì là kẻ tiêu hủy, thày đúng hơn là kẻ giải phóng. Lẽ tất nhiên, thày làm việc trong khuôn khổ quyền tự quyết, Luật Tự quyết. Bởi vì thày là một với Tâm thức Ki-tô, là một khía cạnh của Tâm thức Ki-tô, nên thày không tiêu hủy ảo tưởng của một người nếu họ không sẵn lòng buông bỏ chúng. Do đó, con cũng phải tôn trọng Luật Tự quyết và lẽ tất nhiên con sẽ tôn trọng quyền tự quyết khi con đạt tới những tầng cao hơn của Tâm thức Ki-tô.

Nếu con còn ở một tầng thấp hơn của tâm thức Ki-tô nơi con cảm thấy muốn thách thức người khác thì thày khuyến khích con quyết định kềm mình lại, tránh bước ra ngoài và thách thức người khác. Vì làm vậy chỉ gây thêm khó khăn cho con. Con sẽ không thực sự giúp những người này và con có thể tạo nghiệp cho chính mình nữa. Trong quá khứ các thày đã thấy có đệ tử chân sư thăng thiên quá hăng hái muốn truyền bá giáo lý nên họ cố gắng áp đặt giáo lý lên người khác. Đây không phải là điều các thày khuyến khích các con làm trong đợt truyền giáo này. Nếu con cảm thấy trong con có nhu cầu ám ảnh-cưỡng chế muốn thách thức người khác thì con nên quyết định ngừng lại, kềm mình lại và thay vào đó con hãy đi tìm trước tiên Vương quốc Thượng đế và cách dùng đúng đắn khả năng sáng tạo của con. Con sẽ đạt tới tầng cao hơn của quả vị Ki-tô nơi con không quyết định với tâm vỏ ngoài thách thức người khác. Chuyện đó chỉ đơn giản xảy ra và con chỉ quan sát nó xảy ra xuyên qua con.

33.4. Là sự phán xử Ki-tô

Thày không có ý định trao một bài giảng dài ở hội nghị này. Thày chỉ muốn giản dị nêu lên là có một khía cạnh của tâm Ki-tô là khía cạnh tiêu hủy hay giải phóng. Lẽ dĩ nhiên, khía cạnh này cũng bao gồm khái niệm phán xử Ki-tô. Giờ đây, khái niệm này cũng đã bị hiểu sai bởi những người vẫn còn bị tự ngã pha màu, vì tự ngã muốn có quyền lực, ít ra là nhiều tự ngã muốn thế, và do đó họ nghĩ: “À, nếu tôi có thể đem lại phán xử Ki-tô thì tôi có quyền lực trên những kẻ xấu đang gây đủ loại vấn đề trên Trái đất.” Con thấy đó, đây không phải là cách phán xử Ki-tô vận hành. Con không thể đưa ra phán xử Ki-tô từ tâm vỏ ngoài. Nếu con tìm cách đem lại phán xử Ki-tô với động lực đến từ tự ngã thì, à, con sẽ đem lại phán xử Ki-tô nhưng chính con cũng sẽ bị phán xử.

Một lần nữa, cách duy nhất để con là dụng cụ cho phán xử Ki-tô là con trở nên trung hòa, như thế con không có ý định nào, con không muốn đạt một kết quả nào. Con không phán xét là những người này tàn ác và khi họ nhận phán xử Ki-tô thì họ sẽ bị ngọn lửa thiêu đốt. Thày không đang nói đùa. Có nhiều đệ tử chân sư thăng thiên đã tưởng tượng những điều như thế. Thậm chí có những người tâm linh thuộc những phong trào tâm linh hay những tôn giáo truyền thống khác cũng tưởng tượng những điều tương tự. Nhiều tín đồ Cơ đốc từ xưa cho tới ngày nay đã tưởng tượng, dù họ không nghĩ tới Shiva, là một ngày kia Giê-su sẽ trở lại và sẽ thiêu hủy bằng lửa tất cả những ai chống đối giáo hội thật của thày – giáo hội của họ.

Phán xử của Ki-tô là phán xử của Ki-tô, không là phán xử của tự ngã. Trong tâm Ki-tô không có sự lượng định: “Ồ, những người này tàn ác.” Ki-tô đơn giản là Ki-tô. Ki-tô là tảng đá không di dịch của Ki-tô. Khi Ki-tô được biểu hiện trong vật lý hay trong tình cảm, lý trí, bản sắc, thì Ki-tô không phán xét người khác. Ki-tô cho họ một cơ hội. Cơ hội mà Ki-tô cho họ luôn luôn là: “Bạn có sẵn sàng cho phép ngã tách biệt chết đi để đi theo Ki-tô vào đời sống thật, vào một hình thức cao hơn của sự sống?”

Nếu con người chọn không sẵn sàng đi theo Ki-tô và muốn giữ tự ngã, thì chọn lựa đó trở thành sự phán xử của họ. Ki-tô không phán xét trước phải bứng ai ra khỏi Trái đất và cho phép ai ở lại. Ki-tô trình bày cho con người một cơ hội chọn lựa, nhu cầu phải chọn lựa và sau đó chính sự chọn lựa của họ sẽ quyết định. Một số người, đặc biệt là sa nhân, đã tìm được cách trì hoãn sự phán xử Ki-tô và điều này cũng được phép nếu có đủ số người đi theo các sa nhân này.

Một sa nhân bị phán xử như thế nào? À, một người ở tầng tâm thức 48 không thể đem lại sự phán xử Ki-tô tới một sa nhân. Chỉ khi nào con đạt tới những tầng cao hơn của tâm thức Ki-tô thì con mới có thể là dụng cụ cho sự phán xử một sa nhân. Chuyện này có thể xảy ra cho một số nhỏ trong các con, không nhiều người, nhưng có thể xảy ra. Đó là khi một sa nhân đã trì hoãn phán xử Ki-tô gặp Ki-tô Hằng sống trong hiện thân và do đó, sa nhân không thể phủ nhận thực tại Ki-tô được nữa. Sa nhân phải chọn lựa đi lên cao hơn cùng với Ki-tô hay bám giữ tự ngã và đi xuống thấp hơn, rốt cuộc xuống thấp tới độ y không thể ở lại hiện thân trên Trái đất nữa.

Điều cơ bản thày muốn nói ở đây là: Con đừng để tâm vỏ ngoài của mình quan tâm tới phán xử Ki-tô hay chuyện con là dụng cụ cho phán xử Ki-tô. Con hãy đi tìm trước tiên vương quốc Thượng đế, nghĩa là tầng cao nhất của tâm thức Ki-tô mà con có thể đạt được và sau đó chuyện gì cần xảy sẽ xảy ra, và chuyện gì không cần xảy ra thì sẽ không xảy ra. Con dù sao chăng nữa sẽ không dính mắc. Con trung hòa. Tự mình con, con không làm được gì cả.

Đây là điều thày muốn trao cho con ở đây. Thày cám ơn các con đã sẵn lòng là cánh cửa mở cho thông điệp này và thày niêm các con trong Ngọn lửa Thăng vượt mà thày cầm giữ cho Trái đất. Chân sư thăng thiên Shiva, TA LÀ.

31 | Khắc phục khuynh hướng coi mọi sự quá hệ trọng

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Sanat Kumara qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Sanat Kumara. Một số người đã gọi thày là Đấng Thượng cổ. Một số gọi thày là Tuổi trẻ Vĩnh cửu. À, vậy thày là gì? Con có thể là cả hai điều trên chăng? À, trong mắt con người, con có thể là cả hai. Lẽ tất nhiên, con có thể nói thày không phải là một dòng sống mới. Mặt khác, thày thăng thiên từ bầu cõi này, nhưng thày không cổ xưa như một số chân sư thăng thiên đã thăng thiên trước thày. Mặt khác, thày là Tuổi trẻ Vĩnh cửu vì thày đã thăng thiên bằng cách nào? Thày thăng thiên bằng cách thể nhập một khía cạnh của tâm thức Ki-tô và đó là khía cạnh làm mọi sự đều mới.

31.1. Ki-tô làm mới tất cả mọi chuyện

Giờ đây, con nghe Giê-su nói: “ Trừ khi con trở thành trẻ thơ, con không thể vào vương quốc.” Điều này lẽ dĩ nhiên có nghĩa là với trẻ thơ tất cả đều mới mẻ, tất cả đều hào hứng. Thày tập trung vào khía cạnh đó của tâm thức Ki-tô trước khi thày thăng thiên. Thày thể nhập nó và nó mang thày vào trạng thái thăng thiên. Thày luôn luôn mở tâm đón nhận điều mới và thày tránh né đặc tính ngược lại là trở nên tinh thông: Con cái gì cũng biết. Con đã thông hiểu hết mọi chuyện. Không có gì mới nữa dưới ánh mặt trời. Tôi kiểm soát được tình hình. Đây là cảm nhận của sa nhân. Họ đã thông hiểu hết mọi chuyện. Như Maitreya đã nói: “Tất cả đều là một ảo tưởng tạo ra trong tâm.” Nó chỉ có vẻ thật cho cái tâm đó, tâm đó đã mất kết nối với tâm Ki-tô đến độ nó còn không đi tìm bất cứ gì mới, vì nó coi trọng kiểm soát trên hết.

Làm sao con thăng thiên? À, có vẻ như các bài truyền đọc sau này của các thày đã thăng vượt mục đích của hội nghị này: Là Ki-tô trong đời sống hàng ngày. Thày nhìn nhận là những gì Maitreya trao truyền cho các con là một giáo lý không có nhiều ứng dụng thực tế trong đời sống hàng ngày của các con, cho nên thày sẽ cố gắng để bài giảng của thày thực tế hơn một chút. Trên cơ bản có thể nói nó là thế này: Con hãy ngừng coi mình quá hệ trọng.

31.2. Coi đường tu và coi mình quá hệ trọng

Con thấy đấy, sẽ tới một điểm trên con đường quả vị Ki-tô khi con cần lùi lại và nói: “Con đường tu chủ yếu là gì đây? Từ trước tới giờ tôi đã tiếp cận con đường tu như thế nào?” Nhiều người trong các con sẽ thấy rằng con tìm ra giáo lý, con neo trụ vào cốt lõi của giáo lý, ít nhất như con có thể thấy vào thời điểm đó. Rồi con quyết định dốc tâm vào đường tu. Giờ đây, như đã xảy ra cho người sứ giả này, con trở nên gần như bị ám ảnh cưỡng chế phải làm mọi chuyện thật đúng, như con thấy lúc đó. Con muốn đọc tất cả các bài chú và thỉnh. Con muốn đọc tất cả các bài truyền đọc. Con muốn đi tham dự các hội nghị. Con muốn học hết các thứ đó và cùng một lúc, con cũng có cuộc sống hàng ngày.

Con không thể chỉ tập trung cả cuộc đời và cả sự chú ý của con vào giáo lý, ít nhất là đối với hầu hết các con. Nhiều người trong các con có con cái. Con có công việc làm. Con có bổn phận. Cho nên, con tạo nên sự căng thẳng mà qua các thời đại người tâm linh đã trải nghiệm, và nó đã trở thành truyền thống bên phương Đông là để có thể thật sự sống tâm linh, con phải từ bỏ thế gian và rút lui khỏi thế gian. Một lần nữa, các thày không trách cứ ai cả.

Khi chúng ta nhìn trở lại các thời đại trên hành tinh Trái đất, chúng ta có thể thấy và trải nghiệm (những người trong chúng ta đã hiện thân trên Trái đất hay các hành tinh khác) là rất khó cân bằng tăng triển tâm linh và đời sống hàng ngày trên một hành tinh phi tự nhiên. Đây là một thách thức vĩ đại. Chúng ta cũng thấy là trong Thời đại Bảo bình, chúng ta đang đi vào một thời đại mà điều lý tưởng không phải là hầu hết người tâm linh rút lui khỏi thế gian. Ngược lại, điều lý tưởng là con người ở lại trong thế gian, ít nhất là hầu hết mọi người và họ biểu hiện tâm linh trong đời sống hàng ngày. Họ không tách đời và đạo. Làm sao thực hiện được điều này?

À, điều con có thể thấy nơi chính mình, đối với nhiều người trong các con, là sau khi con dốc tâm đi trên con đường tâm linh thì con trải nghiệm một sự căng thẳng. Đó là một phần của lý do tại sao, như một số thày khác đã đề cập, con cảm thấy căng thẳng hơn sau khi con dốc công tu tập. Con bị lôi về hai hướng khác nhau và con cảm thấy có sự căng thẳng giữa đời sống hàng ngày và tăng trưởng tâm linh. Kết quả của căng thẳng đó là gì? Đó là nhiều người trong các con bắt đầu coi chính mình và con đường tu rất hệ trọng. Một lần nữa, các thày không trách cứ con. Con để ý các thày luôn luôn nói: “Những người trong các thày đã từng đầu thai trên Trái đất đã trải nghiệm điều các con trải nghiệm.” Tất cả các thày, vào một thời điểm nào đó, đã coi việc tăng triển tâm linh quá hệ trọng.

Giờ đây, con có thể nói là khi con đi từ tầng 48 lên tầng 96, con cần dốc tâm đủ để kéo mình lên trên tâm thức tập thể và do đó con cần tận tụy, chú tâm, kỷ luật. Con cần đặt ra một số ưu tiên để con nhận ra điều gì quan trọng hơn cho con trong cuộc sống. Vì có thể nói là khi con đặt ưu tiên thì con dễ nói: “À, đây là những bổn phận của tôi trong đời sống hàng ngày và đây là những sinh hoạt tâm linh của tôi, và tôi đã quyết định một sự cân bằng nào đó giữa hai sinh hoạt này và tôi duy trì cân bằng đó.” Tuy thế, kết quả đối với hầu hết mọi người là con coi mình quá hệ trọng. Con nhìn con đường tâm linh rất hệ trọng, nhưng đó cũng là một ngõ vào cho tự ngã pha màu cái nhìn của con về con đường tâm linh.

31.3. Tự ngã coi nó rất hệ trọng

Con càng xem mình và đường tu hệ trọng bao nhiêu thì tự ngã càng có thể ảnh hưởng con bấy nhiêu. Thậm chí sa nhân cũng có thể phóng chiếu một điều gì đó vào tâm con khi con xem mình rất hệ trọng. Lẽ dĩ nhiên sa nhân là ví dụ tối hậu của những sinh thể tự xem mình rất hệ trọng đến độ con thậm chí không thể tuởng tượng được. Hầu hết các con chưa gặp những sa nhân có tầng tâm thức thấp nhất và con không có nhu cầu này. Thày chỉ muốn nói với con là nếu con có thể thấy tâm thức của họ, thì con không thể tưởng tượng được họ tự coi họ hệ trọng tới mức nào, họ cảm thấy họ quan trọng tới mức nào, họ thấy tầm quan trọng của họ vĩ đại như thế nào. Họ nghĩ ngay cả chính Thượng đế cũng đang theo dõi họ, rón rén không dám lại gần họ và lo ngại quyền lực của họ. Đấy là điều họ tin – là họ đã đạt được uy quyền trên Trái đất này và Thượng đế sợ là quyền lực của họ sẽ lớn hơn quyền lực của Thượng đế. Điều này có thể thực cho ông Thượng đế giả mà họ đã tạo ra. Ông Thượng đế này có thể lo ngại họ, nhưng đấng Sáng tạo thật thì lẽ dĩ nhiên không.

Sẽ tới một điểm, chắc chắn khi con tiến cao hơn tầng 96, nhưng cũng sẽ giúp con trước khi con tới tầng 96, khi con cần xem xét vấn đề này và nói: “Tôi có đang quá nghiêm trọng không? Tại sao tôi lại nghiêm trọng đến như thế?” À, đó là vì con đã gán một tầm quan trọng vĩ đại cho con đường tâm linh nói chung và sự tăng triển của con trên con đường đó. Con đã quy định một mục tiêu cho sự tăng trưởng tâm linh của con và gán cho nó một tầm quan trọng vĩ đại, ít nhất là đối với con. Thậm chí con có thể nghĩ nó có tầm quan trọng vĩ đại với các chân sư thăng thiên. Đây quả thực là một trong những lý do chính tại sao có người có thể đạt tới tầng 96, nhưng không vượt qua được khai ngộ buông bỏ sự chú tâm vào ngã, và do đó bắt đầu đi xuống trở lại vì họ tìm cách nâng cái ta tách biệt lên một địa vị tâm linh tối  hậu.

Con coi mình rất hệ trọng, hay đúng hơn ngã tách biệt xem nó rất hệ trong, vì một lần nữa, cái Ta Biết là gì? À, nó là nhận biết thuần khiết, nhận biết trung hòa. Có chỗ nào trong nhận biết thuần khiết cho cảm nhận mình nghiêm trọng nhiều hay ít không? Chỗ đó ở đâu vậy? Sự nghiêm trọng chỉ có thể có trong một ngã mà thôi. Có thể đây không phải là một ngã nhị nguyên. Có thể đó là ngã tâm linh đã đưa con tới gần tầng 96. Nếu ngã này bắt đầu xem nó quá hệ trọng, thì nó không thể thấy nó chỉ là cỗ xe, giống như tầng đáy của một hỏa tiễn có vai trò giúp hỏa tiễn bay tới một cao độ nào đó và sau đó sẽ rơi xuống để hỏa tiễn có thể bay lên cao hơn. Nếu cái ta tâm linh này không chịu rơi xuống, không chịu biến mất thì nó có thể có một sức lôi kéo mạnh trên cái Ta Biết – nếu cái Ta Biết không nhận ra nhu cầu phải ngừng nghiêm trọng quá đáng.

31.4. Sa nhân rất nghiêm trọng

Chân sư MORE trong một hiện thân trước có đặt ra câu nói: “Ác ma và những kẻ kiêu ngạo không chịu nổi khi bị chế nhạo.” Con cười ác ma và nó chạy mất. Đây là một sự thật sâu sắc. Sa nhân rất kiêu ngạo. Họ xem họ rất hệ trọng. Họ chờ đợi tất cả mọi người khác đều coi họ hệ trọng như chính họ coi họ hệ trọng. Khi họ gặp một người không coi họ quan trọng, cười họ hay chứng tỏ sẽ không tùng phục, sẽ không bị làm bối rối, sẽ không đánh trả, thì sa nhân không biết phải làm gì.

Con cần tới điểm con không coi sa nhân quan trọng nữa. Làm sao con tới được điểm này nếu con coi mình quan trọng? Bởi vì lúc đó con nghĩ chuyện con tăng triển rất quan trọng, để con có thể làm công việc nào đó có tầm quan trọng vĩ đại cho các chân sư và giải thoát hành tinh khỏi sa nhân, hay bất cứ gì khác mà con có thể nghĩ.

Người tâm linh có vô số cách để gán cho con đường tâm linh của mình một tầm quan trọng vĩ đại. Như vị sứ giả đã giải thích, ông tới điểm thấy cách ông tiếp cận con đường tâm linh đã bị tự ngã pha màu, và một phần của sự pha màu là ông đã xem mình quá hệ trọng. Ông nghĩ sự tăng triển tâm linh của ông có một tầm quan trọng vĩ đại cho tương lai của hành tinh và cho công việc của các chân sư thăng thiên. Ông thấy được sự phù phiếm, hợm hĩnh của thái độ này và nhận biết này một phần do ông đã có đủ trải nghiệm nội tâm về tâm thức của một chân sư thăng thiên nên ông đã nhận ra rằng một chân sư thăng thiên giống như tảng đá của Ki-tô.

31.5. Tự ngã của con không ảnh hưởng được các chân sư thăng thiên

Con có thể dùng tâm vỏ ngoài, dùng tự ngã, để phóng chiếu đủ thứ lên các chân sư thăng thiên: Rằng con đang làm công việc quan trọng vĩ đại này và con đang làm tất cả những hy sinh này để phụng sự các chân sư và do đó, chắc chắn một ngày kia các chân sư sẽ công nhận con. Nhưng các phóng chiếu này không ảnh hưởng gì hết trên các thày là các sinh thể thăng thiên. Các thày là tảng đá của Ki-tô. Các thày sẽ không bị lay chuyển bởi tự ngã của con, bất kể tự ngã nghĩ gì. Khi con sẵn lòng trải nghiệm điều này, nhìn nhận điều này, thì con có thể thấy sự phù phiếm của ý tưởng cho rằng tự ngã có thể xây đắp một tầm quan trọng mà các thày phải tôn trọng – và sau đó con có thể buông bỏ ý tưởng này. Con có thể, như người sứ giả đã mô tả, thực sự gặp gỡ Hiện diện của các chân sư thăng thiên. Con quả thật sẽ có thể có viễn quan về công việc con thực sự có thể làm cho các thày, khi con không làm việc từ tự ngã, và điều này tùy thuộc vào những gì có trong Sứ vụ Thiêng liêng cá nhân của con.

Điều con thấy ở đây là, như các thày đã nói trước đây, nhiều đệ tử tâm linh có một tầm nhìn chính xác về “điều gì” cần được hoàn tất trong cuộc đời họ, nhưng họ thiếu tầm nhìn “làm thế nào” để hoàn tất nó. Con quả thật có thể có một viễn kiến đúng đắn là trong kiếp sống này con có tiềm năng làm điều gì đó cho xã hội hay cho các chân sư thăng thiên, nhưng tự ngã của con đã pha màu cách con nghĩ công việc này sẽ tiến hành như thế nào vì con nghĩ con có thể làm công việc đó bằng tâm vỏ ngoài và tự ngã. Con có thể cho ý tưởng này rơi rụng khi con nhận ra công việc đó không thể làm được qua tự ngã, quả thực là con không thể làm được vì như Giê-su đã nói: “Tự ta không làm được gì cả. Đấng cha trong ta là người làm.”

Đấng cha trong ta là ai? À, đó là tâm Ki-tô. Đó là Hiện diện TA LÀ của con. Đó là các chân sư thăng thiên. Đó là đấng cha trong chúng ta. Lúc ấy con nhận ra: “Tự tôi không làm được gì cả, không làm được bất cứ gì có giá trị, không làm được gì sẽ nâng tâm thức Trái đất lên cao hơn, bởi vì tất cả những gì tôi làm mà bị pha màu bởi tự ngã sẽ chỉ củng cố thêm tâm thức đang khiến hành tinh bị mắc kẹt. Tôi cần buông bỏ cảm nhận là tôi, như một ngã tách biệt, có thể làm điều gì có giá trị theo nghĩa tâm linh.” Lúc ấy con có thể thực sự bắt đầu làm tròn Sứ vụ Thiêng liêng của con bởi vì con không phải là người làm, cho dù theo góc nhìn từ ngoài con là người đang làm. Người làm không phải là ngã vỏ ngoài, cái ta vỏ ngoài, nhưng là cái Ta Biết khi nó là cánh cửa mở qua sự trung hòa của nó. Nếu con trung hòa, con có thể nào xem mình hệ trọng không? Con có thể nghiêm trọng không? Không thể như thế được. Ở đây thày không đang nói là con cần nói: “Ồ, tôi sẽ bắt đầu nói giễu suốt ngày. Tôi sẽ bắt đầu tìm vui thú. Tôi sẽ bắt đầu làm tất cả những gì vui thú để tôi bớt cứng ngắc.” Không thực sự cần thiết với tất cả các con. Nhưng có thể cần thiết với một số trong các con.

31.6. Trở nên trung hòa và hoàn toàn trung thực

Có câu truyện xưa kể rằng có một ông kia bị chẩn bệnh tử vong và bác sĩ cho ông ba tháng để sống. Ông đi thuê tất cả những phim hài hước mà ông tìm được và xem phim suốt ngày và ông cười và cười và cười và ba tháng trôi qua, căn bệnh của ông cũng trôi theo. Đúng là một số các con sẽ được lợi lạc nếu con cố tình làm điều gì hài hước hơn, vui thú hơn, đùa bỡn hơn, nhưng điều này không áp dụng cho tất cả các con, vì mục đích thực sự là trở nên trung hòa. Có thể con đã đi quá xa về phía nghiêm trọng. Có thể con cần đi về hướng kia là con khôi hài, con bỡn cợt, nhưng mục tiêu quả thực là con trở về trạng thái trung hòa vì Ki-tô trung hòa. Trung hòa. Không phải là điểm ở giữa hai cực nhị nguyên nhưng trung hòa là vượt lên trên toàn bộ thang nhị nguyên.

Một khía cạnh khác của quả vị Ki-tô dính liền với tâm thái không nghiêm trọng quá lố là có thể nói con trở nên trung thực hơn khi con tăng triển trong quả vị Ki-tô. Thày không muốn nói trung thực theo nghĩa con không còn nói dối hay lừa đảo người khác, bởi vì con đã phải bỏ các tính này trước khi con đi quá tầng 96. Ý thày là con trung thực hơn theo nghĩa con không tìm cách ẩn núp đằng sau một bộ mặt. Tự ngã luôn luôn muốn che giấu chính nó. Nó luôn luôn muốn mang một bộ mặt ngụy trang nó thành người thiện lành. Khi con đi trên đường tâm linh từ tầng 48 lên 96, con xây dựng một ý niệm bản ngã tâm linh. Có thể nói cái ta tâm linh này cũng là một bộ mặt mà con mang vào, một dáng vẻ bên ngoài và con ẩn núp đằng sau nó. Con không thực sự muốn phơi bày mình ra.

Nhiều người trong các con sẽ nhận ra điều này trong chính mình, như con ngần ngại không muốn nói về các niềm tin tâm linh của mình. Con ngần ngại bước ra ngoài và phơi bày mình cho người khác chỉ trích. Một lần nữa, các thày không trách cứ con, các thày chỉ đơn giản cho con thấy một giai đoạn mà tất cả chúng ta đều trải qua. Khi con tiến cao hơn trong quả vị Ki-tô, con trở nên trung thực hơn – theo nghĩa là khi con trở nên trung hòa hơn, khi con ngừng không xem mình rất hệ trọng, thì tại sao con cần ẩn núp? Con cần che giấu gì?

31.7. Trở nên trong suốt không có gì để giấu

Khi con buông bỏ những ngã này, con càng ngày càng ít thứ cần che giấu. Có thể nói là có những người nghĩ rằng khi con trở nên Ki-tô, thì con trở nên một người có cá tính rất mạnh, một nhân vật oai vệ lúc nào cũng đúng, lúc nào cũng có câu giải đáp, lúc nào cũng có thể chỉ người khác phải làm sao cho đúng cách. Trên thực tế, khi con tăng triển tới các tầng cao hơn của quả vị Ki-tô, con trở nên càng ngày càng trong suốt hơn. Con càng ngày càng bớt nhân cách vỏ ngoài. Có nghĩa là cá tính của Hiện diện TA LÀ của con có thể bắt đầu tỏa sáng xuyên qua con. Đây không phải là nhân cách vỏ ngoài bởi vì, thay vì con trở nên một nhân cách mạnh thì con chỉ trở nên trong suốt.

Con dính mắc điều gì khi con trung hòa? Chẳng dính mắc gì cả. Trong tâm trung hòa có chỗ nào cho dính mắc không? Con hỏi Phật xem, và con nghĩ Phật sẽ nói gì? “Thày không thấy có chỗ nào trong thày cho dính mắc.” Khi con trở nên trong suốt, à, con thấy chẳng có chỗ nào trong con cho dính mắc. Đó là lúc ông hoàng thế gian tới và ông nắm và ông nhìn và ông tìm cách xô đẩy con và cám dỗ con, và ông làm đủ chuyện nhưng ông không tìm thấy có gì trong con để nắm. Ông không tìm được gì hết trong con. Làm sao ông hoàng của thế gian không tìm được gì hết trong con trừ phi con trở nên trong suốt? Khi nào con còn điều gì cần giấu giếm thì ông hoàng của thế gian sẽ tìm được gì đó trong con, bởi vì ông sẽ đe dọa phơi bày điều mà con tìm cách giấu giếm, hay ông sẽ đề nghị giúp con giấu nó, bằng cách nào chăng nữa ông vẫn nắm được gì đó trong con.

31.8. Con không thể làm để lên thiên đàng

Điều con có thể nói ở đây là: Đúng, có một giai đoạn trên con đường tâm linh khi con cần dốc tâm. Con cần có kỷ luật. Con cần chú tâm. Con cần có một mục tiêu để không bị tâm thức đại chúng kéo con đi đủ hướng. Khi con đi quá tầng 96, con cần xoay chuyển vì con đường tu trở thành một sự vui đùa. Con tiếp cận con đường tâm linh một cách vui đùa thay vì nghiêm trọng. Con có thể nói con không thể làm để vào thiên đường, nhưng con có thể vui đùa để vào thiên đường.

Các thày đã nói tới tiến trình khi cái Ta Biết bắt đầu ở tầng 144. Con mang vào một ảo tưởng. Những ảo tưởng con mang vào ở các tầng cao hơn này thực sự giúp con thấy con là một sinh thể có thể hiện thân trên Trái đất – một hành tinh dày đặc. Để con có thể hiện thân trên Trái đất, các điều kiện trên Trái đất phải có vẻ thực đối với con. Khi chúng có vẻ thực đối với con, chúng cũng có vẻ quan trọng đối với con. Chỉ khi chúng có vẻ quan trọng đối với con, thì việc con hiện thân trên một hành tinh như thế mới có vẻ đáng, bởi vì con nghĩ có điều gì quan trọng con có thể làm ở đây.

Khi con đi quá tầng 96 và bắt đầu đi lên những cõi cao hơn, khi con rũ bỏ càng ngày càng nhiều hơn những ảo tưởng đó, thì bất thình lình cảm nhận về thực tại của con bắt đầu xoay chuyển. Những gì con thấy trên Trái đất hay thậm chí những gì con gặp trong đời sống hàng ngày, có vẻ càng lúc càng bớt thực. Giờ đây, điều này là một thách thức trong một giai đoạn, và con gần như trải qua một giai đoạn tâm phân liệt và cảm thấy: “Có bất cứ điều gì thực chăng?” Con có thể có khuynh hướng hầu như muốn rút lui khỏi đời sống hàng ngày bởi vì nó không còn có vẻ thực nữa, nó không có vẻ quan trọng nữa. Con cần tìm ra một sự quân bằng ở đây. Đó là, khi con còn đang hiện thân, những điều kiện mà con gặp trong đời sống hàng ngày có một thực tế và một tầm quan trọng nào đó.

31.9. Vui đùa hơn trong đời sống hàng ngày

Chuyện đơn giản là khi con đạt trình độ trong suốt đó của quả vị Ki-tô, thì con thấy là: đúng, có những điều kiện vật lý mà con gặp trên Trái đất, có những người mà con gặp. Lẽ tất nhiên, họ quan trọng. Lẽ tất nhiên, quan hệ của con với họ quan trọng nhưng nó không quy định con. Nó không làm chủ con. Nó không kiểm soát con. Có nghĩa là giờ đây con có thể tham gia vào đời sống hàng ngày mà chẳng xem nó quá hệ trọng. Con có thể vui đùa hơn trong đời sống hàng ngày. Con có thể vui tươi hơn. Con có thể giúp người khác vui tươi hơn và không quá nghiêm trọng. Con thường có thể học được cách hóa giải xung đột giữa những người khác bằng cách có tầm nhìn trung hòa, tiếp cận cuộc đời một cách vui đùa, ngây thơ.

Nghiêm trọng trong một thời gian là điều cần thiết nhưng nếu con nghĩ con phải nghiêm trọng suốt hành trình cho tới khi thăng thiên, thì con sẽ chỉ khiến mọi chuyện khó khăn hơn hẳn cho con mà thôi. Thày không nói là chuyện này không thể làm được. Con thấy Giê-su khá nghiêm trọng trong ba năm cuối của sứ vụ của thày. Thậm chí trong một đợt truyền giáo trước đây đã có lời giảng là Giê-su không bao giờ cười trong suốt thời gian hiện thân của thày. Tuy nhiên, điều này không đúng như Mẹ Mary có thể nói cho con biết, vì Giê-su khi lớn lên là một đứa trẻ như mọi trẻ khác, chơi đùa như mọi trẻ em khác và cười cợt như mọi trẻ em khác. Tuy nhiên, khi thày cảm nhận được mức nghiêm trọng của sứ vụ của thày, đặc biệt là trong ba năm cuối, thày có trở nên nghiêm trọng hơn và không ai trách cứ điều này.

Con cũng thấy là Giê-su bị treo trên cây thập tự, và thày không xuống được, và thày không chết được. Thày như bị kẹt trong chốn không có lối ra và chỉ khi thày xoay chuyển tâm và thấy vẫn còn một hồn ma mà thày cần buông bỏ, và thày buông bỏ được hồn ma này, thì thày mới đi bước kế tiếp được. Chuyện có thể xảy ra là con đạt tới một tầng tâm thức khá cao, chắc chắn vượt quá tầng 96, và con vẫn còn giữ mình trong một trạng thái lơ lửng, một vùng đất không có lối ra, một thế bí, vì có điều gì đó con chưa thấy do đó con chưa thể buông bỏ được. Trên con đường tâm linh, con học được thói cười mình càng sớm thì mọi chuyện sẽ càng dễ dàng cho con hơn.

Lẽ tất nhiên ngay cả ở tầng 48, con có thể học thói cười mình và nếu con có thể cười mình, thì tự ngã sẽ bớt chi phối được con. Và tà lực cũng vậy, vì con thấy đấy, khi con cười mình thì con đưa tự ngã vào tình trạng khó xử. Tự ngã muốn chi phối con nhưng nó chỉ chi phối được con bằng cách lộ mặt cho con thấy ít nhất trong một khoảnh khắc ngắn. Nếu tự ngã cảm thấy có nguy cơ bị con cười khi nó lộ mặt, thì tự ngã sẽ nghĩ kỹ lại hơn.

Với ác ma và tà lực cũng vậy. Chúng không chịu đựng nổi khi bị chế giễu cho nên nếu chúng cảm thấy có nguy cơ bị chế giễu, thì chúng có thể nói: “Tại sao mình không để anh chàng này yên? Nhìn kìa có anh chàng khác ở đằng kia tự coi mình rất hệ trọng. Chúng ta hãy tới đó thay vì ở đây.” Đây là một vị thế cũng khá lắm trên một hành tinh như Trái đất.

Thày đã hội đủ điều kiện thăng thiên bằng cách nào? À, bằng cách trở nên hoàn toàn trong suốt đối với những lực của thế gian. Chúng không tìm thấy gì trong thày bởi vì chẳng có gì trong thày mà thày coi là hệ trọng. Quả thực, điều gì ngăn cản con cũng chuyển hóa giống như thế, được tái sinh bởi Ki-tô bởi vì con sẵn sàng từ bỏ nhân vật đệ tử tâm linh nghiêm trọng để tái sinh thành một đệ tử tâm linh vui đùa.

31.10. Điều đưa con vào đám rối rắm cũng có thể đưa con ra khỏi đám rối rắm

Thày muốn nói vài điều về giáo lý xưa cũ nói về số 144.000 linh hồn từ Kim tinh đã chọn đầu thai xuống Trái đất ở một thời điểm quá khứ xa xưa. Các linh hồn này là những avatar theo định nghĩa mà các thày đã trao truyền, vì Kim tinh đã đạt được một trình độ cao hơn Trái đất. Cho nên những giáo lý các thày đã trao truyền về các avatar có thể được áp dụng cho tất cả những sinh thể đó vẫn còn hiện thân. Trong nhiều thập niên vừa qua, nhiều đệ tử chân sư thăng thiên đã có cảm nhận nội tâm mạnh rằng họ đến từ Kim tinh cùng với Venus và thày, Nữ Chân sư Venus và Thày. Nếu con có cảm nhận đó thì con hãy áp dụng những giáo lý về các avatar này và con sẽ tiến bộ vượt bực. Thày cũng muốn nói là trước khi số 144.000 người này đến từ Kim tinh và trước khi những avatar khác đến từ những hành tinh tự nhiên khác, thì tất cả các con đều có một đặc tính.

Giờ đây Maitreya có nói tới chuyện con có tầm nhìn lạc quan là con có thể đối phó với những thử thách trên Trái đất. À, tầm nhìn đó là gì? Quả thực nó là cảm nhận không coi mình quá hệ trọng. Con có thái độ vui đùa, con nghĩ: “À… mình có thể vui đùa khi sống trên Trái đất. Bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào mà mình gặp trên Trái đất, mình có thể vui đùa ra khỏi nó.” Con thấy đấy, bởi vì con không xem mình quá hệ trọng, nên con không xem Trái đất và nhị nguyên quá hệ trọng. Có thể nói đây là điều khiến con bị mắc kẹt trong tâm, vì khi con bị chấn thương nhập đời thì con bắt đầu xem mình quá hệ trọng – hay đúng hơn con tạo ra tự ngã tự xem nó quá hệ trọng.

Con có thể nói điều làm con rơi vào đám rối beng là thái độ vui đùa của con nhưng thay vì trách mình hay thay vì nói: “À, vui đùa là sai, đáng lẽ tôi phải nghiêm trọng hơn,” thì con chỉ cần làm một sự xoay chuyển giản dị và nói: “À, điều làm tôi rơi vào đám rối beng cũng là điều có thể đưa tôi ra khỏi đám rối beng.” Có thể là thái độ vui đùa của con đã đưa con vào trạng thái tâm hiện tại nhưng thái độ vui đùa của con cũng có thể giải thoát con ra khỏi trạng thái tâm đó. Ở đây con cần xoay chuyển và nhận ra thách đố chính trên một hành tinh như Trái đất chính xác là: Con có một tầm nhìn, một thái độ về cuộc sống và về chính mình trước khi con tới đây. Khi con tới đây, con bị cú sốc vì mọi chuyện không như những gì con nghĩ. Do đó, giờ đây, dù con không thực sự ý thức chuyện này, con quyết định, tỷ dụ như: “Tôi không nghiêm trọng đủ về Trái đất. Tôi có thái độ vui đùa quá mức và đó là tại sao tôi rơi vào đám rối beng của chấn thương nhập đời và bọn sa nhân này. Từ nay tôi sẽ không bao giờ có thái độ vui đùa nữa. Vui đùa là một vấn đề.”

Con thấy con đã chối bỏ chính điều đã đưa con tới Trái đất. Con nghĩ: “Ồ, thái độ đó sai rồi, nó không quân bằng, nó quá mức, đáng lẽ tôi phải nghiêm trọng hơn nhiều.” Do đó, con không thể dùng chính đức tính vui đùa để thoát khỏi đám rối beng, con không thể vui đùa ra khỏi đám rối beng. Con nghĩ: “Tôi vui đùa vào đám rối beng.” Con đã không vui đùa vào đám rối beng trên Trái đất. Sa nhân đã tấn công con một cách hung hãn và tàn bạo nhất. Con không vui đùa vào đám rối beng nhưng con có thể vui đùa ra khỏi nó bằng cách không xem sa nhân hệ trọng, không xem tự ngã hệ trọng, không xem ý niệm bản ngã của con hệ trọng. Con thấy chăng, đức tính đã đem con tới đây cũng chính là đức tính có thể đưa con ra khỏi đây khi con mở tâm đón nhận nó, kết nối lại với nó và chấp nhận nó là tiềm năng tốt nhất giúp con thoát ra khỏi đám rối beng. Ai ngờ được rằng con có thể vui đùa để ra khỏi một đám rối beng quá sức tưởng tượng mà con thấy trên hành tinh này? Khi con trụ vững chắc vào tâm Ki-tô và giáo lý của Giê-su rằng trừ khi con trở nên trẻ nhỏ, thì con thấy là cách duy nhất để con thoát, ở một tầng nào đó, là con vui đùa và không xem mọi chuyện quá hệ trọng. Nếu con có thể nhìn sự thể và cười nhạo nó, thì liệu nó có còn thực như trước chăng, liệu nó có còn sức mạnh trên con như trước chăng?

31.11. Ra khỏi sự hệ trọng của Trái đất

Lẽ tất nhiên là không. Nói cách khác, con hãy ngừng trách mình đã không nghiêm trọng đủ trước khi con tới đây. Thái độ thiếu nghiêm trọng của con trên hành tinh tự nhiên không phải là vấn đề. Thái độ nghiêm trọng mà con đã tạo ra sau khi tới Trái đất là vấn đề. Làm sao con thoát khỏi thái độ nghiêm trọng quá đáng mà con có trên Trái đất? Bằng cách con nối kết lại với tính vui đùa, và con vui đùa trong suốt hành trình về nhà. Nhà có thể là Kim tinh hay một hành tinh khác, hoặc con sẵn sàng gọi cõi thăng thiên là nhà. Con cứ vui đùa trên đường về nhà.

Với lời này, thày đã vui đùa ở đây, thày rất vui khi tương tác với các con và bây giờ thày sẽ vui đùa trở về cõi thăng thiên mà thày thực sự chưa hề rời, bởi vì làm sao có thể có chia cách trong tâm Ki-tô? Từ tầm nhìn của con trên Trái đất, thày có vẻ như tách biệt với con, nhưng từ tầm nhìn của thày trên cõi thăng thiên, thày không tách biệt. Thày không phải du hành cả ngàn dặm để tới Trái đất. Thày không cần lấy một máy bay vũ trụ để tới đây.

Thày chỉ cần xoay chuyển chú tâm của thày vì thày vượt quá thời gian và không gian. Thày chỉ cần đặt chú ý của thày vào một nơi và ngay tức khắc thày ở đó, bất cứ nơi đó ở đâu. Khi con nối kết với tâm Ki-tô thì có bất cứ địa điểm nào không? Con có thể nói chăng là Trái đất có một địa điểm đặc thù trong tâm Ki-tô? Có một loại bản đồ trong tâm Ki-tô chăng? Đây là Kim tinh, và đây là Trái đất, và đây là Sirius, và đây là không hệ trọng quá mức? Không như thế đâu. Điều này lẽ tất nhiên khó nắm bắt, đặc biệt bằng tâm đường thẳng, nhưng tâm đường thẳng không biết vui đùa. Tâm trực giác có thể vui đùa và một cách vui đùa là con nghiền ngẫm những bí ẩn làm tâm đường thẳng bối rối.

Với lời này, thày niêm con trong sự vui đùa mà THÀY LÀ, sự trong suốt mà THÀY LÀ, sự tươi trẻ mà THÀY LÀ. Sanat Kumara TA LÀ.

29 | Quả vị Ki-tô hoàn toàn xoay quanh hợp nhất

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Maitreya qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Maitreya. Quả vị Ki-tô là gì dưới tầm nhìn của thày, người nắm chức vụ Ki-tô hoàn vũ cho Trái đất? À, trong các đợt truyền giáo trước, các đệ tử được giảng là Đức Maitreya là vị “Thượng đế” trong câu truyện Vườn Địa đàng. Lẽ tất nhiên, giờ đây câu nói này cần được hiểu ở mức sâu hơn.

Các con cần hiểu là Đức Maitreya là một chức vụ mà nhiều chân sư thăng thiên khác nhau có thể đảm nhiệm, không phải chỉ một người. Sinh thể mà thày là ngày hôm nay, mang tên chức vụ này, không phải là sinh thể có mặt ở vườn Địa đàng cho dù, lẽ đương nhiên không hề có Vườn Địa đàng vật lý giống y như đã được mô tả trong kinh Sáng thế ký. Một lần nữa, tất cả những điều trong các kinh này cần được xem như những biểu tượng, không phải là thực tế theo nghĩa đen.

29.1. Thế nào là một vị thày tâm linh?

Tuy nhiên, vì thày đang giữ chức vụ Ki-tô Hoàn vũ, chức vụ này là gì? À, con có thể nói Ki-tô Hoàn vũ đại diện cho khái niệm các thày tâm linh. Thày nói “đại diện” bởi vì một lần nữa, khái niệm thày tâm linh có thể hiểu qua nhiều tầng cấp.

Tuy thế, khi con nhìn việc thế giới hình tướng của chúng ta đã được tạo ra như thế nào, con có thể nói là ngay từ đầu khái niệm thày đã được đặt vào thiết kế của thế giới. Trong bầu cõi thứ nhất, các nối dài có tự nhận biết của đấng Sáng tạo có một vị thày là đấng Sáng tạo. Trong bầu cõi thứ hai, các chân sư thăng thiên của bầu cõi thứ nhất trở thành các vị thày của các sinh thể chưa thăng thiên của bầu cõi thứ hai, và tiếp tục như thế. Đó là lý do tại sao các chân sư thăng thiên của bầu cõi thứ sáu là những vị thày tâm linh nguyên thủy của các sinh thể chưa thăng thiên trong bầu cõi thứ bảy này.

Thày bắt đầu như một sinh thể, một sinh thể chưa thăng thiên, trong bầu cõi thứ bảy này như tất cả các con. Khởi thủy thày có những thày tâm linh từ bầu cõi thứ sáu nhưng sau đó, khi thày thăng thiên, thày nhận chức vụ Ki-tô Hoàn vũ cho Trái đất và do đó, ngày hôm nay thày đại diện cho khái niệm đó, cho dòng các thày tâm linh.

Con có thể nói: “Mục đích của một thày tâm linh là gì?” Khi con người lần đầu tiên nghe nói tới con đường tâm linh dẫn tới những tầng tâm linh cao hơn và nghe tới khái niệm là nên có và thậm chí cần thiết có một vị thày tâm linh, thì họ phóng chiếu một hình ảnh nào đó dựa trên cách họ nhìn các vị thày trên Trái đất. Hầu hết con người trên Trái đất lẽ tất nhiên đã đi học một dạng trường học nào đó trong đó họ ngồi thụ động, họ nhận bài giảng từ một vị thày đứng trước lớp hay trên bục cao và vị thày dạy họ kiến thức vỏ ngoài.

Nhiều người, lần đầu nghe tới con đường tâm linh, họ nghĩ vai trò người thày tâm linh là dạy họ một loại kiến thức vỏ ngoài nào đó giúp họ bước đi trên con đường tâm linh. Đôi khi, còn hơn thế nữa, nhiều đệ tử nghĩ vai trò vị thày tâm linh là cho họ một loại kiến thức bí mật nào đó, một loại kiến thức huyền bí nào đó sẽ giúp họ tiến dễ dàng và nhanh chóng trên con đường tâm linh. Những người này nghĩ tiến triển tâm linh chủ yếu là biết điều gì đó về cõi tâm linh nhưng cũng là biết tiến trình đưa tới tăng triển tâm linh. Nhiều người cũng phóng chiếu lên khái niệm người thày tâm linh là vị ấy phải cho họ một phân tích chi tiết về con đường tâm linh là gì.

29.2. Con đường tâm linh không phải là một tiến trình đường thẳng

Nói cách khác, đó là một tiến trình có hệ thống và đường thẳng giống như con thấy trong các trường học khi con học môn toán từng bước một, bắt đầu bằng học đếm, sau đó tới phép cộng, trừ, nhân, chia rồi sau đó là những dạng toán cao cấp hơn. Hoặc tỷ dụ giống như khi con học trong trường kỹ sư, con học cách tính toán để tạo ra một thiết bị công nghệ mới. Những điều này khiến nhiều người phóng chiếu lên người thày tâm linh ý tưởng là con đường tâm linh có thể giản lược thành một tiến trình đường thẳng có tính chất máy móc.

Khi thày nói máy móc, ý thày là con người phóng chiếu là vị thày tâm linh có kiến thức nào đó, công thức nào đó, khả năng nào đó. Điều này có nghĩa là bất cứ ai chịu ngồi xuống trước mặt vị thày và nghe thày truyền đạt kiến thức thì bảo đảm người đó sẽ đạt kết quả được quy định, có thể là một trạng thái tâm thức cao hơn, quả vị Ki-tô, khả năng dùng tâm làm chủ vật chất, thăng thiên hay bất cứ thành quả gì khác mà con người mong muốn khi đi trên con đường tâm linh. Nói cách khác, nhiều người tìm thấy một giáo lý tâm linh hay một vị đạo sư (hay ngay cả nghe tới khái niệm đạo sư tâm linh) và họ phóng chiếu vị đạo sư phải cho họ một phương cách máy móc để nâng cao tâm thức của họ, và phương cách này bảo đảm thành công nếu họ chỉ tuân theo các chỉ dẫn của vị thày.

Giờ đây, toàn bộ ý tưởng này từ đâu đến? Phải chăng nó đến từ cõi thăng thiên? Hay từ tâm Ki-tô? Các chân sư khác đã giải thích cẩn thận điều gì về tâm Ki-tô? Nó tìm cách kết hợp con với cội nguồn của con, với đấng Sáng tạo, nhưng nó làm trong khuôn khổ của Luật Tự quyết. Điều này có nghĩa gì? Nó có nghĩa là để hợp nhất với tâm Ki-tô, con phải lấy chọn lựa, chọn lựa có ý thức, chọn lựa có nhận biết.

Điều này nghĩa là gì? Điều này nghĩa là con có thể có hai người cùng ngồi nghe cùng lời hướng dẫn của cùng vị thày, nhưng không gì bảo đảm hai người này sẽ lấy cùng quyết định là đón nhận giáo lý, thể nhập và áp dụng nó. Điều này có nghĩa là vị thày tâm linh chân chính không dạy một con đường tu máy móc. Một vị thày tâm linh chân chính không thể bảo đảm kết quả. Không có gì bảo đảm con sẽ đạt được những kết quả đặc thù khi con theo một vị thày tâm linh chân chính, vì kết quả tùy thuộc những chọn lựa của con và những chọn lựa này là gì? À, chọn lựa thực, hay yếu tố quyết định thực là: con có sẽ áp dụng giáo lý không, con có sẵn lòng nhìn chính con, nhìn tâm lý của con không?

29.3. Tại sao đường tu không máy móc

Người đệ tử đạt tiến bộ nhiều nhất trên con đường tâm linh chân chính là người chịu nhìn vào cái đà trong mắt mình. Có thể có người đệ tử khác ít sẵn sàng hơn hay hoàn toàn không muốn làm gì hết, vì người đệ tử đó chờ đợi kết quả máy móc, bảo đảm. Có thể có những đệ tử nghe lời dạy của một vị thày thực sự, một vị thày tâm linh chân chính mà chẳng đạt được kết quả gì cả.

Khái niệm con đường tâm linh máy móc, có kết quả bảo đảm đến từ đâu? À, lẽ tất nhiên, nó dựa trên tự ngã và, như các thày đã giải thích tận tường, tự ngã luôn luôn tìm cách bù đắp bằng cách đạt một vị thế tối hậu nào đó trên thế gian. Trong cõi vật lý trên hành tinh Trái đất, con quả thực thấy có sắc thái máy móc trong sự vận hành của cõi vật chất. Tỷ dụ, con nhìn công nghệ hiện đại. Con nhìn khoa học, dưới chiêu bài muốn đạt khách quan, đã tìm cách giản lược vũ trụ thành một loại bộ máy. Nếu con biết một công thức nào đó, nếu con áp dụng một công nghệ nào đó, thì bất cứ ai áp dụng công thức đó có thể tạo ra cái máy nướng bánh mì cam đoan sẽ chạy tốt và nướng được bánh mì.

Sau đó tự ngã lý luận rằng bởi vì thế giới vật lý có những tính chất máy móc, thế giới tâm linh cũng phải máy móc và do đó phải có một con đường tâm linh máy móc. Giờ đây, lẽ tất nhiên, khái niệm vị thày có thể bảo đảm kết quả cũng đến từ sa nhân, nhưng ngay cả trước khi sa nhân tới Trái đất, tâm thức tập thể đã có một tin tưởng rằng nếu chúng ta có thể khiến mọi người tuân theo thế giới quan mà xã hội thời đó cổ xúy thì bảo đảm sẽ có kết quả. Hành tinh sẽ sống còn và sẽ có một xã hội lý tưởng trong một ngàn năm.

29.4. Thế nào là một vị thày giả?

Như các thày đã giải thích, quan điểm này đã kéo Trái đất vào một vòng xoáy tự tiêu hủy và đó là lý do tại sao sa nhân cùng với các avatar đã được phép hiện thân ở đây để phá vỡ tính đồng nhất này. Sa nhân lẽ tất nhiên đã phá vỡ tính đồng nhất đó và một phần trong cách họ làm là họ đã tôn họ lên thành những vị thày. Họ tuyên bố họ là những vị thày chân chính và điều họ làm là: Họ nhìn cư dân Trái đất, họ nhìn trạng thái tâm thức của người cư dân và họ nói: “Mục đích của chúng ta là làm cho những người này mù quáng đi theo chúng ta. Cách hay nhất để làm điều này là gì? À, chúng ta phải xem những người này muốn tin điều gì và sau đó chúng ta nói với họ là chúng ta có thể giúp họ đạt các mục tiêu mà họ muốn đạt, thế thì họ sẽ đi theo chúng ta.”

Con thấy đấy, các sa nhân có một mục tiêu rõ rệt. Mục tiêu đó không phải là nâng con người lên. Mục tiêu của họ là khiến con người thần phục sa nhân, trước tiên hết để con người cho họ năng lượng nhưng cũng để con người mù quáng đi theo họ. Sa nhân không quan tâm chuyện dạy điều gì chân chính hay có giá trị. Họ thực sự chỉ quan tâm: đâu là cách hay nhất để chúng ta lừa con người và đạt được mục tiêu của chúng ta? Họ thấy con người có khuynh hướng tin vào sự vận hành máy móc của vũ trụ và họ nói: “À thế thì chúng ta xây dựng ý tưởng có một con đường tâm linh dẫn tới thoát khổ và đạt những tầng nhận thức cao hơn, và chúng ta sẽ trình bày con đường này như một con đường máy móc mà nếu con người mù quáng đi theo chúng ta là các vị thày, thì chúng ta sẽ bảo đảm kết quả.”

Họ dựng lên những trường mà chúng ta có thể gọi là trường bí giáo giả, và họ gài bẫy được nhiều người tin và đi theo con đường đó. Họ làm điều này một phần vì những sa nhân ở các bầu cõi trước, thậm chí trước khi sa ngã, đã học được cách lợi dụng một số tính chất máy móc của vật chất để họ có thể đôi phần kiểm soát được vật chất. Điều này nghĩa là họ có thể làm lóa mắt con người bằng những thủ thuật mà chúng ta có thể gọi là trò ảo thuật.

Đây là một yếu tố khác khiến con người nghĩ: “Nhưng những vị này có thể tạo ra những hiện tượng này, như vậy giáo lý của họ phải có giá trị và nếu tôi đi theo con đường tâm linh này thì tôi cũng sẽ có thể có quyền năng làm chủ vật chất mà con người mong muốn, mà tự ngã mong muốn.” Bởi vì tự ngã muốn gì? Tự ngã tối hậu muốn có quyền năng làm chủ vật chất. Con thấy ở đây, một lần nữa, các thày không trách cứ ai cả. Các thày chỉ đơn giản chỉ ra điều sau: Con đang sống trên một hành tinh gọi là Trái đất, hành tinh này phi tự nhiên, nó có một tâm thức tập thể rất dày đặc. Nơi đây có những sa nhân đã từ rất lâu phóng chiếu một con đường tâm linh giả, cho nên điều không thể tránh là con đã bị ảnh hưởng (trong kiếp này hay các kiếp trước, điều này không quan trọng). Khi con tìm thấy giáo lý của các chân sư thăng thiên thì có thể nói là con mang theo trong con lập trình là con đường tâm linh phải có một số khía cạnh máy móc. Điều các thày đã cẩn thận làm qua người sứ giả này, hầu như ngay từ lúc ban đầu, là các thày nhẹ nhàng chất vấn quan điểm này, nhẹ nhàng và dần dần, bởi vì các thày thấy có nhu cầu phải nhẹ nhàng và dần dần trong việc chất vấn này.

29.5. Chất vấn hình ảnh con đường tâm linh máy móc

Tỷ dụ, chúng ta thấy trong các đợt truyền giáo trước, hầu hết mọi người tin rằng nếu họ thỉnh cầu đủ Ngọn lửa Tím, chỉ làm công việc ấy thôi là họ đủ điều kiện thăng thiên. Việc đọc chú có một khía cạnh máy móc, theo nghĩa là đọc chú tạo một hiệu quả nào đó. Đọc chú từ trái tim với dòng chảy mạnh từ Thánh Linh xuyên qua các bài chú tạo một hiệu quả lớn hơn. Dù sao chăng nữa, việc con đọc các bài chú quả thực tạo ra một kết quả. Nó cân bằng nghiệp quả, nó chuyển hóa năng lượng dựa trên sợ hãi nơi ba thể phàm cao của con và điều này giúp con tăng triển trên con đường tâm linh. Như các thày đã giải thích rất nhiều lần qua người sứ giả này, trừ phi con cũng giải quyết tâm lý của con thì con sẽ chỉ tiến lên tới một mức nào thôi. Các thày trong một thời gian dài đã trình bày con đường tâm linh dưới một góc nhìn khác, đó là con đường tâm linh không máy móc vì yếu tố quyết định giúp con tiến bộ là con sẵn lòng áp dụng giáo lý vào chính mình, con nhìn vào tâm tiềm thức của mình và con giải quyết những cái mà các thày gọi là ngã tiềm thức.

Lúc trước các thày gọi nó là tự ngã, nhưng ngày nay thày đã cho con giáo lý cao hơn để con nhận ra tự ngã không là một thực thể to lớn và không định hình được, khó thấy và khó tương tác với nó, trong khi điều dễ làm hơn là con nhìn một ngã đặc thù và khắc phục nó. Dù sao chăng nữa, thày muốn con nhận ra là trong một thời gian rất lâu trên Trái đất, chắc chắn là kể từ lúc sa nhân được phép hiện thân ở đây, đã có hai con đường khác nhau được đưa ra trên Trái đất. Một con đường máy móc mà các thày cũng gọi là con đường vỏ ngoài và một con đường thần bí bên trong.

Điều này cho con một khung tham chiếu để lượng định những giáo lý hay phong trào hay đạo sư tâm linh con đã gặp trong kiếp sống này. Tại sao con cần làm điều này khi giờ đây con đã rời các phong trào này và tiến tới giáo lý chân sư thăng thiên? À, đó là vì có lý do vì sao con gặp các phong trào tâm linh và giáo lý đó. Con bị thu hút bởi những phong trào này vì chuyện đó nằm trong Sứ vụ Thiêng liêng của con và đằng sau có thể có nhiều lý do. Một trong những lý do áp dụng cho hầu hết các con là con quả thực cần có một trải nghiệm với những giáo lý khác nhau và hầu hết các con cần trải nghiệm ít nhất một giáo lý máy móc hơn, vỏ ngoài hơn.

29.6. Cần những người có thể dạy con đường nội tâm

Một phần là qua đó con gia tăng khả năng phân biện của con, nhưng chuyện đó cũng giúp con có khả năng dạy người khác, tiếp cận những người chưa nhìn thấu đường tu máy móc là giả. Bởi vì khi chúng ta tiến vào Thời đại Hoàng kim của Saint Germain thì điều tối quan trọng là có những người đang hiện thân có thể nói lên sự khác biệt giữa con đường tu máy móc và con đường tu nội tâm. Để thị hiện Thời đại Hoàng kim của Saint Germain trong một khung thời gian không quá xa thì các thày cần càng nhiều người tâm linh càng tốt, và chắc chắn là cần phần lớn các avatar, tới điểm nhận ra con đường nội tâm và đi theo con đường nội tâm.

Điều này không có nghĩa là thày nói tất cả những người này cần nhận ra giáo lý chân sư thăng thiên hay giáo lý được truyền qua người sứ giả này, nhưng họ cần nhận ra sự khác biệt giữa con đường máy móc và con đường nội tâm. Lẽ tất nhiên, có những đạo sư, giáo lý, tổ chức khác dạy con đường nội tâm dưới bất kỳ dạng nào mà con người có thể cảm và cộng hưởng được. Các thày hoàn toàn không có mục đích nói là giáo lý chân sư thăng thiên hay một tổ chức hay một sứ giả đặc thù nắm độc quyền con đường nội tâm.

Điều này cơ yếu vì sa nhân lẽ tất nhiên có thể thấy tiềm năng của Thời đại Hoàng kim của Saint Germain. Họ có thể thấy là nó chưa được thị hiện xuống tới điểm có thể bảo đảm là sẽ có Thời đại Hoàng kim, ít nhất là trong tương lai gần. Họ thấy là nếu họ không hoàn toàn ngăn được Thời đại Hoàng kim xảy ra, ít ra họ có thể trì hoãn nó. Chìa khóa để trì hoãn là họ làm việc trên những người có tiềm năng thị hiện quả vị Ki-tô, là số 10.000 người đang hiện thân có tiềm năng thị hiện quả vị Ki-tô trọn vẹn, và mấy triệu người có thể thị hiện một mức quả vị Ki-tô cao. Sa nhân thấy là nếu họ có thể giữ những người này trên con đường máy móc, thì ít nhất họ có thể trì hoãn sự thị hiện của Thời đại Hoàng kim của Saint Germain.

Cho nên lẽ tất nhiên các thày thấy là chìa khóa thiết yếu để thị hiện thời đại hoàng kim trong ngắn hạn, là giúp số đông những người này đi theo con đường nội tâm dưới bất kỳ hình thức nào họ có thể theo được. Con có thể nói là một phương cách mà một số các con có thể áp dụng, và nó ở trong sứ vụ thiêng liêng của con, là con không cần dạy giáo lý chân sư thăng thiên, con không cần cổ xúy đợt truyền giáo này. Con có thể dạy một cách chung chung sự khác biệt giữa con đường vỏ ngoài và con đường nội tâm, giữa con đường máy móc và con đường sáng tạo.

29.7. Dòng tông những vị thày chân chính

Khi thày đại diện Ki-tô Hoàn vũ cho Trái đất thì thày còn đại diện cho ai? À, lẽ tất nhiên thày đại diện cho dòng tông của những vị thày chân chính, những vị thày đã hợp nhất với tâm Ki-tô. Thày cũng đại diện cho sự kiện là trên Trái đất, hầu hết con người đã đánh mất mối quan hệ với các thày tâm linh của họ. Nhiều người thậm chí còn mất luôn khái niệm thày tâm linh, họ không biết là có những vị thày tâm linh. Con thấy câu truyện vườn Đia đàng thể hiện điều này khi Adam và Eve lúc đầu tiếp xúc được với sinh thể được gọi là Thượng đế, nhưng sự thực là một vị thày tâm linh. Sau đó, vì họ không tuân theo hướng dẫn của của vị thày, họ bị rơi ra khỏi thiên đường và mất liên lạc với vị thày. Lúc đó họ phải sinh nhai bằng mồ hôi nước mắt, là biểu tưởng của Trường đời Cay Đắng, thay vì học trong Trường học Nhận thức Cao hay chỉ đạo nội tâm.

Trước đây lâu rồi thày đã truyền đạt cuốn sách Chìa khóa Cốt yếu cho Tự do Tâm linh và mục đích của sách này là kết nối con người trở lại với vị thày tâm linh của họ. Đó là lý do tại sao trong sách thày rất cẩn thận giúp con hiểu được tại sao con mất liên lạc với vị thày và những người khác nhau đã lấy những quyết định khác nhau nào khiến họ mất liên lạc với vị thày. Thày cố gắng giúp các con tái lập mối liên lạc, lấy lại liên lạc đó.

Theo một góc nhìn nào đó, con có thể nói tất cả những giáo lý mà các thày đã trao truyền trong cương vị chân sư thăng thiên, từ Phong trào TA LÀ tới ngày nay, đều có cùng một mục đích: kết nối con trở lại với các vị thày tâm linh. Tuy nhiên, chỉ với đợt truyền giáo này các thày mới trao truyền được những giáo lý có thể giúp con thấy tại sao ngay từ đầu con lại tách ra khỏi vị thày tâm linh. Bởi vì chỉ với đợt truyền giáo này các thày mới trao truyền những giáo lý sâu sắc hơn về tâm lý.

Thí dụ, nếu con lấy giáo lý trong Sáng thế ký thì con có thể tin rằng cho dù đây là Vườn Địa đàng được coi là do Thượng đế tạo ra, vẫn có một con rắn trong vườn và nó đã có thể lừa Adam và Eve để họ bị văng ra khỏi vườn. Nhiều người đã tự hỏi: À, nếu Thượng đế đã tạo ra Vườn Địa đàng và Thượng đế tốt và toàn hảo, vậy tại sao ngài lại đặt một con rắn trong vườn? Mục đích của Thượng đế là gì khi làm thế? Lẽ tất nhiên, các thày đã giải thích đây là một biểu tượng. Rắn có thể xem là biểu tượng cho sa nhân, các thày giả. Điều này được nhấn mạnh tỷ dụ trong phong trào Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse). Tuy thế, ngay cả nếu lúc đầu sa nhân có thể khiến con đi theo con đường giả, thì con vẫn cần đi sâu hơn và tự hỏi: Tại sao sa nhân làm con mê muội được? Làm sao sa nhân lừa con được? Lẽ dĩ nhiên, đó là vì tâm lý của con.

29.8. Nối kết lại với vị thày tâm linh của con

Giờ đây một lần nữa, các thày hoàn toàn không trách cứ con vì con đã tin con đường giả. Chúng ta đang ở trên Trái đất. Các thày đã từng hiện thân trên Trái đất. Các thày cũng đã một thời theo con đường giả nhưng các thày đã vượt qua nó. Do đó, các thày biết con cũng làm được và lẽ tất nhiên mục đích của các thày là giúp con làm. Con thấy ở đây: Rắn thực sự tượng trưng cho điều gì nếu nhìn một ở một tầng sâu sắc hơn? À, nó giản dị biểu tượng cho sự việc là do bản chất của quyền tự quyết, như các thày đã giải thích trước đây, con phải có được khả năng chọn đi vào tách biệt. Đi vào tách biệt nghĩa là sao? À, một khía cạnh của nó là con tách ra khỏi vị thày tâm linh mà con có lúc đầu.

Từ lúc con được sinh tạo ra, cho dù con là một cư dân nguyên thủy của Trái đất hay là một avatar đến từ một hành tinh tự nhiên, con có một vị thày tâm linh. Đây là tình trạng tự nhiên. Để con có thể có toàn bộ phạm vi quyền tự quyết, con phải có khả năng tách mình ra khỏi vị thày tâm linh. Làm sao con làm được chuyện này? Không vì con bị sa nhân lừa. Không vì con phạm một lỗi lầm. Con chỉ có thể làm được bằng cách lấy một oquyết định.

Giờ đây, như thày đã cố giải thích trong sách của thày, nhiều người không hoàn toàn ý thức quyết định của họ có ý nghĩa gì vì họ không hiểu đầy đủ đi vào nhị nguyên, thử nghiệm tâm thức nhị nguyên, nghĩa là gì. Thày cũng giải thích là một phần của sự tăng trưởng của con về hướng quả vị Ki-tô là con quả thực phải thử nghiệm với tâm thức nhị nguyên. Mục tiêu đầu tiên của vị thày của con là con không bắt đầu thử nghiệm tâm thức nhị nguyên khi con chưa sẵn sàng. Sau đó, mục tiêu khác là con đi vào tâm thức nhị nguyên và sau một thời gian ngắn con bước ra, con tham khảo ý kiến vị thày, hiểu sâu sắc hơn cách nhị nguyên vận hành, trở vào nhị nguyên, trở về vị thày – cứ đi ra đi vào như thế.

Có một lúc con lấy quyết định, không phải quyết định vĩnh viễn, mãi mãi, nhưng ít nhất là tạm thời, tách ra khỏi vị thày và có một lý do con lấy quyết định đó. Cách duy nhất để con trở về với vị thày là con trở lùi về và tìm lại quyết định đó để con có thể một cách ý thức thay thế quyết định cũ bằng quyết định mới muốn trở về với vị thày, muốn kết nối lại với vị thày. Điều này đòi hỏi con phải nhìn thật sâu vào tâm lý của mình bởi vì với đại đa số người trên Trái đất, quyết định bỏ vị thày xảy ra cách đây rất lâu lắm. Với mỗi người, khung thời gian khác nhau, cho nên thày không cho con một thời điểm cụ thể nhưng nó đã xảy ra cách đây rất lâu năm. Điều này có nghĩa là con đã đầu thai nhiều nhiều kiếp trên Trái đất sau khi sa nhân tới và Trái đất trở thành một hành tinh phi tự nhiên.

Cho nên, con hấp thụ vào tâm nhiều chuyện. Con đã xây dựng nhiều lớp khác nhau trong tâm tiềm thức và chúng che giấu quyết định tách ra khỏi vị thày này. Con cần bỏ thời giờ để giải quyết những quyết định mà chúng ta có thể gọi là ở các tầng cao của tâm tiềm thức đó trước khi con có thể chạm tới những tầng sâu hơn. Một phần của các tầng sâu này lẽ tất nhiên là chấn thương nhập đời của con, ngã gốc của con. Quả thực, như một avatar, con bị chấn thương nhập đời ở trên Trái đất nhưng với một số avatar, tiến trình tách ra khỏi vị thày đã bắt đầu trên hành tinh tự nhiên.

29.9. Quyết định tới Trái đất của con

Giờ đây, chuyện này có vẻ mâu thuẫn vì trên một hành tinh tự nhiên con có liên hệ tốt với một vị thày. Nó thực sự xảy ra sau khi con bắt đầu tính chuyện hiện thân xuống một hành tinh phi tự nhiên, sau khi con bắt đầu ý thức là có các hành tinh phi tự nhiên. Chuyện xảy ra lúc đó là con có phần nào hiểu biết về tâm thức nhị nguyên và con đã thử nghiệm tâm thức này trên hành tinh tự nhiên của con. Đó là lý do tại sao con đã đạt tới khoảng mức cao nhất có thể đạt được trên một hành tinh tự nhiên và con đang tìm cách để tăng triển thêm nữa.

Lúc đó con nhận ra có những hành tinh phi tự nhiên nơi hầu hết con người bị kẹt trong nhị nguyên, bị mù quáng bởi nhị nguyên, không biết có cái gì khác ngoài nhị nguyên. Trong tâm con khởi lên mong muốn giúp những hành tinh này và con cũng nhận ra có một hành tinh tên là Trái đất. Các thày là các chân sư thăng thiên có kế hoạch cho phép sa nhân hiện thân tại đó và cho phép avatar hiện thân để giữ cân bằng. Con khởi lên mong muốn tham gia vào tiến trình này, nhưng con không sẵn lòng nghe theo vị thày đang cố gắng chỉ cho con thấy công tác này khó khăn chừng nào. Vị thày cố gắng cho con biết là không ai có thể hiện thân trên trái đất mà không bị kẹt vào nhị nguyên. Con không thể thực sự nghe thấy lời này vì con nghĩ: “Nhưng tôi đã vượt qua tất cả những khảo hạch trên hành tinh tự hiên của tôi. Tôi đã khắc phục tất cả những thử thách trên hành tinh tự nhiên này. Khảo hạch mới trên một hành tinh phi tự nhiên đâu có khó đến như vậy?” Giờ đây thày đang nói “con”, nhưng thày cũng có thể nói “chúng ta” bởi vì những người trong số chúng ta đã thăng thiên từ Trái đất, đa số chúng ta đều có thái độ tương tự trước khi tới Trái đất.

Như người sứ giả này đã tự nhận ra, ông có khuynh hướng lạc quan: “Chắc chắn là tôi sẽ có cách giải quyết.” Thày không nói đây là một thái độ ngạo mạn. Thái độ này dựa trên kinh nghiệm của con trên hành tinh tự nhiên vì con đã có thể giải quyết, vượt qua bất cứ thách thức nào mà con gặp. Nhiều người trong các con có cùng thái độ lạc quan đó. Thử thách trên hành tinh mang tên Trái đất này có thể khó khăn tới chừng nào? Một lần nữa, các thày không trách cứ các con. Các thày chỉ đơn giản chỉ cho con thấy tiến trình tâm lý và giúp con nhận ra: Đúng rồi, điều quan trọng là trở về quá khứ và giải quyết chấn thương nhập đời hoàn vũ và ngã gốc mà con đã tạo ra sau khi con tới Trái đất và gặp các sa nhân. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là con trở về hành tinh tự nhiên và tiếp xúc với điều gì trong tâm lý đã khiến con quyết định xuống Trái đất. Điều gì trong tâm lý của con trên hành tinh tự nhiên đã phần nào tạo khung cảnh, tạo thông số cho toàn bộ tương tác của con với hành tinh Trái đất, cho phản ứng của con với hành tinh Trái đất.

Con có thể nói, dưới một góc nhìn nào đó, là nếu con đã hoàn toàn nghe theo vị thày tâm linh trên hành tinh tự nhiên, nếu con đã tuân theo tất cả những hướng dẫn của vị thày và chuẩn bị tối ưu trước khi tới Trái đất, thì con có thể nào tới Trái đất và không đi vào nhị nguyên chăng? Câu trả lời là không. À, trên lý thuyết thì là có, nhưng trên thực tế thì không, tại sao vậy? Bởi vì con ở đây để chứng minh điều gì cho con người trên Trái đất? Cơ bản là con ở đây để chứng minh con có thể đi vào nhị nguyên, như họ đã làm, và con có thể vươn lên khỏi nhị nguyên, như họ có thể làm, và hy vọng họ sẽ tin như thế khi thấy một người khác làm được. Nếu con không đi vào nhị nguyên thì làm sao con có thể chứng minh cho người khác cách vươn lên khỏi nhị nguyên? Nếu con không bắt đầu như em bé chỉ biết bò, làm sao con chứng minh con học đi như thế nào?

Một lần nữa, các thày không trách cứ con, nhưng mục đích của thày ở đây là nói con, như một avatar, có thêm một tầng nữa trên con đường tới quả vị Ki-tô và đó là con nhìn trở về quá khứ và tìm ra lý do tại sao con tới Trái đất, tại sao con lấy quyết định tới Trái đất, và lúc đó con nhìn Trái đất như thế nào, con nhìn con như thế nào trong tương quan với Trái đất, và con có thể làm gì và khắc phục được gì trên Trái đất. Hầu hết các con có thái độ lạc quan mà thày đã đề cập, và con thấy đấy, thày muốn con lấy lại thái độ đó nhưng lần này con thực tế hơn so với trước khi con tới Trái đất, khi con chỉ nhìn xuống Trái đất và nói: “Tình trạng có thể tệ hơn chăng?” Giờ đây thì con đã biết tình trạng tệ thế nào nên con có thể lấy lại thái độ lạc quan đó nhưng dựa trên một nền tảng thực tế không phải là mơ mộng hão huyền.

29.10. Con có lầm lẫn chăng khi tới Trái đất?

Từ góc nhìn của Ki-tô hoàn vũ, các thày có thể nói: “Con có lầm lẫn không khi tới Trái đất với thái độ đó?” Không, bởi vì tiềm năng của các con như một avatar là gì? Bởi vì con đã trải nghiệm sự dày đặc, vi tế, khó khăn của tâm thức nhị nguyên, nên sau khi thăng thiên con có tiềm năng làm việc trong văn phòng của Ki-tô Hoàn vũ để dạy người khác, không những dạy những sinh thể chưa thăng thiên. Con có thể dạy ngay cả các sinh thể thăng thiên chưa hề hiện thân trên một hành tinh, một hành tinh phi tự nhiên, chưa đi vào nhị nguyên. Con có thể dạy họ tâm mình như thế nào khi ở trong tâm thức nhị nguyên để họ hiểu trọn vẹn hơn nhị nguyên là gì và sự tương phản giữa tâm thức tách biệt và tâm thức Ki-tô. Con có thể nói, như các thày đã giải thích, là các bầu cõi dần dần trở nên dày đặc hơn và điều này có nghĩa như Giê-su đã nói: “Kẻ đi chót sẽ là kẻ đi trước và kẻ đi trước sẽ trở thành kẻ đi chót.”

Điều này có nghĩa là giờ đây có những sinh thể thăng thiên trên những bầu cõi cao hơn đã thăng thiên bằng cách vượt qua sự cám dỗ đi vào nhị nguyên, nhưng họ đã làm điều này trong một bầu cõi nơi tâm thức nhị nguyên không dày đặc và có những biểu hiện như trên Trái đất. Trong ba bầu cõi đầu, không có ai đi vào nhị nguyên hoàn toàn, cho nên họ không trải nghiệm thế nào là đi vào nhị nguyên và vươn lên khỏi nhị nguyên. Điều này thực sự có nghĩa là những ai trong các con có thể thăng vượt nhị nguyên, có thể thăng thiên từ một hành tinh dày đặc như Trái đất, các con có thể trở thành những vị thày hoàn vũ. Văn phòng Ki-tô Hoàn vũ cho Trái đất lẽ dĩ nhiên nối kết với văn phòng Ki-tô Hoàn vũ có mặt nơi tất cả các bầu cõi khác. Điều này có nghĩa là một số trong các con có tiềm năng đi lên các bầu cõi cao hơn và dạy những sinh thể ở đó chưa trực tiếp trải nghiệm nhị nguyên. Lẽ dĩ nhiên, trước khi con có thể dạy những sinh thể đã thăng thiên, con phải thăng vượt được nhị nguyên. Trước khi con có thể dạy, con phải làm. Lẽ dĩ nhiên mục đích của các thày là giúp con làm hay đúng hơn giúp con tháo bỏ cái con đã làm – tháo bỏ nhị nguyên. Con có thể làm việc gì đó để đi vào nhị nguyên, con không thể làm việc gì khác để đi ra khỏi nhị nguyên nhưng con phải tháo bỏ cái con đã làm để thoát ra.

29.11. Vị thày có thể làm được gì cho con?

Có thể nói đây là mục tiêu của các thày trong tất cả những giáo lý mà các thày đã đưa ra, và tất cả đều xoay quanh khái niệm người thày. Lẽ tất nhiên, điều mà các sa nhân phóng chiếu là: Có một vị thày bên ngoài có thể làm hộ con một điều gì đó mà con không tự mình làm được. Con hãy nhìn Cơ đốc giáo đã biến Giê-su thành vị cứu thế bên ngoài có thể cứu con người không thể tự cứu được. Con hãy nhìn truyền thống đạo sư Ấn độ, họ tin rằng vị đạo sư đã đạt một mức thành đạt khiến ông có thể khai mở điều gì đó trong con, ông có thể làm hộ con một điều gì sẽ giúp con vươn lên một trạng thái tâm thức cao hơn, nhưng con không thể nào tự mình làm điều đó được.

Như các thày đã giải thích tường tận trước đây một cách rất chi tiết, có điều thật và điều giả trong các quan niệm trên. Phải, con không thể bước ra khỏi nhị nguyên bằng sức của riêng mình. Điều đó đúng, nhưng điều con cần là tâm thức Ki-tô để ra khỏi nhị nguyên. Do đó, lời nói dối là con chỉ có thể nhận được tâm thức Ki-tô từ một vị thày bên ngoài. Bởi vì con tối hậu nhận được tâm thức Ki-tô từ đâu? Từ bên trong. Vương quốc Thượng đế ở bên trong con. Một vị thày bên ngoài chân chính sẽ làm gì? Vị ấy sẽ giúp con tiếp xúc với tâm thức Ki-tô trong chính con.

Đây là lý do tại sao người sứ giả này giải thích là khi con vươn lên trong tâm thức Ki-tô, con ngừng không tách mình ra riêng, con ngừng không nâng mình lên vị thế cao hơn người khác và con biểu hiện mình nhiều hơn như tấm gương của một người đi trên một con đường tâm linh mà tất cả mọi người đều có thể noi theo. Điều này áp dụng cho những người đang hiện thân, không nhất thiết áp dụng cho các chân sư thăng thiên, bởi vì cơ chế vận hành khác đi khi con thăng thiên. Dù sao chăng nữa, tâm thức Ki-tô là chìa khóa và tâm thức Ki-tô chỉ nhận được từ bên trong. Con vẫn có thể thấy nó nơi một người khác ở bên ngoài con, nhưng nếu con cứ phóng chiếu là tâm thức Ki-tô chỉ có nơi người đó và chỉ người đó mới giải thoát con được, thì con không nhận được tâm thức Ki-tô từ bên trong con – và con cũng không thể nhận nó từ bên ngoài. Thày không thể xuống Trái đất và trao cho con tâm thức Ki-tô từ bên ngoài, vả thày cũng không muốn làm điều đó. Sa nhân tuyên bố là họ có một điều gì mà họ có thể cho con, một điều mà con không có được từ bên trong, có được từ bên ngoài và đấy là con đường tâm linh giả.

29.12. Tại sao con cần một vị thày bên ngoài

Một số người trong các con sẽ sẵn sàng áp dụng giáo lý này. Có thể con lấy ra và đọc lại sách của thày nếu con đã đọc qua một lần. Con hãy đọc với hiểu biết cao hơn về cách làm tan các ngã tiềm thức và con hãy thay đổi cái nhìn của con về vị thày tâm linh. Giờ đây con có thể nói, và đây là một câu hỏi có lý: “Tại sao con cần một vị thày mà con thấy là ở bên ngoài con để con tiếp xúc được với tâm thức Ki-tô bên trong con? Tại sao con không đơn giản tiếp xúc với tâm thức đó bên trong con? Tại sao con không đơn giản tiếp xúc bên trong?” À, trên lý thuyết thì con có thể làm được nhưng thực tế trên một hành tinh dày đặc như Trái đất thì không thể làm được, nhưng con cũng cần một vị thày vì một số lý do quan trọng mà con cần biết.

Trước tiên hết, con cần học là có một con đường tâm linh là một chọn lựa khác với trạng thái tâm thức bình thường trên Trái đất. Con cần nhận ra là có một tiến trình có hệ thống để đi theo nhưng đây không phải là một con đường tu máy móc. Con cần vị thày cho con một hiểu biết về con đường tu và cách nó vận hành. Sau đó con cũng cần một vị thày có thể chứng minh cho con là con đường tu thực sự hiệu quả. Nó không phải chỉ lý thuyết mà thôi, nó thực tế vì vị thày đã đạt một tầng tâm thức cao hơn. Chỉ khi nào con thực sự gặp hoàn cảnh này, gặp gỡ một người đã đạt một tầng tâm thức cao hơn con, thì con mới có thể thực sự bắt đầu chấp nhận là đường tu có hiệu quả và con có thể đạt một tầng tâm thức cao hơn.

Vượt lên trên những yếu tố trên là một yếu tố quan trọng quả thực còn áp dụng sau khi con thăng thiên. Chúng ta có thể nói là điều mà thày sẽ nói với con ở đây là điều con chỉ có thể thực sự áp dụng sau khi con thăng thiên nhưng nếu con không hiểu nó thì con sẽ rất khó thăng thiên được. Điều con cần làm ở đây là nhìn Trái đất và thấy mọi chuyện đều bị chi phối bởi tâm thức nhị nguyên. Có nghĩa là mọi người cư xử với nhau như những sinh thể tách biệt. Tỷ dụ con thấy trong giới kinh doanh trong vài thập niên vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nói tới quan niệm đồng đội, nhu cầu xây dựng tinh thần đồng đội và huấn luyện nhân viên cách làm việc trong nhóm, cộng tác với nhau để đạt một mục tiêu chung – nhưng các nỗ lực này được áp đặt từ bên ngoài. Trên cõi thăng thiên các thày không cần được huấn luyện về tinh thần đồng đội. Các thày là một đội. Tại sao? Vì tất cả các thày đã hợp nhất với Tâm Một, tâm thức Ki-tô. Các thày đều thấy mình là một với nhau nhưng điều này vượt quá bất cứ gì con có trên Trái đất.

Giờ đây con có thể nói là một quan hệ gần gũi lý tưởng là cách giúp hai người khắc phục cảm giác tách biệt và đi đến hài hòa và hợp nhất. Có thể xem đây là sự chuẩn bị cho họ nếu mối quan hệ thành công. Dù sao, sự hợp nhất mà con có sau khi thăng thiên hoàn toàn khác điều con có thể có trên Trái đất.

29.13. Trên Trái đất khó nắm bắt được hợp nhất

Thày biết là khi thày nói với con hai từ “là một”, hay“hợp nhất”, thì con khó nắm bắt ý nghĩa vì có quá nhiều phóng chiếu trên Trái đất về ý niệm hợp nhất. Tự ngã sẽ ngay lập tức tạo nên một khái niệm về hợp nhất dựa trên tách biệt. Con thấy đấy, khi con đạt tâm thức Ki-tô, tâm thức Ki-tô trọn vẹn, thì hợp nhất không phải là cái gì con cần học. Nó không phải là điều gì con làm. Nó không phải là điều gì con cần thực hiện. Nó giản dị là tâm thức Ki-tô trở thành con người mà con là. Con không còn là một sinh thể tách biệt. Con không hoàn toàn khắc phục tách biệt cho tới khi con thăng thiên, nhưng khi con thăng thiên, tách biệt tan biến đi.

Giờ đây ngay cả một chân sư thăng thiên cũng cần thời gian để hoàn toàn thể nhập ý niệm hợp nhất. Con có thể nói là như một chân sư mới thăng thiên, con có thể đạt một mức hợp nhất vượt rất xa sự hợp nhất con thấy trên Trái đất nhưng chắc chắn là rất xa sự hợp nhất con thấy trên bầu cõi thứ nhất chẳng hạn. Do đó có nhiều tầng mức hợp nhất lên tới tận tâm thức đấng Sáng tạo. Tuy vậy, sự xoay chuyển từ một sinh thể chưa thăng thiên lên một sinh thể thăng thiên thật vĩ đại. Con quả thực không thể nào tưởng tượng điều này từ tầng chưa thăng thiên. Tuy vậy, con rất cần nhận ra điều này vì nó giải thích tại sao con cần có một vị thày tâm linh trước khi con thăng thiên. Bởi vì trường hợp lý tưởng là con bắt đầu tiếp xúc với một chân sư thăng thiên bên trong chính con. Lúc đầu con thỉnh thoảng tiếp xúc với một vị thày và con nhận một số hướng dẫn. Khi sự tiếp xúc gia tăng thì con bắt đầu cảm thấy con kết nối với vị chân sư đó. Khi sự kết nối của con gia tăng thì con có thể tới điểm cảm thấy con hợp nhất với vị chân sư. Khi con trải qua tiến trình này ở các tầng cao hơn của quả vị Ki-tô ở trên tầng 96, thì con chuẩn bị mình cho sự xoay chuyển đi vào tâm thức thăng thiên khi con ở trong tâm một. 

Giờ đây, các thày đã giải thích rất cặn kẽ ở đây, như thày Chỉ đạo Thiêng liêng đã giải thích, là các khái niệm đúng sai đơn giản không hiện hữu trong tâm thức Ki-tô. À, khái niệm tách biệt cũng vậy, nó không hiện hữu trong tâm thức Ki-tô và nó không hiện hữu trong cõi thăng thiên! Quả đúng là, lẽ dĩ nhiên, các thày là chân sư thăng thiên có thể nhìn xuống một hành tinh như Trái đất và thấy con người đang ở trong tâm tách biệt, nhưng các thày cũng thấy tâm này không có thực và đó là lý do tại sao thày nói là tâm này không hiện hữu vì nó chẳng có thực tại gì cả đối với các thày. Các thày thấy tâm này không có thực và nếu con có thể bắt đầu làm tan đi cảm nhận tách biệt với cái ta cao của con, và với vị thày tâm linh của con, thì con sẽ gia tốc tiến trình dẫn tới thăng thiên. Con cũng sẽ chuẩn bị mình để xoay chuyển vào trạng thái tâm thức thăng thiên.

29.14. Con thực sự cần gì để thăng thiên

Giờ đây trong tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh có khái niệm là có sự đặc miễn cho phép con có thể thăng thiên khi đã quân bằng 51 phần trăm nghiệp quả. Các người trong tổ chức đó tạo ra hình ảnh là nếu một người đã quân bằng nhiều hơn 51 phần trăm nghiệp quả, thì người đó sẽ trở thành một chân sư thăng thiên sau khi thân vật lý qua đời. Thậm chí họ còn cho rằng khi một người vừa thăng thiên thì người đó sẽ đảm nhận vị trí của một chân sư thăng thiên nào đó. Đây không phải là một cách nhìn thiết thực vì nếu con chưa quân bằng trọn vẹn nghiệp quả, nếu con chưa giải quyết tất cả tâm lý nhị nguyên của con, thì con không thể xoay chuyển vào tâm thức thăng thiên. Có một số người đã đạt trình độ không bị nghiệp bắt buộc phải đầu thai trở lại trên Trái đất, nhưng điều này không có nghĩa là họ có thể thăng thiên. Chắc chắn điều này không có nghĩa là họ trở thành một chân sư thăng thiên. Họ phải trải qua một tiến trình thường khi lâu dài để trút bỏ lớp da rắn của tâm tách biệt, tâm thức tách biệt, và đón nhận tâm một của tâm thức Ki-tô.

Con nhìn lại trường hợp người sứ giả của tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh đã bị bệnh và chủ yếu mất khả năng sinh hoạt bên ngoài trong một số năm trước khi bà rời thân vật lý. Bà đã chọn trải qua tiến trình buông bỏ những yếu tố cuối cùng của tách biệt càng nhanh càng tốt và đón nhận tâm một, tâm một trọn vẹn của trạng thái thăng thiên. Bà cảm thấy là bà có thể làm điều này nhanh hơn nếu bà giữ một thân thể vật lý tuy không có khả năng sinh hoạt bình thường. Có những sinh thể, những người đã quân bằng 51 phần trăm nghiệp quả và không phải trở lại đầu thai, nhưng họ cần nhiều thời gian hơn để thực hiện tiến trình này. Cũng có một số đã chọn đầu thai trở lại, dù họ đã quân bằng 51 phần trăm nghiệp quả, vì họ nhận ra là giải quyết mọi chuyện khi ở trong thân vật lý sẽ nhanh hơn là khi làm việc này ở ngoài thân vật lý.

Con thấy là ở đây, như các thày đã nói trước kia, các thày bắt đầu trao truyền giáo lý ở một mức nào đó dựa trên tâm thức tập thể. Sau đó, các thày dần dần trao truyền những giáo lý cao hơn. Lúc đầu các thày trao truyền một phiên bản giản lược về điều kiện thăng thiên. Tỷ dụ, trong Phong trào TA LÀ, các thày nói tới máy gia tốc nguyên tử (các con có thể nói đây là một thiết bị khá máy móc nếu quả thực có thể chế tạo được) và ngày hôm nay, các thày lại cho các con tầm nhìn là thăng thiên là một tiến trình phức tạp và đòi hỏi con tham gia nhiều hơn rất nhiều. Nó phức tạp vì khi các bầu cõi trở nên dày đặc hơn, tiềm năng đi vào nhị nguyên và tách biệt đã gia tăng.

29.15. Đi vào tách biệt thực sự nghĩa là gì

Các sinh thể thực sự làm gì khi họ đi vào tách biệt? Họ dùng tâm tách biệt để tạo điều gì có vẻ thực với họ. Như các thày đã giải thích, những sinh thể đầu tiên sa ngã ở bầu cõi thứ tư, họ sa ngã xuống bầu cõi thứ năm. Bầu cõi thứ năm không dày đặc như bầu cõi của các con – của chúng ta. Có một giới hạn cho việc con người có thể lún sâu vào sự tách biệt đến mức nào, và giới hạn cho cả những ảo tưởng mà họ có thể tạo ra từ tâm thức nhị nguyên vốn dĩ luôn có vẻ rất thực đối với họ. Đơn giản là có một số điều không có vẻ thực được vì rung động của bầu cõi cao hơn. Bầu cõi của con dày đặc hơn cho nên có thể nói là con có thể tạo ra những thế giới trong tâm con có vẻ thực một khi con ở trong nhị nguyên.

Có những thế giới trong cõi tình cảm, trong cõi lý trí, trong cõi bản sắc thấp đã được tạo ra từ tâm thức nhị nguyên và ở những nơi đó có những sinh thể tuyệt đối tin chắc những thế giới này có thực. Họ tin chắc các thế giới này cao hơn thế giới vật lý và các thế giới này cao nhất và họ là những sinh thể tinh tiến nhất. Con hiểu ở đây lý do tại sao thực tế là con không thể nào tới Trái đất như một avatar từ hành tinh tự nhiên mà tránh không bị mắc kẹt trong nhị nguyên. Đó cũng là lý do tại sao trong bầu cõi này con cần có một vị thày nhiều hơn là trong các bầu cõi trước: để con có thể nhìn xuyên thấu sự dày đặc khiến con cảm thấy những gì do tâm thức nhị nguyên tạo ra có thực. Đó cũng là lý do tại sao khi con thăng thiên từ bầu cõi này, con có một trải nghiệm, một trải nghiệm trực tiếp mà những sinh thể thăng thiên từ các bầu cõi cao hơn không có và đó cũng là lý do tại sao thế giới hình tướng nơi chúng ta đang sống là một con đường hai chiều.

Thày biết là cho tới nay các thày đã trình bày thế giới hình tướng như con đường một chiều trong đó năng lượng tuôn chảy từ các bầu cõi cao xuống bầu cõi này, và từ cõi tâm linh xuống cõi bản sắc, lý trí, tình cảm, vật lý. Các thày cũng đã nói là khi con nâng năng lượng lên thì nó sẽ chảy ngược trở lên theo dòng chảy hình số tám. Sau khi con thăng thiên, con đi vào dòng chảy hình số tám với bầu cõi ở sát trên. Điều này có nghĩa là những người cuối sẽ trở nên những người đầu theo nghĩa họ sẽ trở thành những vị thày cho những người đã thăng thiên trước họ, để dạy những người này một cách trọn vẹn tất cả những gì có thể trải nghiệm được trong thế giới hình tướng này. Đấng Sáng tạo muốn tất cả những sinh thể đã thăng thiên có được kinh nghiệm trọn vẹn đó, nhưng lẽ tất nhiên những sinh thể đã thăng thiên không thể nào hiện thân trở lại trong một bầu cõi chưa thăng thiên và đi vào nhị nguyên nhưng lẽ dĩ nhiên, các con là nối dài của họ.

Gần đây các thày có dạy là cái Ta Biết có thể dạy Hiện diện TA LÀ một số điều dựa trên những kinh nghiệm của con khi đầu thai ở đây. Cho nên những người thăng thiên từ bầu cõi thứ bảy có thể dạy những người thăng thiên từ bầu cõi thứ sáu và thậm chí từ các bầu cõi cao nhất. Lẽ tất nhiên điều này không thể làm được trong vị thế sinh thể tách biệt nhưng phải là một với cõi thăng thiên. Không phải tất cả các con đều có công tác hay chọn lựa giảng dạy này sau khi thăng thiên nhưng một số các con sẽ dạy và con sẽ làm việc này qua văn phòng của Ki-tô Hoàn vũ và văn phòng này vươn lên các bầu cõi cao nhất.

Thày biết là thày đã trao truyền cho các con một giáo lý rất cao xa và có phần bí truyền nhưng thày cảm thấy đã tới lúc trao truyền tầm nhìn cao hơn này về ý nghĩa thực của quả vị Ki-tô. Vì quả vị Ki-tô, tâm Ki-tô là tâm một. Việc tâm Ki-tô kết nối con ở đây với những sinh thể đã thăng thiên tới tận cõi thứ nhất chẳng phải là điều hợp lý sao? Việc có thể có dòng chảy hình số tám với năng lượng chảy ngược lên trên và do đó, những sinh thể ở các tầng cao hơn cũng được lợi lạc từ những kinh nghiệm các con có ở dưới này, việc đó chẳng phải là điều hợp lý hay sao?

Những người trong các con là avatar có thể có một tầm nhìn sâu hơn về toàn bộ trải nghiệm đi xuống Trái đất. Con có thể nói: “Phải, trải nghiệm đó khó khăn nhưng nếu trải nghiệm của tôi trở thành một phần của toàn bộ tiến trình hoàn vũ, chẳng phải nó bõ công, đặc biệt là ngày hôm nay tôi có được một giáo lý có thể giúp tôi thoát ra khỏi nhị nguyên?” Bởi vì lẽ tự nhiên con dễ thưởng thức một hành tinh như Trái đất hơn khi con có thể thấy: “Ồ, kìa có cái cửa trên đó có tấm bảng chỉ lối ra” thay vì con cảm thấy hoàn toàn bị mắc kẹt và không có lối thoát.

Các con hãy để thày kết thúc bằng một câu nhẹ nhàng hơn. Có lối ra nhưng đó là lối vào. Với lời này thày niêm các con trong Ngọn lửa của Ki-tô Hoàn vũ mà thày cầm giữ cho Trái đất. Maitreya TA LÀ.

27 | Khắc phục ảo tưởng về chọn lựa đúng và sai

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Chỉ đạo Thiêng liêng qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên, Chỉ đạo Thiêng liêng. Thày tới đây để cống hiến con, có thể nói là một dụng cụ thiết thực để con gia tăng được sự hòa điệu của con với tâm Ki-tô, với Hiện diện TA LÀ của con và với bất kỳ chân sư thăng thiên nào gần con nhất.

27.1. Một dụng cụ thiết thực để thấy tâm lý mình

À thày đã cho con dụng cụ này trước đây rồi. Nó là một nghi thức cửu nhật (novena) theo đó con đọc bài chú của thày chín lần và sau đó con ngồi xuống với một cuốn sổ tay và con viết ra bất cứ điều gì đến với con. Điều thày muốn nhấn mạnh ở đây là con có thể làm nghi thức cửu nhật đó với mục đích cụ thể là con thấy được những yếu tố trong tâm lý của con mà con cần thấy ở tầng hiện nay của con trên con đường tâm linh. Nói cách khác, mục đích không phải là con nhận được một viễn kiến để đối phó với hoàn cảnh bên ngoài của con, để giải quyết những khía cạnh thực tiễn của đời sống. Mục đích là con thấy những điểm nghẽn trong tâm lý của con mà con đang đối mặt ngay bây giờ tại tầng cấp hiện tại của con, các điểm nghẽn mà con cần thấy để vươn lên tầng kế tiếp.

Con không cần sử dụng bài chú của thày để làm việc này. Thày biết là tất cả các con đều có một vị chân sư gần với con hơn các chân sư khác. Nếu con biết vị chân sư này là ai thì con dùng bài chú của vị đó, con đọc bài chú chín lần và con viết ra giấy. Nếu con không biết một vị chân sư đặc biệt gần với con thì con dùng bài chú của thày. [Bạn cũng có thể dùng bài thỉnh đi cùng với bài truyền đọc này.] Điểm quan trọng ở đây là: Con đọc đoạn mở đầu, con kêu gọi thày giúp con thấy rõ các ngã tiềm thức, các ảo tưởng mà con cần làm việc với ở tầng hiện tại của con. Sau đó con đọc bài chú chín lần và sau đó, con giản dị ghi ra điều gì đến với con mà không suy nghĩ, không phân tích, không đoán trước. Bất cứ nó là gì, con viết ra. Sau khi làm xong, con có thể để nó qua bên hay con có thể đọc lại ngay lúc đó. Lúc đầu, tự ngã, các ngã tiềm thức có thể ảnh hưởng con, chúng thúc đẩy con phải làm gì, hay khiến con cảm thấy con là người đặc biệt và con có thể có vai trò gì và con có thể làm gì cho hành tinh trong tương lai. Tất cả những viễn kiến về các điều bên ngoài đó, con hoàn toàn bỏ qua vì mục đích của nghi thức này chỉ là tâm lý.

Bất cứ điều gì tập trung vào tâm lý của con thì con có thể dùng, con có thể tìm cách hiểu nó, tìm cách thấy điều con không thấy. Nếu nó là một vấn đề đặc thù nào đó, con có thể tìm sách về tâm lý học nói về vấn đề đó, con có thể tìm những giáo lý của các thày nói về vấn đề đó và sau đó con làm việc với nó. Con dùng những dụng cụ từ bộ sách Chữa lành Chấn thương Tâm linh để có một tầm nhìn sáng tỏ hơn về vấn đề này. Con đọc các bài chú để tiêu trừ năng lượng và sau đó khi con cảm thấy con đã giải quyết xong một vấn đề đặc thù thì con có thể tiếp tục nghi thức cửu nhật nếu con muốn. Con cũng có thể làm nghi thức cửu nhật ngày hôm sau để làm sáng tỏ vấn đề đặc thù đó, như vậy con không tiến tới một vấn đề khác trước khi con cảm thấy con đã giải quyết xong vấn đề đầu tiên.

Chuyện có thể xảy ra là con không nhận được gì về tâm lý của con khi con làm nghi thức cửa nhật. Nếu thế con tiếp tục nghi thức cửu nhật và con giản dị bỏ qua bên bất cứ gì con ghi ra mà không dính dáng tới tâm lý. Ngày hôm sau con lại làm nghi thức cửu nhật và con tiếp tục làm vậy cho tới khi con nhận được điều gì đó về tâm lý chưa giải quyết của con, vì thày bảo đảm với con là nếu con mở tâm và sẵn lòng, thì con sẽ tới một điểm nhận được điều gì đó.

27.2. Chỉ đạo thiêng liêng và quả vị Ki-tô

Thày cũng muốn cho con một số giáo lý về quả vị Ki-tô. Chức vụ của thày là Chỉ đạo Thiêng liêng và lẽ tất nhiên nó báo hiệu sự chỉ đạo thiêng liêng. Con người chờ đợi là thày sẽ cho họ chỉ đạo thiêng liêng. Trong nhiều thập niên qua nhiều người đã nghĩ rằng khi con người đi trên con đường quả vị Ki-tô, thì con sẽ nhận được càng ngày càng nhiều chỉ đạo thiêng liêng và con nhận được chỉ đạo thiêng liêng càng ngày càng rõ hơn.

Có thực vậy không? À, có và không, vì chuyện này tùy thuộc con xem chỉ đạo thiêng liêng như thế nào. Tự ngã muốn đưa ra quan điểm là chỉ đạo thiêng liêng không thể nào sai được và nếu con nghe theo chỉ đạo thiêng liêng, thì nó sẽ phải cho tự ngã điều mà tự ngã muốn: sự an toàn là tự ngã không bao giờ sai. Như các chân sư khác đã nói, có những vấn đề trên Trái đất do tâm thức nhị nguyên tạo ra mà tâm Ki-tô không có giải pháp vì giải pháp duy nhất là thăng vượt tâm thức đã tạo ra vấn đề. Nhiều đệ tử chân sư thăng thiên đã nghĩ: “Ồ, tôi đang đối mặt với một hoàn cảnh đặc thù trong cuộc sống, tôi không biết phải làm gì, tôi không muốn làm điều sai, tôi muốn làm điều đúng, cho nên tôi sẽ làm nghi thức cửu nhật của Đại Chỉ đạo Thiêng liêng và chắc chắn thày sẽ cho tôi biết phải làm gì trong hoàn cảnh này.” Nếu con người quá chú tâm vào hoàn cảnh bên ngoài và đạt kết quả bên ngoài, thì thày không có gì để cho họ. Thày không thể cho họ chỉ đạo, thày không thể nói với họ: “Con phải làm điều này,” bởi vì dù họ làm bất cứ gì từ tầng tâm thức hiện nay của họ, nó sẽ không dẫn tới kết quả mà họ mong muốn.

Một phần lý do là vì kết quả họ mong muốn không thiết thực vì nó dựa trên tầm nhìn của tự ngã. Lý do nữa là bất cứ điều gì họ có thể làm sẽ không giải quyết hoàn cảnh vì nhiều hoàn cảnh trên Trái đất, đặc biệt là những xung đột giữa người và người không có đáp án lý tưởng, không có kết quả tối hậu. À, con có thể nói kết quả tối hậu là con dùng hoàn cảnh như một phương tiện để thăng vượt một ngã tiềm thức đặc thù đã khiến con phản ứng như con đã phản ứng trước hoàn cảnh. Đấy không phải là điều con người chờ đợi khi họ tìm cầu chỉ đạo thiêng liêng và họ nhìn chỉ đạo thiêng liêng như điều gì đó đến từ bên ngoài họ và sẽ giúp họ luôn luôn chiến thắng.

27.3. Chỉ đạo Thiêng liêng và quyền tự quyết

Con thấy đấy, chỉ đạo thiêng liêng không dẫm chân lên quyền tự quyết của con người. Chỉ đạo thiêng liêng không tìm cách giải quyết những vấn đề do tâm thức nhị nguyên tạo ra vì chỉ đạo thiêng liêng thấy chúng không có giải pháp. Vậy thì chỉ đạo thiêng liêng làm gì? Giúp con thấy những ảo tưởng trong tâm lý của con để con có thể vươn lên tầng kế tiếp, vì có thể xem chiến thắng của Ki-tô là bất cứ khi nào con vươn lên một tầng tâm thức cao hơn.

Một lần nữa con thấy là nhiều người tìm thấy một giáo lý chân sư thăng thiên, họ được nghe về con đường quả vị Ki-tô và họ nghĩ chỉ cần quy hàng Ki-tô, quy hàng các chân sư thăng thiên, và để các thày bảo họ phải làm gì, phải sống cuộc đời như thế nào. Đúng là các thày có nói về quy hàng, buông bỏ. Người sứ giả này có nói về buông bỏ. Đúng, buông bỏ là điều cơ yếu, nhưng con buông bỏ cái gì? Đó là các ảo tưởng của con, các ngã tiềm thức của con.

Con không buông bỏ sự sẵn lòng chọn lựa. Con không buông bỏ sự sẵn lòng lấy trách nhiệm về cuộc đời mình và lấy những chọn lựa cần lấy trong những hoàn cảnh đặc thù. Một số người đi vào con đường tâm linh và họ cảm thấy: “Tôi sẵn lòng từ bỏ ý muốn vỏ ngoài của tôi, hãy giản dị nói cho tôi biết tôi phải làm gì và tôi sẽ làm theo.” Con thấy chăng, buông bỏ, quy hàng không có nghĩa là từ bỏ quyền tự quyết của con. Con không thể từ bỏ quyền tự quyết và phó thác nó cho Ki-tô hay các chân sư thăng thiên. Con có thể từ bỏ quyền tự quyết của con, phó thác nó cho tự ngã hay người khác hay các tà lực bên ngoài, và họ sẽ bảo con chọn lựa gì, hoặc họ sẽ chọn lựa thay cho con.

Ki-tô là người bảo vệ quyền tự quyết, do đó sẽ không cho phép con từ bỏ quyền tự quyết của mình. Thày có thể bảo đảm với con là nếu thày, như một chân sư thăng thiên có vị thế còn cao hơn các Thượng sư, nếu thày bảo con phải sống cuộc đời mình như thế nào, thì thày có thể bảo đảm với con là làm như thế sẽ không dẫn con tới thăng thiên. Tại sao thày lại làm thế? Lẽ tất nhiên thày sẽ không làm thế nhưng thày nói: “Con hãy từ bỏ ảo tưởng cho rằng con có thể hội đủ điều kiện thăng thiên bằng cách từ bỏ quyền tự quyết của con. Không đâu, con phải mở lòng đón nhận quyền tự quyết thì mới hội đủ điều kiện thăng thiên. Con phải mở lòng đón nhận quyền tự quyết thì mới đi được trên con đường quả vị Ki-tô. Con đường quả vị Ki-tô là gì? Như các thày đã giải thích rất nhiều lần, đi trên con đường quả vị Ki-tô là con tới điểm thấy một ảo tưởng (mà con đã nắm giữ), ảo tưởng này là nền móng cho một ngã tách biệt và sau đó con chọn lựa một cách ý thức buông bỏ ảo tưởng đó. Con làm một cách ý thức. Nếu không làm một cách ý thức thì làm sao chọn lựa của con hòa nhập vào căn thể của con được? Làm sao Hiện diện TA LÀ của con tăng triển? Làm sao ý niệm bản ngã của con tăng triển? Chọn lựa có ý thức là nền tảng để vươn lên tầng kế tiếp của đường tâm linh.

27.4. Đời sống hàng ngày tốt đẹp hơn nhờ chọn lựa tốt hơn

Chọn lựa có ý thức cũng là nền móng để con sống hoàn cảnh bên ngoài một cách càng ngày càng tốt hơn. Hoàn cảnh bên ngoài của con sẽ không cải thiện nếu một chân sư thăng thiên bảo con phải làm gì. Điều này cũng sẽ không cải thiện hoàn cảnh bên trong của con. Con tăng triển, con thăng vượt ý niệm bản ngã, con vươn lên những tầng cao hơn của quả vị Ki-tô bằng cách chọn lựa, rồi trải nghiệm hậu quả của chọn lựa, lượng định hậu quả, lượng định phản ứng của con với hoàn cảnh ban đầu và với hậu quả, tìm ngã tách biệt đã tạo ra phản ứng đó, thấy ảo tưởng và buông bỏ ảo tưởng một cách ý thức, qua đó con vươn lên tầng kế tiếp. Con không thể vừa mê ngủ vừa bước lên các tầng tâm thức cao hơn. Việc này chỉ có thể làm một cách ý thức bằng cách lấy những chọn lựa ý thức. Nếu con từ bỏ quyền tự quyết của con thì con không lấy những chọn lựa ý thức.

Con cần xoay chuyển thế nào để làm chuyện này dễ hơn? Con có thể buông bỏ toàn bộ ý tưởng là có những chọn lựa đúng và những chọn lựa sai. Các thày đã thấy gì trong các thập niên qua khi nói về các chân sư thăng thiên, con đường tâm linh và con đường quả vị Ki-tô? Nhiều người đã nghĩ rằng để đi trên con đường tâm linh, để thành công trên đường tu, thì họ phải lấy những chọn lựa đúng và tránh lấy những chọn lựa sai. Họ nghĩ chìa khóa để đi trên con đường tâm linh là luôn luôn lấy chọn lựa đúng và không bao giờ lấy chọn lựa sai. Một lần nữa, giữa tầng 48 và tầng 96, ý tưởng này có phần giá trị, theo nghĩa là chắc chắn có một số chọn lựa có thể khiến con bị kẹt nhiều hơn trong một trạng thái tâm lý nào đó, trong một ngã nào đó và có những chọn lựa khác có thể giúp con thoát ra những cái này. Nhiều người nghĩ là có những chọn lựa bên ngoài có thể đúng hay sai. Khi con tới tầng 96 thì con có thể xoay chuyển một cách ý thức và nhận ra đúng và sai là những khái niệm nhị nguyên. Chúng chỉ hiện hữu trong tâm nhị nguyên. Chúng do tâm nhị nguyên quy định. Cái gì đúng hay sai do tâm nhị nguyên quy định.

Trong tâm Ki-tô không có đúng và sai. Con hãy nghiền ngẫm lời này nếu nó gây sốc cho con. Làm sao có thể có đúng và sai trong tâm Ki-tô được? Mục đích của tâm Ki-tô là hợp nhất con với cội nguồn của con. Lẽ tất nhiên, con luôn luôn có thể lấy những khái niệm này và nói: “À, thế thì nó nghĩa là bất cứ gì giúp tôi tiến gần hơn tới hợp nhất là chọn lựa đúng và bất cứ gì kéo tôi xa hơn khỏi hợp nhất là chọn lựa sai.” Con thấy đấy, Ki-tô còn không nhìn vấn đề như thế. Ki-tô chỉ nhìn: Làm sao con có thể tiến gần hơn tới hợp nhất, làm sao con có thể dùng một chọn lựa trước mà con đã lấy để làm một chọn lựa cao hơn giúp con tiến gần hơn tới hợp nhất?

Các chọn lựa mà con đã lấy trước kia không quan trọng. Lúc nào con cũng có thể học hỏi từ một chọn lựa và khi con học thì con tiến gần hơn tới hợp nhất. Đây là tất cả những gì tâm Ki-tô và các chân sư thăng thiên quan tâm tới. Mục tiêu của các thày là nâng con lên bước kế tiếp, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, bất cứ con ở đâu. Con có thể tới điểm nhận ra là điều quan trọng khi đi trên con đường quả vị Ki-tô không phải là lấy những chọn lựa đúng và tránh những chọn lựa sai. Chuyện quan trọng là lấy chọn lựa trong những hoàn cảnh đặc thù dựa trên tầng tâm thức hiện tại của con, sau đó lượng định các chọn lựa và hậu quả, lượng định phản ứng của con để tới điểm thấy ảo tưởng mà con đang có ở tầng tâm thức hiện tại của con, và như vậy con có thể vươn lên tầng kế tiếp. Con sẽ tới điểm cần buông bỏ một cách ý thức ý tưởng cho rằng có những chọn lựa đúng và những chọn lựa sai và con chấp nhận sự thật gây sốc của tâm Ki-tô: trong tâm Ki-tô khái niệm đúng và sai không hiện hữu. Không phải là khái niệm này sai. Giản dị là nó không có mặt trong tâm Ki-tô. Điều này có thể gây sốc hay có thể khó cho con nắm bắt.

27.5. Chỉ đạo thiêng liêng là giúp thăng vượt nhị nguyên

Theo nghĩa tối hậu, Ngọn lửa Chỉ đạo Thiêng liêng mà thày cầm giữ cho Trái đất là gì? Nó là ngọn lửa mà khi con gặp nó thì con nhận ra, như Giê-su đã nói, là tâm Ki-tô không di dịch. Dù con xô đẩy mạnh cách mấy từ tâm tách biệt, con vẫn không thể di chuyển tảng đá của Ki-tô. Chỉ đạo thiêng liêng không chú trọng vào đúng và sai. Chỉ đạo thiêng liêng chú trọng vào việc giúp con thăng vượt nhị nguyên. À, chỉ đạo thiêng liêng là nhiều hơn thế nữa, nhưng liên quan tới Trái đất là một hành tinh phi tự nhiên, mục tiêu chính của chỉ đạo thiêng liêng là giúp con thăng vượt nhị nguyên. Khi con đạt tầng 96 và đi xa hơn một chút thì con có thể tới điểm có thể lấy một quyết định có ý thức thăng vượt toàn bộ ý tưởng cho rằng có chọn lựa đúng và sai. Con làm vậy bằng cách neo trụ vào thực tại Ki-tô là trong tâm Ki-tô, cái được tạo ra từ nhị nguyên không hiện hữu. Nó không có thực tại.

Không phải là tâm Ki-tô không thấy nó. Tâm Ki-tô thấy là con người bị kẹt trong tâm phản-Ki-tô. Tâm Ki-tô không thấy là tâm phản-Ki-tô đi ngược lại tâm Ki-tô, chống lại tâm Ki-tô. Tâm Ki-tô thấy là con người bị kẹt trong tâm phản-Ki-tô, nhưng tâm Ki-tô thấy tâm phản-Ki-tô không có thực. Tâm Ki-tô không thấy tâm phản-Ki-tô có chút thực tại nào.

Con người có thể nghĩ tâm phản-Ki-tô có thực. Sa nhân nghĩ khi họ quy định một tâm phản lại tâm Ki-tô, chống lại tâm Ki-tô, thì họ đã tạo ra một nhị nguyên mới, một nhị nguyên giữa tâm của Ki-tô và tâm phản-Ki-tô. Đây là sự ngạo mạn tâm linh khiến họ tin họ có uy lực ảnh hưởng tâm Ki-tô và tạo ra cái đối chọi với tâm Ki-tô. Trong tâm Ki-tô những hoang tưởng của họ không có thực tại. Với tâm thức sa ngã, họ thấy tâm phản-Ki-tô là đối cực nhị nguyên đối ngược với tâm Ki-tô, nhưng điều này chỉ có vẻ thực trong tâm của họ mà thôi. Trong tâm Ki-tô điều này hoàn toàn không có chút thực tại nào. Điều này, con có thể tới điểm trải nghiệm, không phải hiểu, mà trải nghiệm. Nó là sự tương phản khi con gặp sự không di dịch của tâm Ki-tô và do đó, con trải nghiệm sự không có thực của cái gọi là tâm phản-Ki-tô.

Tại sao sa nhân có thể tạo ra ảo tưởng họ đối chọi với tâm Ki-tô? Đó là vì họ không trải nghiệm thực tại của tâm Ki-tô. Họ đã tạo ra một hình tư tưởng về tâm Ki-tô và hình tư tưởng này tạo thành một cực nhị nguyên và tâm phản-Ki-tô là đối cực nhị nguyên kia. Phải, họ tạo ra trong tâm họ hai đối cực giữa hình ảnh giả của họ về tâm Ki-tô và hình ảnh giả của họ về tâm phản-Ki-tô. Cả hai hình ảnh đều không thực vì tất cả các đối cực nhị nguyên đều không thực. Đây là điều con trải nghiệm được khi con tới những tầng này của con đường tâm linh. Khi con trải nghiệm điều này thì con có thể từ bỏ toàn bộ tập hợp ý tưởng cho rằng điều quan trọng khi đi trên con đường quả vị Ki-tô là lấy những chọn lựa đúng và không lấy những chọn lựa sai. Con thấy là con đang sống trên một hành tinh phi tự nhiên, một hành tinh rất dày đặc. Con thấy là hầu hết mọi người đang kẹt trong nhị nguyên. Thậm chí con có thể neo trụ vào lý duyên khởi của đức Phật để nhận ra rằng trong mọi hoàn cảnh có vô số yếu tố ảnh hưởng tới hoàn cảnh.

Vì sự phức tạp của các yếu tố tùy thuộc lẫn nhau đó, thật không có ý nghĩa gì khi con nhìn một hoàn cảnh và nói: “Ồ chỉ có một kết quả đúng cho hoàn cảnh này và tất cả những kết quả khác đều sai,” hoặc: “Chỉ có một kết quả sai và ta cần phải né tránh nó.” Thay vào đó, con có thể nhận ra là trong mỗi hoàn cảnh có cơ hội để con chọn lựa và tăng triển khi lấy chọn lựa đó.

Con làm gì khi con nghĩ có đúng và sai? À, nếu con lấy một chọn lựa mà con nghĩ đấy là một chọn lựa sai, có thể vì con lấy một chọn lựa và nó không dẫn tới hậu quả mà con chờ đợi, thì con làm gì? Con tự trách mình. Có thể con tới điểm tự khiến mình bị tê liệt nếu con không dám lấy chọn lựa nữa. Đấy là tình trạng của hầu hết con người trên Trái đất. Họ quá mức sợ họ sẽ lấy những chọn lựa sai dựa trên những vết thương từ các kiếp trước nên giờ đây họ không dám lấy bất kỳ chọn lựa nào, họ không dám lấy trách nhiệm. Họ muốn có một nhà độc tài bảo họ phải sống cuộc đời như thế nào. Hoặc nếu con lấy những chọn lựa đúng thì con có thể bồi đắp tự ngã để cảm thấy mình không bao giờ có thể sai. Đây là cảm giác mà một số sa nhân đã bồi đắp khi họ nghĩ tự ngã của họ không bao giờ có thể sai.

27.6. Con chỉ có thể tăng triển bằng cách lấy quyết định

Con thấy gì trên Trái đất? Con thấy có một nhóm người không muốn lấy quyết định. Và có một nhà độc tài nghĩ rằng tự ngã của y không thể nào sai được, và y lấy những chọn lựa và người dân mù quáng theo y, cho nên y càng có cảm giác không thể nào sai, đây là hội chứng tôi không thể nào sai. Con thấy trong lịch sử đã có bao nhiêu nhà lãnh đạo thế giới bị kẹt trong hội chứng không thể nào sai này? Có bao nhiêu nhà lãnh đạo thế giới đang bị kẹt trong hội chứng này ngày hôm nay? Con có thể tránh toàn bộ kịch bản đó bằng cách đơn giản nhận ra là mỗi chọn lựa là một cơ hội tăng triển. Kết quả không quan trọng. Không có gì trong vật lý quan trọng. Chính thăng vượt vật chất mới quan trọng. Sự thăng vượt ý tưởng cho rằng vật lý có thể quy định con là tánh linh, khi con tới nhận biết cao hơn (đó là nhận biết con đạt được khi con vượt qua khúc ngoặt ở tầng 96) là con hoàn toàn chấp nhận con là một sinh thể tâm linh.

Phải, con đã thích nghi. Con có những ngã ở tầng 96 tới tầng 144 mà con đã mang vào để có thể hiện thân trên Trái đất, nhưng ngay cả những ngã này cũng không quy định được con. Con là một sinh thể tâm linh. Không có gì trong thế giới vật chất quy định được con và khi nói tới thế giới vật chất thày muốn nói tới cả bốn tầng vật chất. Bốn tầng vật chất không quy định được con, do đó con có thể vươn lên từ tầng này tới tầng kế tiếp, vứt bỏ xích xiềng, trở nên tự do hơn, vứt bỏ xích xiềng kế tiếp. Làm sao con làm được điều này? Chỉ bằng cách lấy chọn lựa, nhìn vào các hoàn cảnh.

Chuyện xảy ra là khi con tới những tầng cao hơn của con đường tâm linh (thậm chí ngay cả ở các tầng thấp hơn) tầng tâm thức của con sẽ như nam châm thu hút con vào một số hoàn cảnh. Nếu tỷ dụ con ở tầng 98, thì con sẽ thu hút mình vào một hoàn cảnh bên ngoài nào đó là cơ hội tối ưu để con thấy ảo tưởng đang cầm giữ con ở tầng 98, để con buông bỏ ngã đó và vươn lên tầng 99. Diễn tiến đó sẽ xảy ra ở mỗi tầng cho tới tầng 144. Nó cũng có phần giống vậy từ tầng 48 lên tới tầng 96, nhưng con không dễ dàng ý thức được điều này. Khi con tới tầng 96, con có cơ hội bước lên một bước cao hơn và buông bỏ toàn bộ ý tưởng có đúng và sai, mà chỉ thấy là trong cái phức tạp không thể nào lượng định của lý duyên khởi không có chọn lựa đúng và sai, vì mỗi chọn lựa là một cơ hội để vươn lên tầng cao hơn. Cơ hội vươn lên là cốt lõi của chỉ đạo thiêng liêng. Nếu con không mở tâm ra đón nhận điều này thì con không thể nhận được chỉ đạo thiêng liêng.

Thày hy vọng là với các điều này thày đã giúp được một số người trong các con, những ai đã sẵn sàng, làm sự xoay chuyển ý thức để mở tâm hơn. Tới đây thày niêm con trong Ngọn lửa của Chỉ đạo Thiêng liêng. THÀY LÀ Chỉ đạo Thiêng liêng.

25 | Buông bỏ ý muốn giấu giếm Ki-tô

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Giê-su Ki-tô qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Giê-su Ki-tô. Thày phải nói gì về quả vị Ki-tô? À, lẽ tự nhiên tất cả các chân sư đã phát biểu trước thày đã chú tâm vào một khía cạnh đặc thù của quả vị Ki-tô, và do đó thày cũng sẽ chú tâm vào một khía cạnh đặc thù, và đó là thắng lợi hay chiến thắng.

Khi con nhìn về các thời đại đã qua, nhìn về phong trào Cơ đốc giáo và các giáo phái Cơ đốc thì con thấy rất rất nhiều tín đồ Cơ đốc, dù họ thuộc vào các Hội thánh hay giáo phái khác nhau, có viễn quan là Ki-tô sẽ trở lại trái đất và biểu hiện chiến thắng không thể chối cãi. Thày sẽ chinh phục tất cả các lực tăm tối, đập tan chúng và chinh phục mọi đối kháng chống lại biểu hiện vương quốc Thượng đế trên trái đất, và với đa số các tín đồ Cơ đốc giáo thì điều này có nghĩa là thày, là Ki-tô, sẽ tới và chinh phục tất cả những người mà họ không thích. Đây là một chủ đề mà con thấy lặp đi lặp lại nhiều lần, ngay cả với các tín đồ Cơ đốc ngày nay. Con hãy nhìn Hoa Kỳ và thấy biết bao người nghĩ là họ đã thắng trong kỳ bầu cử, họ bây giờ đã chiến thắng, và một ngày không xa Ki-tô sẽ trở lại, và họ, với giáo phái riêng của họ, sẽ được nâng lên như những môn đồ chân chính của Ki-tô.

25.1. Hoang tưởng Ki-tô chiến thắng

Thày muốn xin con xem xét một câu hỏi giản dị: “Điều gì trong câu chuyện cuộc đời của thày hỗ trợ hoang tưởng Ki-tô sẽ chiến thắng và chinh phục tất cả?” Con nhận ra chăng tâm trạng của đa số các tông đồ của thày, đa số các người đã đi theo thày, khi thày chết trên cây thập tự? Con có biết chăng là đa số cảm thấy rất bấn loạn, hoàn toàn bị đánh bại? Bởi vì họ cũng có hoang tưởng là thày sẽ không chết trên cây thập tự, nhưng bằng cách nào đó Thượng đế sẽ cứu thày, và thày sẽ hiện ra như người chiến thắng. Thật ra thì chính thày cũng có một thoáng hoang tưởng đó, và chỉ khi thày bị treo trên cây thập tự thì thày mới hoàn toàn nhận ra và chấp nhận là: “Xác thân này quả thật sẽ chết trên cây thập tự, và Thượng đế sẽ không đến cứu ta.” Do đó, thày phải rũ bỏ hồn ma đó, ngã tách biệt cuối cùng đó, có hoang tưởng là Ki-tô sẽ chiến thắng trong thế gian này. Làm sao Ki-tô có thể chiến thắng trên một hành tinh phi tự nhiên như trái đất khi Ki-tô chính là nền tảng của việc thực thi quyền tự quyết? Giáo lý mà các thày đã trao truyền cho các con giải thích điều này một cách sâu sắc hơn tất cả những lời giải thích đã được đưa ra trước đó.

Đấng Sáng tạo quy định tâm Ki-tô vì đấng Sáng tạo biết rằng để con người có thể thử nghiệm tất cả các khía cạnh của quyền tự quyết thì một số sinh thể sẽ đi vào nhị nguyên. Do đó, tâm Ki-tô là cơ chế cho con người cơ hội trở về với hợp nhất, nhưng điều này phải xảy ra trong khuôn khổ Luật Tự quyết. Nếu Ki-tô xuất hiện như một biểu hiện không thể chối cãi được và đập tan các kẻ thù của Thượng đế và dùng sức mạnh để thiết lập vương quốc Thượng đế trên trái đất, thì đây phải chăng là vi phạm Luật Tự quyết mà đấng Sáng tạo đã thiết lập ra? Quả đúng đó là một vi phạm.

Ki-tô là gì? À đúng nó là yếu tố kết hợp đấng Sáng tạo với tạo vật của ngài. Nếu Ki-tô xuất hiện và áp đặt vương quốc Thượng đế lên người dân trên Trái đất, thì chính Ki-tô sẽ đi ngược lại ý định của Thượng đế, của đấng Sáng tạo. Ki-tô sẽ không bao giờ làm vậy vì Ki-tô đã được đấng Sáng tạo quy định để kết hợp thông qua quyền tự quyết. Đấng Sáng tạo không muốn các nối dài của ngài bị ép phải đi vào hợp nhất với ngài, nhưng muốn họ làm vậy qua chọn lựa tự do. Ki-tô sẽ luôn luôn tôn trọng điều này. Ki-tô không thể làm gì khác.

25.2. Quả vị Ki-tô sẽ không khiến con chiến thắng trong mọi chuyện con làm

Giờ đây, các con là các đệ tử trực tiếp của Chân sư Thăng thiên Giê-su Ki-tô, không phải là những người theo quan điểm sùng bái mà các hội Thánh Cơ đốc xiển dương, thì các con có thể hỏi: “À, vậy những điều này áp dụng ra sao vào đời sống hàng ngày của chúng con?” Nhiều đệ tử Chân sư Thăng thiên trong những thập niên qua đã nghĩ rằng: “Khi tôi đi trên con đường dẫn tới quả vị Ki-tô và đạt một trình độ tâm thức Ki-tô nào đó, thì tôi sẽ chiến thắng trong mọi chuyện tôi làm.” Một thí dụ là: “Nếu tôi có chân lý của Ki-tô thì tôi sẽ thắng mọi cuộc tranh luận với người khác vì tôi có chân lý trong khi họ không có.” Ngay cả đệ tử Chân sư Thăng thiên cũng đã có những hoang tưởng về các khả năng, các khả năng đặc biệt mà họ sẽ đạt được khi họ đi trên con đường quả vị Ki-tô. Những hoang tưởng này từ đâu tới? À, như thày có nói, chúng không thể đến từ tâm Ki-tô, như vậy chúng phải tới từ tâm phản-Ki-tô, tâm tách biệt, tâm thức nhị nguyên. Các thày đã giảng gì về tự ngã? Nó muốn trở nên bất tử, nhưng ở tầng cấp cận kề nhất, nó muốn cảm thấy an toàn. Làm sao nó cảm thấy an toàn? Nó sẽ cảm thấy an toàn khi nó thiết lập được quan điểm nhị nguyên của nó như chân lý tối hậu, vì đó sẽ là chiến thắng tối hậu của tự ngã.

Khi con tìm ra con đường của quả vị Ki-tô, nghe nói tới khái niệm quả vị Ki-tô, thì con có thể làm gì khác hơn là để tự ngã pha màu quan điểm của con, hiểu biết của con về quả vị Ki-tô? Do đó, con dễ nghĩ rằng khi con đi trên con đường quả vị Ki-tô thì thế giới quan tâm linh của con, hay giáo lý chân sư thăng thiên sẽ được xác chứng, và thế giới sẽ bằng cách nào đó công nhận là giáo lý của con cao trội hơn cả, như những tín đồ Cơ đốc mơ ước rằng thế giới sẽ nhìn nhận hội Thánh của họ như là hội Thánh chân chính duy nhất của Ki-tô. Một lần nữa, các thày không muốn trách cứ bất cứ ai, các thày chỉ chỉ cho các con thấy một giai đoạn mà đa số đệ tử chân sư thăng thiên trải qua.

Điều con thấy ở đây là con trải qua một giai đoạn của con đường tâm linh khi con nghĩ, có thể một cách không ý thức nhưng ngay dưới tầng nhận biết ý thức, là Ki-tô sẽ bằng cách nào đó chứng nhận quan điểm của con về thế giới và về chính con. Như các thày có giảng, nếu Ki-tô chứng nhận quan điểm hiện hành của con thì chuyện gì sẽ xảy ra? Chuyện xảy ra là con sẽ càng bị kẹt hơn nữa trong quan điểm đó. Quan điểm hiện hành của con không phải là quan điểm tối hậu và bị pha màu bởi tự ngã, vậy làm sao Ki-tô có thể chứng nhận quan điểm đó?

25.3. Điều mà tự ngã không muốn con nhận ra

Đó là lý do tại sao một số người tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên, hăng hái áp dụng giáo lý, cảm thấy họ tiến bộ rất nhiều, và sau đó họ tới điểm cảm thấy: “À, mọi chuyện không hấp dẫn như lúc trước, mọi chuyện không mới mẻ như lúc trước.” Họ cảm thấy họ không tiến bộ như họ nghĩ họ phải tiến bộ, họ chưa đột phá và đạt kết quả. Cơ chế đằng sau cảm nghĩ này rất giản dị. Mục đích của việc đi trên con đường quả vị Ki-tô là, như các thày có giảng – không biết bao nhiêu lần rồi, hàng mấy chục lần – giải quyết tâm lý. Tự ngã không muốn con nhận ra điều này, vì vậy tự ngã vẽ ra hình ảnh là nếu con làm tất cả các chuyện vỏ ngoài thì con sẽ đạt được kết quả vỏ ngoài vì nó muốn con sao lãng việc nhìn vào tâm lý của mình.   

Khi con tìm thấy con đường tâm linh, thì con được cho một thời gian ân huệ. Các thày rải truyền ánh sáng đến con, do đó con cảm thấy quả thật đang tiến bộ. Nếu con không trụ vào con đường nội tâm và nhìn nhận một cách có ý thức nhu cầu giải quyết tâm lý, thì sẽ tới điểm các thày phải thu hồi ánh sáng. Nói cách khác, Ki-tô ở bên con và giúp con lúc ban đầu, nhưng nếu con không bắt đầu đi theo con đường nội tâm và khởi sự giải quyết tâm lý, thì Ki-tô bắt buộc phải rút lui vì nếu không Ki-tô sẽ xác chứng quan điểm của con cho rằng đi theo con đường vỏ ngoài là đủ – và Ki-tô sẽ không bao giờ làm vậy. Nếu con cảm thấy con đang dậm chân tại chỗ, thì chỉ có một cách thoát ra khỏi tình trạng đó, và đó là bắt đầu nhìn vào tâm lý của mình, quả thật là nhìn vào cái xà trong con mắt mình.

25.4. Những trải nghiệm gây sốc trên con đường quả vị Ki-tô

Giờ đây, có một hiện tượng trên con đường tâm linh mà thày muốn các con lưu ý. Để lấy một thí dụ, các con hãy xem xét trường hợp các tông đồ và môn đồ của thày có mặt ở phiên tòa xử án thày, đã theo thày khi thày bước đi trên con đường Via Dolorosa ( con đường Thương khó) qua các đường phố Jerusalem, vác trên vai thanh ngang của cây thập tự. Họ đứng chứng kiến thày bị đóng đinh lên thập tự, hy vọng một phép lạ sẽ xảy ra, và sau đó thấy thày buông bỏ hồn ma cuối, thở hơi cuối cùng, thấy mũi giáo đâm vào hông thày và rốt cuộc đi tới nhận định: “Giê-su đã chết, Giê-su đã chết trên cây thập tự.” Đây là một hoàn cảnh mà ta có thể gọi là một thức tỉnh phũ phàng. Một số gọi đây là trải nghiệm đập đầu vào sàn xi măng, khi con đập đầu vào sàn xi măng và nhận ra là sàn xi măng không bị lõm vào. Đó là một biểu hiện vật lý không thể chối cãi được, phá tan quan điểm mà con có về điều gì phải xảy ra và không được xảy ra. Đó là một trải nghiệm gây sốc.

Chuyện con gặp những trải nghiệm gây sốc như vậy trên con đường quả vị Ki-tô không phải là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi. Không phải ai cũng có trải nghiệm đó, nhưng đa số sẽ có một số trải nghiệm gây sốc vì đó là chuyện xảy ra khi các chờ mong, các hình tư tưởng của con giáp mặt thực tại của tâm Ki-tô. Trong một số trường hợp, chuyện đó xảy ra khi các chờ mong của con giáp mặt thực tại của bát cung vật lý, hoàn cảnh vật lý, nhưng đây không phải là điều thày thực sự muốn nói ở đây.

Điều thày muốn nói ở đây là trường hợp con có một chờ mong nào đó và con nối kết với tâm Ki-tô. Tâm Ki-tô cho con một khung tham chiếu cho phép con thấy là chờ mong của con, quan điểm của con hay hình tư tưởng của con không phù hợp với thực tại của Ki-tô. Con có thể có trải nghiệm con thấy hình tư tưởng của con không thực vì cái Ta Biết, khi gặp tâm Ki-tô, bước ra ngoài hình tư tưởng và nhìn thấy nó từ bên ngoài. Nó thấy sự hoang tưởng, cái không thực của hình tư tưởng. Chuyện xảy ra cho nhiều người khi họ lần đầu có những trải nghiệm như vậy là cái Ta Biết của họ bước ra ngoài một ngã tiềm thức đặc thù và thấy là quan điểm mà ngã đó phóng chiếu không thực. Cái Ta Biết lúc đó vẫn còn bị pha màu bởi một ngã tiềm thức khác, và chuyện thường xảy ra là người đệ tử thấy mình đã ôm giữ một ảo tưởng, đã tin vào một lời gian dối, nhưng y lại bị pha màu bởi một ngã khác lên án y vì y đã tin vào lời gian dối.

Con cảm thấy toàn bộ trải nghiệm này giống như một thức tỉnh phũ phàng khi con giáp mặt thực tại của Ki-tô và thấy một ảo tưởng, nhưng con vẫn bị pha màu bởi một ảo tưởng khác và do đó con lên án mình vì đã tin vào ảo tưởng. Qua dòng lịch sử, đã có những tín đồ Cơ đốc giáo thành tâm cố gắng thể nhập giáo lý của Ki-tô và gặp phải các trải nghiệm đó. Một số đã đi tới kết luận họ là tội đồ: Ồ, tôi là tội đồ khốn cùng vì tôi thấy tôi có ảo tưởng này, và tôi không thấy phản ứng của tôi bị một ảo tưởng khác pha màu. 

25.5. Xoay chuyển bỏ chú tâm vào ngã ở tầng 96

Một số các con có thể nhận ra các hoàn cảnh này, và một số thì không. Lý do vì sao thày nêu ra điều này là vì mong muốn cao nhất của thày là các con tới điểm không bị sốc khi con gặp thực tại của Ki-tô, và gặp gỡ này không khiến con lên án chính mình. Khi con đi trên con đường tâm linh từ tầng 48 đến tầng 96 thì có khi con gặp thực tại Ki-tô nhưng con thường không bị thức tỉnh phũ phàng vì con chỉ được cho vừa đủ để tiến từ tầng này lên tầng kế tiếp. Khi con tới gần tầng 96 (và để có thể vượt quá tầng 96) thì con phải gặp gỡ tâm Ki-tô trong thực tại không phin lọc của nó. Nếu lúc đó con vẫn còn một ngã tiềm thức phán xét chính mình, chê bai mình, hạ thấp mình vì không toàn hảo, thì cuộc gặp gỡ có thể là một trải nghiệm rất khó chịu.

Nếu con có thể làm việc trên các ngã đó thì cuộc gặp gỡ không nhất thiết là một trải nghiệm khó chịu. Điều lý tưởng là khi con đi quá tầng 96 thì con sẽ gặp gỡ Ki-tô dưới một biểu hiện càng ngày càng tinh khiết, nhưng việc này sẽ không khiến con khiển trách mình. Con chỉ giản dị nhìn vào ảo tưởng mà con đang có, dùng tâm Ki-tô như một khung tham chiếu để buông bỏ ảo tưởng và thay vì hạ thấp mình vì đã có ảo tưởng, con cảm thấy vui mừng vì đã thăng vượt ảo tưởng.

Làm sao con làm được cuộc chuyển tiếp này? À, con cần nhìn vào các ngã tiềm thức khiến con lên án mình, nhưng con cũng cần, với tâm ý thức, xoay chuyển tâm như thày đã đề cập ở trên. Xoay chuyển này không dễ làm vì điều con thực sự cần nhận ra là: “Mọi chuyện không xoay quanh tôi.” Con cần khắc phục sự chú tâm vào chính mình vì sự chú tâm này là gì? À, khi con nói tự ngã được sinh ra từ tách biệt, thì con có thể nói là dù con đã kết nối trở lại và đi từ tầng 48 lên tầng 96, thì con vẫn còn mang theo mình một số thành phần của ngã tách biệt đó. Để có thể vượt qua khai ngộ ở tầng 96, thì con phải buông bỏ các thành phần đó. Nói cách khác, tự ngã vẫn tìm cách pha màu con đường tâm linh của con, nghĩ rằng nó sẽ được hưởng lợi lạc nào từ đó, nghĩ rằng con sẽ được hưởng lợi lạc nào từ đó như một cái ta tách biệt.

Cho tới tầng 96, con thực sự có thể tin rằng con đang đi trên con đường quả vị Ki-tô như một sinh thể tách biệt, và con có thể đạt quả vị Ki-tô như một sinh thể tách biệt, và do đó làm chuyện gì đó như một sinh thể tách biệt, thậm chí chiến thắng như một sinh thể tách biệt. Ý nghĩ này khiến con chú tâm vào chính mình, nhưng nó cũng đưa con vào một nhị nguyên không thể tránh, là nơi có thắng nhưng cũng có thua, vì trong nhị nguyên không thể có thắng mà không có thua. Khi con gặp gỡ tâm Ki-tô cho con thấy ảo tưởng con đang có, thì, à, con có thể nghĩ là mình thua cuộc và đó chính là lý do vì sao con bị sốc và có trải nghiệm khó chịu.

25.6. Con muốn phần thưởng của mình trên trái đất hay trên thiên đàng?

Con cần xoay chuyển một cách có ý thức, nhưng xoay chuyển đó là gì? À, thày có nói về việc chú tâm vào cái ta, nhưng còn hơn thế nữa, quả thật đó là lấy một quyết định. Thày có nói đến những người muốn được phần thưởng trong thế gian và những người muốn được phần thưởng trên thiên đàng, và ý nghĩa của việc này là ngã tách biệt, tự ngã, sẽ nghĩ rằng con đường quả vị Ki-tô sẽ cho nó một phần thưởng trong thế gian. Để khắc phục điều này, con cần lấy một quyết định có ý thức: con không muốn được phần thưởng trong thế gian, con muốn được phần thưởng trong trạng thái thăng thiên.

Điều này có nghĩa là con phải buông bỏ một số chuyện. Con phải buông bỏ ý muốn đạt được kết quả vật lý trên con đường quả vị Ki-tô. Con phải buông bỏ ý muốn đạt được khả năng đặc biệt nào đó, thắng các cuộc tranh luận, làm một số phép lạ. Nhiều người nghĩ họ phải làm được cùng những phép lạ mà thày đã làm khi trước nếu họ đạt được tầng quả vị Ki-tô mà thày đã đạt được. Như thày có nói, phép lạ quả thật chỉ được dành cho thời đó và trình độ tâm thức lúc đó – thời này phép lạ không cần thiết nữa.

Con thấy là con cần buông bỏ toàn bộ quan điểm (bất kể quan điểm này là gì cho riêng con, và mỗi người có thể có hoang tưởng khác nhau về phần thưởng mà quả vị Ki-tô sẽ cho họ) cho rằng đi trên con đường quả vị Ki-tô sẽ cho con một phần thưởng nào đó trong thế gian này. Con hãy nghĩ thêm đi, ý tưởng muốn một phần thưởng trong thế gian chỉ có thể đến từ một ngã tách biệt. Nếu tâm Ki-tô xác chứng niềm tin này thì nó sẽ khiến con bị giam chặt thêm vào ngã tách biệt, và con có thể bị giam trong đó cho đến hết kiếp sống này và thậm chí trong những kiếp tới. Do đó, con cần nhận ra một cách có ý thức: “Tôi không muốn được phần thưởng của tôi trong thế gian này. Tôi muốn được phần thưởng trong trạng thái thăng thiên.”

Bất kể phần thưởng này là gì trong hoang tưởng của riêng con, con cần tới điểm chạm trán nó để có thể đi quá tầng 96 là nơi có thể nói là con thực sự bắt đầu con đường quả vị Ki-tô. Con có thể nói con đi trên con đường quả vị Ki-tô từ tầng 48 đến tầng 96, nhưng ta có thể gọi đây là con đường vỏ ngoài. Ở tầng 96, con trụ chặt vào các khía cạnh nội tại của con đường quả vị Ki-tô, và những khía cạnh này sẽ dẫn con tới tầng 144. Nếu con không buông bỏ ước muốn có một phần thưởng vỏ ngoài, thì con không thể vươn lên quá tầng 96, và rất có thể con sẽ bắt đầu đi xuống nếu con tìm cách đạt được quyền năng nào đó qua tâm phản-Ki-tô ngõ hầu đạt được phần thưởng trong thế gian vì con chưa chịu buông bỏ hồn ma đó, con chưa chịu BUÔNG BỎ.

25.7. Chiến thắng trên con đường Ki-tô

Vậy phải chăng như vậy có nghĩa là con không thể chiến thắng khi con đi trên con đường quả vị Ki-tô? Không đâu, con có thể có nhiều chiến thắng. Chiến thắng của con là con có thể đạt được nhiều tự do hơn, tâm an bình hơn, tự do hơn để chỉ là người mà con là và biểu lộ bất kể điều gì đến với con từ Hiện diện TA LÀ của con. Con có thể đạt tự do là cánh cửa mở, không hơn, không kém. Chiến thắng tối hậu của con khi đi trên con đường quả vị Ki-tô là thăng thiên. Chiến thắng tối hậu của Ki-tô là con rời thế gian này. Có thể có những chiến thắng khác. Con có thể bị cám dỗ phản ứng lại thế gian bằng nhiều cách, tham gia vào các cuộc đấu tranh hay tranh luận, muốn chứng tỏ người khác sai, muốn chứng tỏ con đúng, biện hộ cho mình. Khi con buông bỏ được cám dỗ này của ông hoàng thế gian và buông bỏ ngã thúc dục con phản ứng, thì đây cũng là một chiến thắng. Con chiến thắng mỗi lần con buông bỏ một trong những ngã vi tế đó.

Con có cảm thấy là bài truyền đọc này không đáp ứng chờ mong của con chăng, nó không lạc quan, sinh động như thông diệp của thày Saint Germain? Phải chăng nó nghiêm trang, ảm đạm hơn? À, đây chính là ý định của thày, vì mục đích của thày là chuẩn bị con cho giây phút đầu không thể tránh khi con giáp mặt tâm Ki-tô và thấy một trong những ảo tưởng của tự ngã của con, và con không thể chối cãi. Có những người đã rất chân thành đi trên con đường tâm linh, theo quan điểm con đường tâm linh của họ, và sau khi họ tới giây phút chạm trán sự thực đó thì họ hoàn toàn rời bỏ con đường tâm linh –vì họ bị một cú sốc lớn. Thày đang tìm cách chuẩn bị con để các con nào chưa giáp mặt giây phút đó sẽ không có phản ứng tiêu cực. Với các con nào đã trải nghiệm giây phút đó thì thày muốn giúp các con xử lý trải nghiệm đó để con tới điểm nhận ra là con có thể khắc phục ý niệm con có gì sai trái vì con đã chạm mặt thực tại của Ki-tô.

Con có thể tới điểm con không lên án mình vì đã có một ảo tưởng. Thày Saint Germain đã nói gì? Thày đã từng có tâm lý chưa được giải quyết. À, con yêu dấu, con có thể nào dùng tất cả các giáo lý mà các thày đã trao truyền để xem xét quan niệm thờ phượng Giê-su Ki-tô mà các giáo phái Cơ đốc đã tạo ra? Con có thể xem xét lại kinh điển và thấy là thày cũng đã từng có tâm lý chưa giải quyết và thày phải giải quyết chúng? Con có thể thấy những ngụ ý nếu con đọc được những ẩn ý đằng sau những dòng kinh thánh. Con có thể xem tình huống tại bữa tiệc cưới ở Cana mà Mẹ Mary đã đề cập, khi thày đứng yên và do dự. Tại sao thày do dự? Nếu không phải vì một vấn đề tâm lý chưa giải quyết, thì còn là gì nữa?

25.8. Từ con của người thành con Thượng đế

Có bao nhiêu tín đồ Cơ đốc sẽ coi thông điệp này như một lời thóa mạ thần linh, nhưng thế nào là thóa mạ thần linh? Đó là một quan niệm thiết thực về Giê-su Ki-tô hay một quan niệm thờ phượng Giê-su Ki-tô? “Con sẽ không có Ki-tô nào khác trước mặt ta”, và do đó con phải nhận ra thày là con của người, thày có tâm lý chưa giải quyết, và thày đã trở thành Con của Thượng đế khi thày giải quyết tâm lý đó. Các con là con trai con gái của người, nhưng các con có thể trở thành Con trai Con gái của Thượng đế bằng cách giải quyết tâm lý của mình – đây chính là con đường quả vị Ki-tô. Con chuyển từ là con trai con gái của người trở thành Con trai Con gái của Thượng đế, như Paul có nói trong một bức thư: “Chúng ta sẽ trở thành Con của Thượng đế.”

Con đường quả vị Ki-tô không phải là con đường Thương khó Via Dolorosa đầy đau khổ mà người Công giáo mường tượng. Nó không phải con đường đầy đau đớn, nhưng sẽ có những lúc con đập vào tảng đá của Ki-tô và con nhận ra là tảng đá của Ki-tô sẽ không di dịch. Nó không thể xê dịch và mặc dù những hoang tưởng của tự ngã, giống như khi Peter nghĩ y có thể bảo thày chuyện gì phải xảy ra hay không được xảy ra cho thày, Ki-tô sẽ không di dịch. Ki-tô sẽ không thích ứng theo hoang tưởng của con người, và khi con trải nghiệm điều này thì con nhận ra là tự ngã sẽ không thể thay đổi thực tại và sự thật của Ki-tô. Do đó, con lúc đó có thể chọn lựa chấp nhận Ki-tô, theo Ki-tô bằng cách bỏ tự ngã lại đằng sau, để cho kẻ chết chôn người chết của họ.

25.9. Chọn Ki-tô thay vì tự ngã

Lúc ban đầu, con có thể đi trên con đường quả vị Ki-tô mà không cần phải có trải nghiệm đó, nhưng trên lý thuyết con có thể có trải nghiệm đó bất cứ lúc nào. Ngay cả khi con ở dưới tầng 48. Có thể nói là Paul đã gặp ánh sáng của Ki-tô trên con đường tới Damascus và đã sẵn lòng nhìn nhận rằng ông là người cần thay đổi cuộc đời mình theo thực tại của Ki-tô, từ bỏ những quan điểm của mình, những quan điểm sai lạc về Ki-tô. Tự ngã của con sẽ sợ lúc này. Cái Ta Biết thì không phải sợ, và đây là mục đích của thày khi trao bài truyền đọc này: để chuẩn bị con, cái Ta Biết. Khi con gặp tảng đá không thể xê dịch của Ki-tô, thì cái Ta Biết có thể chọn Ki-tô thay vì chọn tự ngã, và con có thể chỉ giản dị để cho tự ngã chết đi, khía cạnh đó của tự ngã, ngã tiềm thức đó. Con hãy để cho nó chết đi và được tái sinh trong sự sống của Ki-tô.

Con thấy chăng, khi con có trải nghiệm mà thày đề cập, khi cái Ta Biết xoay chuyển ra khỏi một ngã, thấy ảo tưởng nhưng vẫn bị pha màu bởi một ngã khác và vì vậy nó lên án con vì đã có ảo tưởng, thì khi đó con không được tái sinh. Con vẫn còn mang theo mình một thành phần của tự ngã, và nó pha màu cách con nhìn con đường tâm linh. Con có thể xem xét lại một cách có ý thức cách con nhìn con đường tâm linh và tới điểm khi con gặp tảng đá của Ki-tô thì đúng là tảng đá sẽ đập tan một ảo tưởng của tự ngã, nhưng con sẵn lòng buông bỏ ảo tưởng đó, và sau đó con nhận ra là Ki-tô không lên án con vì con đã có ảo tưởng đó. Con có thể có một ngã tiềm thức lên án con, nhưng Ki-tô thì không lên án con. Ki-tô là đấng Cứu chuộc có thể chuộc lại tất cả các ảo tưởng và tội lỗi của con (nếu con nhất định muốn bám chặt vào từ này). Khi con nói: “Tôi có ảo tưởng này thì có sao đâu, tôi sẽ theo chân thày,” thì lúc đó con được tái sinh vào một ý niệm bản ngã cao hơn. Con không cần lên án mình vì đã có một ảo tưởng.

Con thấy đấy, có một thành phần của tự ngã, và có sa nhân từ bên ngoài, muốn phóng chiếu vào con là đi trên con đường tâm linh lúc nào cũng sẽ tuyệt vời. Để con có thể thực sự đi trên con đường tâm linh, thì con phải sạch hết mọi thành phần của tự ngã hay mọi ảo tưởng, và do đó, khi con thấy con có một ảo tưởng thì con phải lên án mình. Ki-tô không nói như vậy. Con đường quả vị Ki-tô là gì? Đó là con đường không ngừng thăng vượt hết ảo tưởng này đến ảo tưởng khác. Các thày đã giảng điều gì: làm sao con hiện thân trên trái đất? Con bắt đầu từ tầng 144, con lấy vào một ảo tưởng, con xuống tầng 143, con lấy thêm một ảo tưởng, và con cứ tiếp tục lấy thêm vào ảo tưởng cho tới khi con xuống tới tầng 48. Làm sao con đi ngược trở lên? Bằng cách khắc phục một cách có ý thức các ảo tưởng đó.

Con sẽ vẫn còn ảo tưởng cho tới khi con lên tới tầng 144 và thăng thiên. Điều thày muốn nói là: con có thể tới điểm con có thể vượt quá việc lên án mình. Con cần tới điểm đó ở tầng 96, con có thể tới điểm đó trước đó, khi con ngưng chờ đợi là con lúc nào cũng phải toàn hảo. Đó là điều tự ngã muốn tin. Có thể nói đây là lời gian dối vi tế nhất của tự ngã, cho rằng nó không có gì sai trái, và nếu con không nhìn nhận là tự ngã có gì sai trái, thì tự ngã có thể sẽ qua mắt Ki-tô và lẻn được vào thiên đàng. Con sẽ tới điểm nhận ra sự thực là Ki-tô đã thấy tự ngã.

25.10. Buông bỏ ý muốn trốn tránh Ki-tô

Tự ngã không bao giờ có thể lừa tâm Ki-tô hay các đại diện của Ki-tô là các chân sư thăng thiên. Tự ngã sẽ không bao giờ vào thiên đàng, cho nên con có thể từ bỏ toàn bộ ý tưởng cho rằng con có thể lừa lọc để vào thiên đàng, hay tự ngã có thể tìm ra một cách nào đó để lẻn vào thiên đàng dưới tầm rà của máy ra-đa. Con thấy chăng, không có lối đi nào dưới tầm ra-đa của tâm Ki-tô, vì trong tâm Ki-tô không có trên hay dưới, phải hay trái, lên hay xuống. Tâm Ki-tô ở khắp mọi nơi, thấy tất cả mọi chuyện. Xoay chuyển có ý thức nào sẽ khiến con đường tâm linh của con trở nên dễ dàng hơn nhiều? Đó là: hãy buông bỏ ý muốn hay ảo tưởng cho rằng con có thể giấu giếm Ki-tô bất cứ điều gì.

Người sứ giả này có kể câu chuyện ông tới điểm thấy được là cách ông tiếp cận con đường tâm linh bị pha màu bởi tự ngã, và thấy mọi chuyện đó đều phù phiếm. Ông buông bỏ chúng, và sau đó ông gặp gỡ Hiện diện của thày, hỏi ông có muốn làm gì cho thày chăng. Trên căn bản ông đã buông bỏ gì lúc đó? Đó là ý muốn giấu giếm Ki-tô. Đó là lý do vì sao thày có thể tiếp cận ông. Nếu ông vẫn còn ý muốn giấu giếm Ki-tô, thì làm sao thày có thể lại gần ông? Nếu thày làm vậy thì thày đã vi phạm quyền tự quyết của ông.

Con cũng vậy, con cũng có thể tới điểm buông bỏ một cách có ý thức ý muốn giấu giếm các chân sư thăng thiên bất cứ điều gì. Để tới được điểm đó, con cần nhận ra là các thày không lên án con, không phán xét con, không hạ thấp con. Chỉ có tự ngã và các lực tăm tối mới muốn hạ thấp con. Các thày thì không. Các thày đã nói điều này bao nhiêu lần rồi? Đã bao nhiêu lần con không nghe thông điệp này? Con có thể nghe nó lần này chăng?

Con hãy buông bỏ ý muốn giấu giếm Ki-tô bất cứ điều gì. Tại sao việc này lại quan trọng? Con đường quả vị Ki-tô là gì? Đó là con đường nhập một với tâm Ki-tô. Làm sao con có thể nhập một với tâm Ki-tô khi con còn tìm cách giấu giếm tâm Ki-tô một điều gì? Thực sự thì con không thể giấu giếm tâm Ki-tô bất cứ gì. Nhưng nếu con nghĩ con có thể, thì để tôn trọng quyền tự quyết của con tâm Ki-tô phải bước lui lại để con có thể duy trì ảo tưởng đó. Nhưng khi đó, con không thể đi xa hơn tầng của con đường tâm linh nơi con cần buông bỏ ảo tưởng đó để tiến lên tầng kế tiếp. Con có thấy điều này chăng?

Thực tế là như vậy đó. Ảo tưởng mà con không chịu buông bỏ, vì con còn tìm cách giấu giếm nó khỏi mắt Ki-tô, ảo tưởng đó sẽ khiến con bị kẹt lại ở một tầng nào đó của con đường tâm linh. Nếu con có thể buông bỏ một cách có ý thức ý muốn giấu giếm Ki-tô bất cứ điều gì, thì con đường tu của con sẽ dễ dàng hơn nhiều. Khi đó, con sẽ không phải gánh chịu cú sốc khi con giáp mặt sự không di dịch của tảng đá Ki-tô sẽ đập tan ảo tưởng của con. Con sẽ suôn sẻ đi từ tầng này lên tầng kế tiếp của con đường tâm linh vì con không cưỡng chống sự thực của Ki-tô. Con mở lòng đón nhận sự thực của Ki-tô từng chút từng chút một, từng bước từng bước một, không phải tất cả cùng một lúc, nhưng khi con bước lên bước kế tiếp thì con đón nhận viễn quan cao hơn của tâm Ki-tô sẽ giúp con thấy ảo tưởng và buông bỏ nó.

Nhiều người trong các con đã nghĩ rằng, và một lần nữa đây lại là một giai đoạn không thể tránh của con đường tâm linh, con đường tâm linh dễ dàng, tuyệt vời, và các thày cũng đã cho con cảm tưởng đó. Con tự do hơn, con an bình hơn. Sự thực là lúc ban đầu, con nghĩ con có thể giấu tâm Ki-tô một số chuyện. Nếu con không tự nguyện xem xét điều này và buông bỏ ảo tưởng đó, thì con sẽ tiến tới điểm không thể tránh khi con giáp mặt tảng đá của Ki-tô sẽ đập tan ảo tưởng. Nếu con có thể buông bỏ một cách có ý thức ý muốn che giấu Ki-tô bất cứ điều gì, thì cuộc gặp gỡ đó sẽ không nhất thiết là một cú sốc lớn cho con. Con có thể mau chóng tới điểm thay vì cưỡng chống không muốn thấy sự thực kế tiếp, con mở lòng đón nhận nó một cách tự nguyện và có ý thức. Có thể nói là: đây là điểm con đường quả vị Ki-tô thực sự bắt đầu – khi con không còn tìm cách giấu giếm Ki-tô bất cứ điều gì.

Khi Ki-tô là tất cả những gì đang có, thì làm sao có thể giấu giếm Ki-tô bất cứ gì? Nếu con có thể đón nhận thực tại này thì con có thể nói: “Tại sao tôi lại cố làm chuyện không thể làm được? Tại sao tôi không buông bỏ toàn bộ ý muốn này và chỉ tuôn chảy theo Dòng sông sự Sống sẽ dần dần cho tôi một viễn kiến càng ngày càng cao hơn về các ảo tưởng mà tôi cần buông bỏ.” Đây là điều mà thày mong tất cả các con đều đạt được, và như vậy con đường tu của con sẽ tràn đầy niềm vui, không là con đường Via Dolorosa đầy đau khổ mà là con Đường của niềm Vui, niềm vui càng ngày càng lớn hơn vì con cảm thấy vui khi buông bỏ được một ảo tưởng và cảm thấy tự do hơn.

Thày đã trình bày rõ ý thày chưa? Nếu chưa thì thày có thể tiếp tục nói thêm một tiếng đồng hồ nữa, nhưng nếu những gì thày đã nói chưa đủ thì có thể là con chưa tới điểm có thể đón nhận điểm này. Các con nên biết, thày không hề lên án con. Thày biết là con đường tâm linh có nhiều giai đoạn. Thày biết là có một số các con đã sẵn sàng nghe thông điệp này, và một số khác thì chưa. Đây không phải là một vấn đề. Con đón nhận những khía cạnh khác mà các thày đã trao truyền trong hội nghị này, bất cứ gì hấp dẫn con, bất cứ gì cộng hưởng với con, và con chú tâm vào điểm đó, và có thể một ngày nào đó con duyệt lại bài truyền đọc này khi con sẵn sàng nghe nó.   

Con yêu dấu, tới đây thì thày niêm các con trong Ngọn lửa niềm Vui mà thày là, vì thày hy vọng các con có thể làm chuyện mà đa số tín đồ Cơ đốc không làm được, đó là trụ vững vào Ngọn lửa niềm Vui mà thày quả thật cầm giữ cho Trái đất. Thày biết là khi con nhìn vào đời sống vỏ ngoài của thày 2000 năm trước đây, thì không có vẻ có nhiều niềm vui trong đó, nhưng thày bây giờ là một chân sư thăng thiên, và làm sao con không có niềm vui khi con là một chân sư thăng thiên? Thày hy vọng con có thể trụ vững vào con đường quả vị Ki-tô tràn đầy niềm vui. Tới đây thì thày niêm các con trong Ngọn lửa niềm Vui đó. TA LÀ Chân sư Thăng thiên Giê-su Ki-tô.

23 | Trở nên tự do trong đời sống hàng ngày

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Saint Germain qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Saint Germain và thày muốn bắt đầu với lời cám ơn các con đã có buổi đọc chú tuyệt vời cho phép thày rải xuống dòng thác năng lượng của ngọn lửa tím. Việc của thày, niềm vui của thày khi trao bài truyền đọc này là cho các con tầm nhìn của Tia thứ Bảy về quả vị Ki-tô.

Giờ đây, một triết gia nổi danh đã nói: “Người nam sinh ra tự do nhưng khắp nơi họ bị xiềng xích.” Lẽ tất nhiên câu này được nói ra vào một thời rất xa xưa bởi vì không thể nói là phụ nữ sinh ra tự do vì họ sinh ra để giữ một vai trò. Dù sao chăng nữa, chúng ta có thể nhìn vào thế giới ngày nay và nói: “Con người sinh ra có tự do không?” Thậm chí trong thời đại này nói rằng mọi người sinh ra tự do có thực tế không? Phải chăng nhiều người sinh ra trong một cuộc sống rất giới hạn, với cơ hội rất giới hạn?

23.1. Chúng ta sinh ra có tự do không?

Khi thày nhìn nhân loại từ góc độ của Thượng sư của Tia thứ Bảy, thày thấy gì? Phải, quả thực thày thấy con người khắp nơi bị xích xiềng. Thày cũng thấy đại đa số con người sinh ra không tự do, ít nhất là trong kiếp sống này. Lẽ dĩ nhiên thày có thể đi ngược dòng thời gian và theo dõi lịch sử của một dòng sống và thấy là đúng, lúc đầu dòng sống đó sinh ra tự do nhưng y cũng sinh ra với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm. Dòng sống đó sinh ra tự do, theo nghĩa không có xiềng xích bên ngoài nào giới hạn y lúc ban đầu. Dòng sống không hoàn toàn có tự do đồng- sáng tạo bất cứ gì y muốn bởi vì y chỉ có thể đồng-sáng tạo được điều gì khi y có thể hình dung, tạo khái niệm, về điều đó và lẽ dĩ nhiên điều này tùy thuộc vào ý niệm bản ngã của y.

Con không sinh ra và có tự do, ít nhất là tự do hoàn toàn. Con tăng triển để có tự do qua sự thăng vượt ý niệm bản ngã. Con nghe chăng điều thày vừa nói? Con tăng triển để có tự do qua sự thăng vượt ý niệm bản ngã, qua sự mở rộng ý niệm bản ngã, cho phép ý niệm bản ngã của con trở nên hơn nữa.

Khi ta nhìn nhân loại ngày nay, ta có thể nói dù rằng hầu hết mọi người đang hiện thân trên hành tinh này đã có một quá trình đầu thai lâu dài (hoặc đầu thai trên hành tinh này nhiều kiếp hay đến từ những hành tinh khác), ta có thể nào nói họ đã tăng trưởng để trở nên tự do hơn chăng? Không đâu, ta không thể nói như thế. Con nhìn nhân loại và đại đa số bị xiềng xích. Giờ đây, lẽ tất nhiên con có thể nhìn điều kiện sống vật lý bên ngoài của họ và thấy nhiều người bị giới hạn bởi các điều kiện vật lý bên ngoài này. Họ không tự do. Họ không có tự do ngôn luận. Họ không có tự do đi lại. Họ không có tự do theo đuổi cơ hội. Họ sinh ra với một thân phận nào đó, có thể là sinh ra trong nghèo khó, có thể là bị áp bức chính trị, có thể là những hình thái nô lệ khác.

Nhưng khi thày là Thượng sư của Tia thứ Bảy, nói tới tự do, thày không chủ yếu nói về tự do vật lý, vật chất bởi chưng những xiềng xích trói buộc con người nằm đâu? Chúng không ở bát cung vật lý. Chúng ở các bát cung tình cảm, lý trí và bản sắc. Chúng ở trong tâm. Cái trói buộc con là các xiềng xích trong tâm con.

23.2. Đảo ngược quá trình lấy đi tự do của con

Giờ đây, không nhiều người ngày nay lớn lên ở đồng quê gần gia súc cho nên rất ít ai thực sự  thấy một con bò đực. Con có thể biết là bò đực là một con thú to và mạnh nhưng khi bò còn nhỏ con có thể xỏ một khuyên sắt vào mũi bò. Lý do là mũi rất nhạy cảm cho nên một người dù không mạnh bằng bò nhưng nếu có một sợi dây buộc vào khuyên sắt đó thì có thể kéo bò đi theo. Điều con làm với bò là con buộc một sợi dây vào khuyên sắt nơi mũi bò, con cột dây vào cọc, con đóng cọc xuống đất và giờ đây, bò có một khoảng vòng tròn trong đó nó có thể ăn cỏ. Điều có thể xảy ra cho bò là nó tiếp tục đi cùng hướng và do đó nó quấn dây chung quanh cọc cho tới lúc nó quấn dây chặt đến độ nó không nhúc nhích được. Giờ đây, bò đứng đó và nó có thể cào đất, nó có thể thở phì phò qua mũi và nó có thể làm ồn ào vì nó cảm thấy bị hạn chế bởi dây xích. Nó có thực sự bị giới hạn bởi dây xích không? Không đâu, vì nó chỉ cần đi ngược lại hướng kia và cởi lỏng dây xích nhưng bò không thể làm được vì nó không thể nghĩ ra cách đó. Một số các con có thể thấy một con chó cũng làm như thế. Ở mức tâm thức này thú không đủ nhận biết để nghĩ: “Tôi có thể đảo ngược được quá trình làm tôi bị giới hạn và do đó tìm được tự do chăng?”

Đáng tiếc thay, điều con thấy nơi hầu hết con người trên Trái đất là họ cũng thiếu tự do như con bò đực đã quấn dây xích chung quanh cọc. Giống như bò, họ không thể bước lui lại và nghĩ: “Nếu tôi đảo ngược quá trình khiến tôi bị mắc kẹt thì sao? Có thể nào lúc đó tôi sẽ trở nên tự do hơn không?”

Công việc của các chân sư thăng trải qua các thời đại là gì? Chủ yếu là giúp con người trở nên tự do. Nhưng làm sao con trở nên tự do? Chỉ bằng cách nhìn vào các điều kiện trong tâm đã làm con mất tự do, đã giam tù con. Con phải thả lỏng dây xích trong chính tâm con, trong tâm tiềm thức của chính con và trong tâm ý thức của con đã giữ con mắc kẹt. Bao nhiêu người đã nắm bắt được điều này, mặc dù các thày đã giảng dạy từ rất lâu nay? Chẳng phải Giê-su đã dạy mọi người là vương quốc Thượng đế ở trong con? Chẳng phải Phật đã nói tới giải quyết tâm lý, dù thày không dùng các từ ngữ này vào thời đó? Chẳng phải Bát chánh đạo là con đường cởi lỏng, tháo gỡ các dây xích trong tâm con? Chẳng phải giáo lý Vệ đà nói tới những điều tương tự, một lần nữa với những từ và bối cảnh khác? Giáo lý đã được truyền từ rất lâu nhưng rất ít người neo trụ vào giáo lý.

23.3. Ngục tù ở trong tâm con

Lẽ tất nhiên thày muốn chuyện này thay đổi bởi vì điều gì khiến cho con người bị giới hạn vật lý, bị giam cầm vật lý? Ấy, làm sao một nhà độc tài giam cầm được cả triệu người? Làm sao một người có thể uốn hàng triệu người theo ý muốn của mình? Chỉ bằng cách dùng những điều kiện trong tâm lý những người này khiến họ sẵn lòng tùng phục nhà độc tài vì họ không sẵn lòng suy nghĩ cho chính họ và lấy trách nhiệm cho chính họ và lấy quyết định của riêng họ. Họ muốn nhà độc tài quyết định thay cho họ và sau đó nói với họ rằng nếu họ nhắm mắt đi theo nhà độc tài, thì cuối cùng mọi chuyện sẽ tuyệt vời, bất kể lời hứa hẹn là gì. Lời hứa hẹn là Đế chế thứ Ba (Third Reich) hay làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại, hay hồi phục một nước Nga vĩ đại, dù hứa hẹn là gì chăng nữa, con người tin vào đó vì nó cho họ cái cớ để không tháo gỡ sợi dây xích trong tâm họ.

Thày mong muốn càng ngày càng nhiều người thức tỉnh và thấy được sự thực là điều ràng buộc họ nằm trong tâm lý họ, bởi vì những điều kiện vật lý mà họ phải đối mặt giản dị phản ánh lại những gì họ phóng chiếu lên ánh sáng Mẫu-vật từ các tâm bản sắc, lý trí và tình cảm của họ. Điều này áp dụng cho một người, áp dụng cho dân số lớn của một quốc gia lớn và cũng áp dụng cho nhân loại như một tổng thể. Những điều kiện vật lý con thấy trên Trái đất chỉ là những phóng chiếu từ trong tâm nhân loại, tâm tình cảm, lý trí và bản sắc.

23.4. Quả vị Ki-tô có giới hạn tự do của con không?

Quả vị Ki-tô là gì? Quả vị Ki-tô là quá trình trở nên tự do khỏi những xích xiềng từ tâm phản Ki-tô, tâm nhị nguyên, cảm nhận tách biệt. Giờ đây có những người có tư duy sa ngã, tư duy rắn sẽ nói: “Ấy, Saint Germain, điều này không thật. Tôi bị hạn chế bởi những giới hạn đạo đức đến từ cảm nhận mình là một sinh thể kết nối, khiến tôi phải nghĩ tới hậu quả hành động của tôi trên tổng thể. Chỉ khi nào tôi nổi loạn chống lại ông Thượng đế ngồi cao trên trời kia và quyết định làm gì tôi muốn mà chẳng cần xét đến hậu quả thì tôi mới thực sự trở nên tự do.” Đây là điều một số người thực sự tin. Một số khác không tin nhưng họ muốn con người tin như vậy, cho nên họ quảng bá lời dối trá dù họ biết nó dối trá.

Tại sao đó là lời dối trá? Ấy, con hãy nhìn vào các điều kiện trên Trái đất. Rất nhiều tín đồ các tôn giáo có hình ảnh là họ phải đánh giá hành động của họ dựa trên những quy luật đạo đức do tôn giáo họ quy định, bởi vì chừng như các quy luật đạo đức này đến từ chính Thượng đế. Chúng được tạc vào bảng đá khi Moses đi lên núi: “Ngươi không được…” Và nếu ngươi không làm theo thì Thượng đế sẽ trừng phạt ngươi xuống địa ngục đời đời kiếp kiếp. Sa nhân, tâm rắn sẽ chỉ vào đó và nói: “Thấy chưa, đây là bằng chứng thiếu tự do vì bạn bị hạn chế bởi quy luật đạo đức của ông Thượng đế giận dữ, phán xét và trừng phạt ở trên trời. Và chỉ khi nào chúng ta nổi loạn chống lại ông Thượng đế đó và quy luật đạo đức của ông thì chúng ta mới trở nên tự do thực sự, chúng ta mới có thể thực sự thực thi quyền tự quyết của mình.”

Điều họ quên hỏi là: “Ai chế ra ông Thượng đế trên trời?’ Sự thực là sa nhân đã chế ra ông Thượng đế giận dữ và trừng phạt ở trên trời vì họ muốn dùng hình ảnh Thượng đế đó để kiểm soát con người. Sa nhân khác chế ra hình ảnh quỷ dữ chống lại Thượng đế trên trời vì họ cũng muốn kiểm soát con người. Giờ đây con người bị kẹt giữa Thượng đế giận dữ trên trời và quỷ dữ giận dữ dưới này và ý tưởng con đạt được tự do bằng cách phục tùng quỷ dữ cũng giận dữ như ông Thượng đế trên trời có hợp lý chăng? Đây là điều họ muốn con tin.

23.5. Nhị nguyên có phải là tự do tối hậu không?

Sự thực là gì? Ấy, sự thực là quả thực có một số sinh thể đã nổi loạn chống lại quá trình tự vượt thăng. Họ đã đi vào tâm thức nhị nguyên và điều này có thể xảy ra (quả thực nó xảy ra cho một số đông dòng sống đã đi vào nhị nguyên) là sau khi họ đi vào nhị nguyên thì họ có một cảm giác tự do nào đó vì họ cảm thấy bây giờ họ có thể làm bất cứ gì họ muốn mà không cần xét đến hậu quả. Họ không xét đến hậu quả hành động của họ trên người khác, nhưng thậm chí họ cũng không thực sự xét đến hậu quả trên chính họ. Tự ngã của họ có thể tin bất cứ gì chúng muốn tin và do đó, những người ở trong nhị nguyên có thể tin: Không có hậu quả nào hết, ít nhất là những hậu quả vượt lên trên những hậu quả vật lý tức thời. Nếu con giết một người khác, con vẫn không bị sét đánh, cho nên tự ngã có thể khiến con tin con đã thoát khỏi tội giết người – nhưng con có thoát thật không?

Con hãy nhìn thế giới Tây phương dưới sự cai quản của Cơ đốc giáo đã trong một thời gian dài chối bỏ luật tái sinh và nhân quả. Đúng là họ có nói tới tội lỗi nhưng tội lỗi không giống hẳn luật tái sinh và nhân quả. Con thấy đấy, nếu con thực sự nắm bắt luật nhân quả (lẽ dĩ nhiên, nhiều người bên phương Đông biết về luật nhân quả nhưng không nắm bắt nó là gì), khi con thực sự nắm bắt nó thì nhân quả là gì?

Để hiểu được nhân quả con cần hiểu là đấng Sáng tạo của chúng ta đã sinh tạo thế giới hình tướng này dựa trên kinh nghiệm của ngài đã từng bắt đầu trong một thế giới khác đã được một đấng Sáng tạo khác tạo nên. Đấng Sáng tạo của chúng ta bắt đầu như một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm y hệt như tất cả chúng ta. Đấng Sáng tạo của chúng ta tăng triển khả năng đồng-sáng tạo của mình qua nhiều tầng lớp của thế giới hình tướng trước đó và do đó ngài trải nghiệm trực tiếp điều gì có thể khiến một thế giới hình tướng bền vững và điều gì phá hủy nó. Do đó, khi sinh tạo thế giới hình tướng của chúng ta, đấng Sáng tạo đã quy định một số thông số cho thế giới hình tướng mà ngài mong muốn. Nguyên lý chung của đấng Sáng tạo là sinh tạo một thế giới bền vững sẽ không tự hủy diệt và đấng Sáng tạo biết qua kinh nghiệm là điều này có nghĩa là cần duy trì một mức quân bằng nào đó. Không phải chỉ có một loại quân bằng. Những thế giới hình tướng khác nhau có những yếu tố hay phương trình quân bằng khác nhau nhưng luôn luôn phải có quân bằng.

Điều này có nghĩa là khi đấng Sáng tạo quyết định cho những nối dài của ngài quyền tự quyết thì ngài biết là một số sinh thể sẽ không dùng quyền tự quyết của họ như những sinh thể kết nối mà sẽ đi vào tách biệt. Đấng Sáng tạo biết là khi con đi vào tách biệt thì con tạo ra mất quân bằng, con trở nên mất quân bằng bởi vì trong tách biệt, trong nhị nguyên, như các thày đã giải thích rất nhiều lần, luôn luôn có hai cực. Cả hai cực đều không đúng. Cả hai cực đều không thật. Do đó, cả hai cực đều mất quân bằng. Khi con đi về cực nhị nguyên này thì con trở nên càng ngày càng mất quân bằng hơn. Khi con đi về cực nhị nguyên kia thì con cũng trở nên càng ngày càng mất quân bằng hơn. Khi con đi vào điểm ở giữa hai cực đoan thì con vẫn mất quân bằng.

23.6. Nghiệp quả là một dạng mất quân bằng

Đấng Sáng tạo biết là nếu ngài cho phép các sinh thể đi vào nhị nguyên mà không có gì để quân bằng họ, thì trên lý thuyết họ có thể càng ngày càng đi xa hơn về hướng một cực đoan nhị nguyên và tiếp tục đi tiếp và do đó bị mắc kẹt vô hạn định trong nhị nguyên. Lẽ tất nhiên đây không phải là điều đấng Sáng tạo mong muốn. Ngài không muốn những nối dài của chính ngài bị mắc kẹt, ngài muốn họ tăng triển để rốt cuộc tới được tâm thức đấng Sáng tạo. Lẽ dĩ nhiên ngài không muốn một phần của chính mình bị kẹt lại vĩnh viễn trong nhị nguyên.

Điều đấng Sáng tạo làm là tạo ra Luật Nhân quả. Khi con đi vào nhị nguyên, con tạo một sự mất quân bằng. Xung lực mất quân bằng mà con tạo ra phải có một lực ngược lại theo nguyên tắc hành động và phản ứng. Với mỗi hành động sẽ có một phản ứng ngược lại với cùng cường độ. Con được phép đi tới  một cực đoan nhị nguyên để trải nghiệm ở đó như thế nào nhưng con sẽ tạo ra một năng lượng lôi kéo con, một lực từ tính lôi kéo con ra khỏi cực đoan nhị nguyên đó. Nhân quả không thực sự kéo con về hướng cực nhị nguyên đối ngược nhưng nó kéo con ngược lại hướng con đang đi.

Lẽ dĩ nhiên mục đích là sẽ tới điểm con kéo sợi dây thun của nhân quả xa nhất mà con có thể và mong muốn kéo. Con tới điểm cảm thấy: “Tôi không thể tiếp tục làm chuyện này nữa,” con thấy nó vô bổ, nó phù phiếm. Lúc đó con buông bỏ và sợi dây thun sẽ dần dần bắt đầu kéo con trở lại, khi con sẵn lòng nhìn thấy sự kiện là các ngã, các ảo tưởng mà con đã tạo ra trong chính tâm mình đã khiến con càng ngày càng đi xa, tin rằng mình đang đi đúng hướng, thậm chí còn tin rằng mình càng ngày càng được thêm tự do khi mình càng ngày càng trở nên mất quân bằng.

Nhân quả không phải là một trừng phạt như phương Đông đôi khi nghĩ như thế. Nhân quả là ân phước cứu rỗi những người đã đi vào nhị nguyên và vì vậy không thể nghe theo bất kỳ hướng dẫn nào từ cõi thăng thiên. Nó kéo con trở về điểm con có thể chọn kết nối trở lại, trở về là một sinh thể kết nối có khả năng nhận được điều gì đó từ cái ta cao của mình và từ các chân sư thăng thiên, nhận được một xung lực, hay hướng dẫn có thể giúp con bước lên bước kế tiếp.

23.7. Một cảm giác tự do giả

Ý thày muốn nói là khi con đi vào nhị nguyên và không đếm xỉa đến hậu quả, con sẽ cảm thấy tự do trong một thời gian nào đó: “Tôi có thể làm mọi chuyện tôi muốn và thoát khỏi trừng phạt. Mấy ý vớ vẩn về ông Thượng đế trừng phạt đều xạo hết. Tôi có thể bỏ qua hết mấy thứ đó. Tôi đã có tự do làm bất cứ gì tôi muốn.” Con có thể cảm thấy như vậy trong một thời gian vì một lần nữa, vũ trụ là một cỗ máy trải nghiệm cho phép con có bất cứ trải nghiệm nào con có thể  mường tượng. Lẽ dĩ nhiên sẽ tới điểm hậu quả của hành động của con bắt đầu đập con và do đó con có cơ hội quán xét: “Có thực là tôi có thể làm bất cứ gì tôi muốn mà không có hậu quả không?” Như các thày đã nói trước đây, nếu con chọn lựa mà không có hậu quả, con có thực sự chọn lựa không?

Sự thực là không có tự do trong nhị nguyên và tách biệt. Con có thể cảm thấy tự do, con có thể trải nghiệm một dạng tự do nào đó nhưng con hãy xét ý này: “Ông Thượng đế giận dữ trên trời giới hạn tự do của tôi, quyền tự quyết của tôi. Chỉ khi nào tôi nổi loạn chống lại ông Thượng đế đó tôi mới đạt được tự do.” Con được loại tự do gì khi con đi vào nhị nguyên? Ấy, con được tự do khỏi, tự do khỏi cái gì đó. Con được loại tự do gì khi con thấy mình là một sinh thể kết nối và con sẵn lòng vượt thăng chính mình? Nó không phải là tự do khỏi cái gì đó, nó là tự do tới cái gì đó.

Khi con ở tầng 48 và thấy mình là một sinh thể kết nối, con không nổi loạn chống lại tầng 48 để lên tầng 49. Con nhìn lên và con thấy: “À, ở tầng 49 có nhiều tự do hơn. Tôi muốn cái đó.”  Con đi tới một tự do lớn hơn, một ý niệm bản ngã lớn hơn. Con mở rộng ý niệm bản ngã, con thăng vượt ý niệm bản ngã.

Khi con đi vào nhị nguyên, con có mở rộng ý niệm bản ngã không? À, con có thể cảm thấy như vậy một thời gian, nhưng thực tế thì con không mở rộng ý niệm bản ngã vì con đã chọn một cực nhị nguyên và giờ đây con phải bảo vệ chọn lựa của mình hết lần này đến lần khác. Con liên tục biện hộ tại sao con đi hướng đó và tại sao đường đó đúng. Con bị đe dọa bởi những người đang đi về hướng đối cực nhị nguyên kia. Giờ đây con bị kẹt trong đó, con phải biện minh cho mình bằng cách cố gắng thuyết phục người khác hay đấu tranh với người khác hay tiêu diệt người khác hay diệt trừ tất cả những ai đe dọa cảm giác con đúng. Lúc nào con cũng ở trong trạng thái biện minh là mình đúng và tự thân nó đã là một nhà tù. Trên thực tế nó là nhà tù tinh vi nhất vì những người nghĩ họ đúng thường không thấy họ đang bị giam cầm bởi nhu cầu biện minh mình đúng.

23.8. Một cảm giác tự do thật

Khi con là một sinh thể nối kết, con không nghĩ mình đúng tối hậu. Tại sao? Vì con trải nghiệm mình nối kết với cái gì đó bên ngoài tâm mình, một cái gì lớn hơn tâm mình. Người sứ giả này, nhiều nhiều năm trước đây khi lần đầu tiên ông trụ vững vào nhận biết các chân sư thăng thiên thục sự là gì, thì ông nhận ra: “Các chân sư thăng thiên có tầng tâm thức cao hơn tâm thức của tôi, cao hơn rất nhiều. Và đấy là giá trị của các thày vì các thày không thể bị ô nhiễm bởi bất cứ gì trên Trái đất. Và đó là lý do tại sao tôi muốn kết nối với các chân sư thăng thiên thay vì tiếp tục bị kẹt trong trạng thái tâm giới hạn của mình.” Lẽ tất nhiên, những người trong nhị nguyên không thể lý luận như vậy, họ không nắm bắt được ý niệm này vì họ phải biện minh là tâm họ cao trội, tâm họ có thể quy định sự thực.

Khi con là một sinh thể kết nối, con trải nghiệm có cái gì đó vượt quá tâm mình. Do đó, con không cần biện hộ cho trạng thái tâm của mình. À, trong một thời gian con có một số ngã tiềm thức muốn biện hộ cho trạng thái tâm của con, nhưng khi con tiến lên cao hơn và tới gần tầng 96 và đi quá tầng này, thì con có thể buông bỏ nhu cầu biện hộ cho bất cứ gì. Con có thể chấp nhận: “Tôi không ở trong trạng thái tâm thức cao nhất. Do đó, tôi sẵn lòng tiếp tục nhìn vào chính mình, thăng vượt tầng tâm thức hiện thời của mình và vươn lên tầng kế tiếp. Tôi sẵn lòng tiếp tục làm vậy cho tới khi tôi hội đủ điều kiện để thăng thiên và do đó, tôi có thể vươn lên một mức độ tự do hoàn toàn mới mà tôi không thể vận dụng khi còn hiện thân trên một hành tinh phi tự nhiên như Trái đất.”

Giờ đây, con có thể nói: “Như một chân sư thăng thiên thày có tự do không ?” Ấy, con có tự do theo nghĩa không có gì bên ngoài con có thể giới hạn con. Lẽ tất nhiên, con vẫn có một tầng tâm thức nào đó và do đó, con bị giới hạn bởi những gì con có thể tưởng tượng được và con sẽ như thế cho tới khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo. Thày có thể bảo đảm với con là như một chân sư thăng thiên con được một mức tự do mà hầu hết con người trên Trái đất không mơ ước nổi. Con có vô số chọn lựa. Con không thể ngờ những chọn lựa nào, những khả năng nào mở ra cho con khi con thăng thiên. Con chỉ cần nhìn vũ trụ vật chất. Có bao nhiêu hành tinh? Có bao nhiêu thái dương hệ? Có bao nhiêu giải ngân hà? À, trên cõi thăng thiên có những cấu trúc tương tự. Con thăng thiên từ Trái đất, giờ đây con nhận ra: “Ồ, có biết bao nhiêu điều tôi không biết. Có biết bao nhiêu điều tôi có thể học.” Sau đó, con thấy: “Ồ, trong hệ thống trên kia, có trường dạy kiến thức đặc biệt này hào hứng quá với tôi. Tôi muốn tới đó.” Rồi con tới đó học một thời gian và con thấy điều gì khác và con có thể tiếp tục học và học và liên tục thăng vượt chính mình.

Để có tự do đó con phải thăng thiên khỏi hành tinh nhỏ bé này nơi con hiện thân và đây là toàn bộ mục đích của các thày: giúp các con làm điều này. À, mục đích của thày cũng là biểu hiện thời đại hoàng kim và việc này cần một số người ở lại hiện thân để biểu hiện nó cho thày, do đó không phải là tất cả các con đều cần thăng thiên sau kiếp sống này. Tuy thế, thày vẫn muốn con có tự do để có thể thăng thiên nếu con muốn, hay con tự do chọn lựa là con muốn hiện thân một kiếp nữa để giúp biểu hiện thời đại hoàng kim.

23.9. Tự do lớn hơn trong đời sống hàng ngày

Tất cả những điều này liên quan thế nào tới chủ đề của hội nghị này? À, làm sao con đạt được tự do? Chỉ qua tâm Ki-tô. Con không thể đạt được tự do qua tâm nhị nguyên. Con không thể suy nghĩ để thoát khỏi nhị nguyên, suy luận để thoát khỏi nhị nguyên, phân tích để thoát khỏi nhị nguyên. Con chỉ có thể đạt được tự do lớn hơn qua tâm Ki-tô. Làm sao con đạt được tự do lớn hơn đó? Giê-su đã nói gì? “Ai vì ta mà mất sự sống mình.” Con phải cho ý niệm bản ngã hiện hành của con chết đi để đạt được nối kết cao hơn với tâm Ki-tô. Đó là tự do. Mỗi lần con cho một ý niệm bản ngã chết đi, mỗi lần con cho một ngã tách biệt chết đi, con đạt được tự do lớn hơn vì con đạt được hợp nhất lớn hơn với tâm Ki-tô. Chỉ qua cái chết của cái là tâm linh chết con mới đạt được tự do, con mới đạt được đời sống, đời sống của Ki-tô, cũng là ánh sáng cho người nam và người nữ.

Quả vị Ki-tô là con đường duy nhất dẫn tới tự do. Giờ đây con có thể gọi nó là Phật tánh hay cái gì khác nhưng Tâm Một, tâm không phân chia được, tâm hợp nhất là con đường duy nhất dẫn tới tự do. Một khi con hiểu điều này, một khi con hiểu con đường tu và con bước đi trên con đường đó, nó áp dụng thế nào trong đời sống hàng ngày của con? À, con có thể nhìn lại mình trước khi con tìm ra con đường tu, như nhiều người trong các con có thể làm và con thấy mình giống như chú bò đực đã quấn dây xích chung quanh cọc và con hầu như không thể di chuyển được. Con có thể thấy là nhờ đi trên con đường tu con đã đạt được tự do lớn hơn.

Có thể một số trong các con mới bước vào đường tu và con vẫn còn quấn dây xích thật chặt chung quanh cọc và con cảm thấy con không thể thực sự di chuyển và con tự hỏi làm sao con đường tu, mấy cái thứ xa vời đó mà các chân sư thăng thiên nói tới, có thể giúp con. “Tôi có thể nào nới rộng dây xích một chút để tôi có thể thở lại được không?” Con có thể làm được. Các thày đã cho con những dụng cụ để nới rộng dây xích để con có thể thở được, nhưng con phải áp dụng các dụng cụ này để nhìn vào bên trong mình thay vì nghĩ dây xích đang giới hạn con. Không đâu, chính những gì con làm khi con quấn dây xích chung quanh cọc đã giới hạn con và con có thể cởi trói mình khỏi cây cọc của đời sống, cây cọc buộc con chặt vào mặt đất.

23.10. Con có muốn tự do không?

Chỉ có một cách thực hiện được: Con hãy nhìn vào tâm lý mình. Con hãy sẵn lòng giải quyết tâm lý mình, sẵn lòng dùng những dụng cụ các thày đã cho, những dụng cụ có trong lãnh vực tâm lý và lãnh vực tự giúp bản thân, bất kỳ lãnh vực nào hấp dẫn con. Đây là cách duy nhất để được tự do: con đi ngược lại quá trình đã buộc trói con. Điều đó hợp lý thế nào? Khó bao nhiêu để nắm bắt điều đó? Con giáp mặt với chọn lựa gì? Con có thể nói: “Ấy, Saint Germain, điều thày nói nghe thật hay, nhưng nó dễ nói với thày vì thày đã thăng thiên. Nhưng thày nhìn con đây, nhìn hoàn cảnh của con, con bị trói buộc bởi tất cả những điều kiện bên ngoài này, bởi những người khác và bởi điều này và điều kia. Làm sao con áp dụng được những gì thày nói cho hoàn cảnh của con?”

À, con có thể bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi này với mình: “Tôi có muốn tự do không? Tôi có muốn tự do không?” Nhiều người trong các con sẽ nói: “Có, có, tôi muốn thoát khỏi dây xích.” Nhiều người trong các con tự dối mình bởi vì nếu con thực sự muốn tự do, con sẽ sẵn lòng làm bất cứ gì cần làm để được tự do. Con sẽ sẵn lòng áp dụng giáo lý. Con sẽ sẵn lòng nhìn vào chính mình. Nhưng nếu con nhìn thày và con nói: “ Ôi, Saint Germain, hãy chỉ cho con phép luyện kim tuyệt vời sẽ khiến con được tự do,” thì con không muốn được tự do. Con cần hỏi câu hỏi kế tiếp mà thày đặt ra lúc bắt đầu: “Điều gì làm cho tôi bị tù,” và con nhận ra nó là cái gì đó trong chính tâm con. Cho tới khi con nhìn vào cái đó trong chính tâm con, con sẽ không được tự do. Ngày nào con còn tiếp tục đi theo hướng cũ, con chỉ thắt chặt hơn dây xích, con không nới lỏng nó. Con phải làm điều gì đó mà trước kia con chưa làm. Nếu con cứ tiếp tục làm cùng một thứ và chờ đợi kết quả khác, con điên rồ.

Nhiều, nhiều người trải qua nhiều năm, thày nhìn trở về các thập niên 1930 và Phong trào TA LÀ, nhiều, nhiều người đã tới với các thày. Vào thời điểm đó, các thày trao truyền ba cuốn sách xanh lục nói về những điều tuyệt diệu xảy ra cho Guy Ballard và cách nào ông gặp thày trên núi Mount Shasta, cách nào ông được đưa tới Hang Biểu tượng (Cave of Symbols) và cách nào điều dường như phép lạ này hay phép lạ kia xảy ra. Các thày hiểu nhiều người đã tạo nên những kỳ vọng dựa trên đó nhưng đó là mức tâm thức con người ở thời điểm đó. Dù gì, nhiều, nhiều người đã tới và họ kỳ vọng một phép lạ nào đó xảy ra, một loại thuật hóa kim nào đó, một loại đá thần hóa kim nào đó sẽ khiến họ được tự do.

Thời đó, tâm thức tập thể không ở mức các thày có thể cho những giáo lý về tâm lý như ngày nay. Thày không trách cứ bất cứ ai, thày chỉ giản dị nói: Ngày hôm nay và ở thời đại này, các thày có thể cho những giáo lý này. Câu hỏi duy nhất là: “Con có sẵn sàng đón nhận chúng không?” Nếu con không sẵn sàng, thày không trách cứ con. Nếu vậy thì có lẽ con đi nơi khác và tìm cái gì khác hấp dẫn con. Nếu con sẵn lòng đạt tự do thì hãy dùng những giáo lý các thày cho trong thời đại này và sẵn lòng nhìn vào tâm lý mình. Bởi vì nếu con không sẵn lòng nhìn vào tâm lý mình, con không thực sự muốn tự do.

23.11. Điều gì làm tôi kẹt trong đời sống hàng ngày?

Làm sao con áp dụng điều này trong hoàn cảnh đời sống hàng ngày? Con có thể nói: “Điều gì trong hoàn cảnh này khiến tôi kẹt? Trong tâm tôi, trong tâm lý tôi, trong phản ứng của tôi, có gì làm cho tôi kẹt? Làm sao tôi dùng được hoàn cảnh này để nhìn vào mình và trở nên tự do hơn? Con có thể thực sự tới điểm con cảm thấy: “Đây là hoàn cảnh, đây là xung đột mà tôi đã có một thời gian dài với người kia.” Con có thể cảm thấy phản ứng bình thường của con trong hoàn cảnh này chỉ buộc dây xích chặt thêm. Con có thể cảm thấy sự chống trả trong con. Rồi con có thể học để nhận ra phải có một ngã tiềm thức ẩn núp bên dưới và ngã tiềm thức đó chỉ có thể phản ứng một kiểu trong hoàn cảnh đó: kiểu phản ứng từ trước tới nay của tôi. Đó là lý do tại sao tôi cứ tiếp tục thắt chặt hơn dây xích và đó là tất cả những gì tôi làm được khi tôi bị kẹt trong ngã tiềm thức đó và tôi bị nó làm cho đui mù. Sau đó, con có thể dùng những dụng cụ các thày đã cho các con, chỉ cho con cách phơi bày các ngã tiềm thức này, chỉ cho con cách tới được điểm thấy được ảo tưởng và thấy được con không phải phản ứng một kiểu duy nhất với hoàn cảnh đó. Có những cách phản ứng khác.

Sau đó, con có thể nhìn vào ảo tưởng khiến con nghĩ chỉ có một cách duy nhất phản ứng lại hoàn cảnh này hay người này. Cái Ta Biết có thể lấy một chọn lựa: “ Tôi không muốn tiếp tục phản ứng kiểu này nữa. Tôi muốn thoát khỏi khuôn nếp này.” Con có thể tới điểm buông ngã xuống vì con thấy ra ngã. Con thấy ngã giống như một lập trình chỉ có thể hành động một kiểu và con buông ảo tưởng này xuống. Lúc ấy con tự do thêm chút xíu. Con có thể vẫn còn dây xích quấn chủ yếu quanh cọc, nhưng chuỗi xích có những khuyên riêng lẻ và mỗi lần con thấy một ngã, nó giống như con gỡ được một khuyên từ dây xích và con tự do hơn. Con có thể không những học tháo dây xích nhưng thực sự làm cho dây xích tan đi cho tới khi càng ngày càng ít thứ trói con vào các mô thức phản ứng, vào tâm thức nhị nguyên, vào sự dính mắc người khác. Cuối cùng, con có thể tới tầng mức cao hơn mà tất cả các Thượng sư đã đề cập, khi con đi quá tầng 96 và hội nhập sâu hơn với một tia đặc thù.

Con có thể tới điểm với Tia thứ Bảy là với bất cứ gì con làm, với bất cứ hoàn cảnh nào, mục tiêu của con là được tự do hơn, là dùng hoàn cảnh đó để trở nên tự do hơn. Khi con thực sự nắm bắt tiến trình và con sẽ không đi quá tầng 96 nếu con không nắm bắt tiến trình làm tan các ngã, con có thể thấy con có thể đi xa mà không có giới hạn. Không có gì giữ con lại. Không có lực bên ngoài nào ép con phải nắm giữ những ngã này. Tất cả xảy ra bên trong tâm con. Khi con hoàn toàn chấp nhận dây xích chỉ có trong tâm con, đó là lúc con bắt đầu biểu hiện quả vị Ki-tô. Đấy là lúc con có thể bắt đầu biểu hiện quả vị Ki-tô vì đấy là lúc con có thể né tránh ý tưởng này: “Ồ, có gì đó tôi phải làm.” Thay vào đó, con có thể đơn giản cho phép nó tuôn chảy tự do.

23.12. Ám ảnh cưỡng chế về quả vị Ki-tô

Các thày đôi khi thấy nhiều đệ tử tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên, họ nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô và họ nghĩ, “À, tôi phải làm gì đó để biểu hiện quả vị Ki-tô của tôi.” Họ trở nên ám ảnh cưỡng chế về điều này. Họ rất hăng hái. Họ thúc ép người khác, họ muốn thuyết phục người khác vì họ nghĩ mục tiêu của quả vị Ki-tô là thay đổi người khác hay thay đổi thế giới. Nhiều, nhiều đệ tử trải qua một giai đọan rất chú tâm vào việc thay đổi thế giới bằng cách đọc chú và thỉnh. Một lần nữa, các thày không trách cứ các con chút nào. Đó là một giai đoạn tự nhiên trên đường tu.

Khi con đi quá tầng 96, con nhận ra quả vị Ki-tô không phải là thay đổi người khác. Quả vị Ki-tô là con là chính mình, con biểu hiện cái ta cao của con. Như thế người khác có cơ hội thấy là có một trạng thái tâm thức khác với trạng thái tâm thức của họ. Họ nắm lấy cơ hội này hay không chẳng là quan tâm của con. Vì con không cần biểu hiện một kết quả bên ngoài, như Nada đã diễn đạt rất hay. Mục tiêu của con không phải là biểu hiện một kết quả đặc thù mà con tự do chảy theo Dòng sông sự Sống.

Con có thể nói: “ Nhưng Saint Germain, nghe có vẻ như thày muốn thay đổi tâm chúng con. Thày muốn chúng con tự do và thày muốn biểu hiện Thời đại Hoàng kim của thày. Chẳng phải thày có một mục đích?” Đúng, nhưng thày là một chân sư thăng thiên. Thày là một chân sư thăng thiên. Thày không có các ngã tiềm thức. Thày không có động lực vị kỷ của ngã. Thày không cần đạt gì cả khi thay đổi con.

Thực ra thày không cố  gắng thay đổi tâm con. Thày chỉ chỉ cho con làm thế nào con thay đổi được tâm mình và tự do càng ngày càng nhiều hơn. Vì thày biết qua kinh nghiệm là con thực sự muốn tự do bằng không con đâu ở đây lắng nghe những lời này. Nếu con không thực sự muốn tự do, con sẽ không bao giờ tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên. Thày chỉ tìm cách giúp con nắm bắt giáo lý này là gì, con đường tâm linh là gì, quả vị Ki-tô thực sự cống hiến con điều gì, để con có thể dùng quả vị theo cách tốt nhất và trở nên tự do. Vì thày biết khi con trở nên tự do, con sẽ cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Con sẽ cảm thấy phần thưởng con nhận được lớn lao và thật đáng để con buông bỏ ý niệm bản ngã kém hơn đó.

23.13. Đường tâm linh đáng để nỗ lực.

Con yêu dấu, nó thật giản dị. Khi con bỏ lại một ý niệm bản ngã kém hơn và vươn lên một ý niệm bản ngã cao hơn, nó đáng để con buông bỏ. Con sẽ không thương tiếc ngã kém hơn. Con sẽ cảm thấy tự do hơn rất nhiều, thoải mái hơn rất nhiều về chính mình. Quả thực điều thày muốn cho con không giống như con người muốn thay đổi người khác. Thày biết đây là điều con muốn cho chính mình và thày chỉ giản dị cho con cái đà đẩy con vượt qua một lằn ranh khác để con vươn lên tầng kế tiếp của đường tu. Vì thày biết qua kinh nghiệm là tại mỗi tầng có một sự chống cự nào đó.

Vai trò của tâm Ki-tô là gì? Là chỉ cho con một chọn lựa khác, là con có thể xuyên phá lực chống cự và vươn lên tầng kế tiếp. Thỉnh thoảng, vai trò của tâm Ki-tô là đẩy con một chút, giống như tất cả chúng đều cần bị đẩy để vượt lên ù lì, vượt lên lực hút của trọng lực thuộc về bát cung vật lý và tâm thức đại chúng.

Con có thể nghĩ là thày hội đủ điều kiện thăng thiên dễ dàng hơn con. Con nghĩ thử đi. Thày, Saint Germain đã phải khắc phục gì để đủ điều kiện thăng thiên? Thày phải khắc phục các ngã tiềm thức mà thày có trong các thể cảm xúc, lý trí và bản sắc mà thày đã tạo ra qua nhiều kiếp. Đúng, thày có tâm lý chưa giải quyết y hệt con. Làm thế nào thày khác được như một sinh thể chưa thăng thiên? Thày đủ điều kiện thăng thiên bằng cách khắc phục tâm lý của thày.

Đúng, đây không phải là cảm tưởng các thày đưa ra trong phong trào TA LÀ và phong trào Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse). Nhiều đệ tử nghĩ: “Ấy, các chân sư thực sự chưa bao giờ có tâm lý chưa giải quyết. Nó dễ hơn cho các thày rất nhiều.” Nó không như vậy. Các thày đã luôn luôn nói gì? Điều gì một người làm được, tất cả đều làm được. À, nếu con làm được điều thày đã làm, đó là vì thày có cùng những vấn đề tâm lý mà con có và thày phải khắc phục các vấn đề tâm lý của thày. Giờ đây, vấn đề của thày có thể khác một chút các vấn đề của con vì thày có những ngã tiềm thức khác. Ý của thày là: rất khó cho con thấy các ngã tiềm thức của mình. Có thể là thấy ngã tiềm thức của người khác dễ hơn nhưng thấy chính ngã tiềm thức của mình khó hơn. Tại sao con nghĩ việc thày thấy chính ngã tiềm thức của thày không khó bằng con? Con thấy đấy, nó luôn luôn khó khăn bậc nhất để nhìn thấy cái đà trong chính mắt mình. Thấy được các ngã tiềm thức của thày khó với thày giống như nó khó với con. Làm sao có thể khác được khi con nghĩ về điều này? Đó là tại sao thày biết vì thày đã khắc phục các ngã tiềm thức của thày, con cũng có thể khắc phục các ngã của con. Điều mà một người đã làm, tất cả đều làm được. Chắc chắn như một cộng một là hai.

23.14. Các chân sư không khác chúng ta

Con thấy đấy, trở về thập niên 1930, tâm thức, tâm thức tập thể thấp hơn bây giờ rất nhiều. Các thày phải trao truyền một giáo lý thu hút tầng tâm thức lúc đó. Giống như Giê-su 2000 năm trước phải làm phép lạ để tạo sự chú ý của con người, các thày phải trao truyền giáo lý cho rằng các thày là những chân sư cao lớn kia có thể làm đủ mọi phép lạ và giúp con tự do một cách kỳ diệu.

Các thày đã làm gì kể từ thời đó? Các thày đã đặc biệt làm gì trong đợt truyền giáo này? Các thày đã hạ mình xuống từ bệ cao mà các thày đã đặt mình trên đó trong các đợt truyền giáo trước. Tại sao các thày đã làm thế? Có một số người sẽ nói: “Ồ, các chân sư thăng thiên qua ông Kim Michaels này, trông họ thật bình thường. Họ tự hạ thấp bản thân. Họ không phải là các chân sư thật.” Tại sao các thày đã làm vậy? Chính xác là để con nhận ra là những gì các thày đã làm, con cũng làm được. Đấy không phải là tự hạ thấp mình. Đấy không phải là coi rẻ mình. Đấy là các thày đưa mình xuống khỏi bệ cao mà con người đã đặt các thày trên đó, để các con nhận ra giữa các con và các thày không có khác biệt cơ bản nào.

Khi thày hiện thân trên Trái đất, thày cũng có tâm lý chưa giải quyết như con. Đâu cách nào khác với thày trên hành tinh phi tự nhiên này? Thày hội đủ điều kiện thăng thiên bằng cách nhìn vào cái đà trong chính mắt thày và khắc phục tâm lý đó, y như con cũng phải làm vậy để hội đủ điều kiện thăng thiên. Việc này khó với con như nó đã khó với thày. Trên thực tế, nó bớt khó hơn cho con vì con có giáo lý mà trước đây thày không có. Con có thể xây dựng trên động lượng mà thày và các chân sư khác đã tạo ra khi thăng thiên. Con có thể buộc mình vào Dòng sông sự Sống mà các thày đã đóng góp vào khi thăng thiên từ Trái đất.

Trên thực tế, hội đủ điều kiện thăng thiên dễ dàng hơn với con so với thày. Thày đang không tìm cách trách cứ con ở đây. Thày không đang tìm cách nói: “Ồ, con phải thăng thiên được trong năm phút.” Thày chỉ đang tìm cách cho con một cảm nhận thực tế là mục tiêu đạt điều kiện thăng thiên không phải là chuyện thiếu thực tế, khi con sẵn lòng nhận ra cách duy nhất để đủ điều kiện thăng thiên là giải quyết tâm lý. Con có thể giải quyết tâm lý và điều này dễ làm hơn bây giờ so với bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử gần đây của Trái đất.

Thày có thể tiếp tục nói vì thày đang cưỡi sóng. Thày đang trôi theo dòng sông. Thày sẽ kềm chế mình vì có yếu tố thời gian và không gian. Thày chỉ giản dị nói: Thày rất vui được tương tác với các con như thế này và được tuôn đổ phước lành mà các con không đủ chỗ để nhận. Cuối cùng là các con có thể tới điểm có đủ chỗ để nhận phước lành của thày. Do đó, con có thể tận dụng giáo lý của các thày và nó sẽ có thể giúp con vươn lên tầng kế tiếp nơi đó con trở nên tự do ở mức tự do con có thể có được khi vẫn còn trong thân vật lý trên Trái đất.

Đây là viễn kiến của thày cho mỗi người trong các con, và lẽ tất nhiên, cho nhiều người cuối cùng sẽ tìm thấy các giáo lý này và áp dụng chúng. Với lời này, thày cám ơn các con và thày sẽ niêm các con trong Ngọn lựa hân hoan của Tự do mà thày giữ cho Trái đất. Saint Germain, TA LÀ.

21 | Đạt an bình trong đời sống hàng ngày

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Nada qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Nada, và từ tầm nhìn của thày trên Tia thứ Sáu thì quả vị Ki-tô hoàn toàn xoay quanh phụng sự. Một số thày khác đã nói về việc con tới điểm con cần bắt đầu phụng sự, nhưng điều mà các thày Serapis Bey và Hilarion nói tới là một giai đoạn khi con chú tâm vào phụng sự như một cách để dụ tâm con ra khỏi việc tự ngã phụng sự chính nó. Đó là lý do vì sao con chú tâm vào một đại nghĩa nào đó vượt quá cá nhân con.

Một khi con đi quá giai đoạn này và trưởng thành hơn trong cách con nhìn việc phụng sự, thì con đến tầng phối hợp cao hơn với tâm Ki-tô, là giai đoạn phụng sự không phải là một cái gì con quyết định theo đuổi. Phụng sự là một biểu lộ con người mà con là ở tầng tâm thức của con. Khi con đi quá tầng 96 chỉ một chút và bắt đầu hòa điệu với tâm Ki-tô thì con thấy mình là một sinh thể nối kết, một biểu hiện của tâm Ki-tô. Lúc đó, con bắt đầu thấy những người khác cũng là biểu hiện của tâm Ki-tô, vì con trải nghiệm tâm Ki-tô là nguồn cội của mình, và như vậy quả thật tâm Ki-tô là nguồn cội của tất cả mọi người. Do đó, chuyện tự nhiên là con chú tâm vào việc phụng sự người khác như một biểu hiện của con người mà con là.

21.1. Phụng sự với tầm nhìn tập trung vào cái ta

Làm sao con tới được điểm con phụng sự từ tầng của Ki-tô thay vì bị pha màu bởi các ham muốn của tự ngã? Lẽ tự nhiên, tự ngã có thể lấy khái niệm phụng sự và dùng nó để tuyên dương chính nó. Con có thể thấy nhiều người ở khắp nơi trên thế giới, xuyên qua các thời đại, đã hiến dâng cuộc đời của họ để phụng sự một cách có vẻ như vị tha. Họ phụng sự một đại nghĩa nào đó, phụng sự người khác, họ tham gia vào việc từ thiện hay bất kể công việc nào khác, và do đó họ cung cấp một dịch vụ cho xã hội và cho người khác. Nếu con nhìn vào tâm lý của một số trong những người đó, thì con thấy là họ có một tham vọng thường khi vô thức, tiềm thức, chính họ không nhận diện, rằng họ sẽ được một cái gì cho chính họ qua việc phụng sự.

Tỷ dụ, nhiều tín đồ tôn giáo nghĩ rằng qua việc phụng sự họ sẽ quân bình nghiệp quả, được Thượng đế yêu thích, được Ki-tô tán thành, và do đó họ bảo đảm được cứu rỗi. Một số khác có ý niệm họ đã phạm tội nặng trong quá khứ và họ tìm cách bù đắp lại. Một số khác nghĩ rằng họ sẽ được công nhận vì việc họ làm, có thể là ở đây trên trái đất hay cũng có thể từ Thượng đế hay Giê-su hay bất cứ vị nào mà họ coi là khuôn mặt tâm linh, thần tượng tâm linh của họ.

Để đạt được tầng mà thày nói ở đây, khi phụng sự trở nên một biểu hiện tự nhiên của con người mà con là, thì con cần trải qua gì? À, đây là nơi con nhận ra khía cạnh thứ hai của Tia thứ Sáu là an bình. Con cần đạt được một trạng thái an bình nội tại nào đó, vì con sẽ thấy là khi con người phụng sự với động lực của tự ngã, thì họ không hoàn toàn an bình. Bề ngoài thì họ có vẻ hài hòa, nhưng trong nội tâm thì họ không an bình vì họ tìm cách đạt được điều gì đó. Nhiều người có vẻ đang phụng sự hoàn toàn vị tha nhưng có một mục đích nào đó khi phụng sự. Họ muốn thấy một kết quả nào đó, và lẽ tất nhiên điều này có nghĩa là họ luôn luôn có gì thiếu hụt vì họ không bao giờ thực sự thấy kết quả mà họ kỳ vọng. Điều này có nghĩa là họ bị căng thẳng, và do đó không an bình.  

21.2. Làm sao đạt được an bình nội tại

Giờ đây, lẽ tự nhiên con sẽ hỏi: “Ấy, vậy làm sao tôi đạt được an bình nội tại đó?” Như một số các con đã biết rõ (những ai đã học giáo lý các thày những năm vừa qua) một phần của câu trả lời luôn luôn là: Hãy giải quyết tâm lý, giải quyết các ngã tiềm thức đang lôi kéo con ra khỏi an bình. Các ngã tiềm thức đó là gì? À, chúng là những ngã đang tìm cách hoàn thành một công việc bất khả thi nào đó.

Các thày có giảng là tự ngã được tạo ra khi con đi vào tách biệt. Các thày có nói là tự ngã được tạo ra từ ý niệm thiếu hụt và do đó thiếu hụt nằm trong bản chất của nó. Nếu con nhìn vào tự ngã từ khía cạnh năng lượng thì con thấy tự ngã là gì ở tầng thuần năng lượng? Nó giống như (lẽ tất nhiên không hoàn toàn y hệt, nhưng có thể so sánh với) một lỗ đen, là một hiện tượng thiên văn hút mọi thứ vào nó mà không bao giờ được lấp đầy. Ấy, đấy chính là tự ngã. Nó luôn luôn lôi kéo con, các người khác, toàn thế giới, để tìm công nhận, xác chứng. Tự ngã thực sự tìm gì? Nó tìm sự bất tử. Nó tìm cách trở nên một sinh thể bất tử để nó không phải chết.

Giờ đây, các thày đôi khi có nói đến các vị thày thuộc trường phái bất nhị tuyên bố hay giảng giải là mục đích tối hậu của phát triển tâm linh là cái chết của ý niệm cái ta. Họ chủ yếu nói là cái không khác biệt, mà họ gọi là Brahman hay nhận biết vô biên, biểu hiện chính nó qua con, qua ý niệm cái ta của con, nhưng mục đích là cái ta đó rốt cuộc chết đi và không còn nữa. À, họ đúng được phân nửa, nhưng cái phải chết là tự ngã, không phải là cái ta cá biệt.

21.3. Tự ngã có phải là một cái ta cá biệt chăng?

Như các thày đã giảng nhiều lần, con được tạo ra như một cái ta cá biệt, đó là Hiện diện TA LÀ của con, với một cá thể độc nhất. Mục đích cuộc sống của con là con thăng vượt ý niệm cái ta, tăng trưởng sự tự nhận biết cho tới khi con đạt Tâm thức đấng Sáng tạo. Hiện diện TA LÀ không được tạo ra để rồi chết đi, nó không bao giờ chết, nhưng tự ngã thì được sinh ra từ tách biệt. Nó không do Thượng đế tạo ra, không do các chân sư thăng thiên tạo ra, do đó nó không phải là một nối dài của Bản thể đấng Sáng tạo.

Con đã tạo ra tự ngã, một cách không ý thức, nhưng con đã tạo ra tự ngã khi con đi vào tách biệt. Con có thể nói: “Khác biệt là gì giữa cái ta cá biệt và tự ngã hay cái ta tách biệt?” À, con có thể nói, từ một góc nhìn nào đó, là cái ta cá biệt mà con có ở bất cứ lúc nào là một cấu trúc cho con một trải nghiệm. Do đó, con có thể nói Hiện diện TA LÀ là một cái ta luôn luôn phát triển, nhưng ở bất cứ lúc nào nó có một ý niệm cái ta cho nó một trải nghiệm. Cái Ta Biết đã tạo ra một ý niệm bản ngã nào đó để hiện thân trên trái đất và nó cũng đã tạo ra tự ngã như một cái ta tách biệt, và điều này cho nó một trải nghiệm.

Trên căn bản, tự ngã được tạo ra để cho con một trải nghiệm, đó là trải nghiệm là một sinh thể tách biệt. À, trông có vẻ như tự ngã cũng giống một cái ta cá biệt. Con tạo ra tự ngã, và một khi nó được tạo ra thì nó có một nhận thức thô sơ, một bản năng sinh tồn, một ý niệm nó hiện hữu. Tại sao tự ngã lại không thể trở nên bất tử? Con có thể nói chăng là khi con tạo ra tự ngã thì nó là một nối dài của chính con? Bởi vì con là một nối dài của Hiện diện TA LÀ và Hiện diện TA LÀ là nối dài của sinh thể lớn nhất, vậy thì tại sao tự ngã lại không thể trở nên bất tử?

Con thấy chăng, con trong cương vị cái Ta Biết có khả năng tạo một ngã tách biệt và phú cho nó đôi phần nhận thức, nhưng không phải là tự nhận biết. Con đã được phú cho tự nhận biết như một quà tặng từ đấng Sáng tạo, con là một nối dài của Sinh thể đấng Sáng tạo, nhưng con không được trao khả năng và thẩm quyền để nối dài thêm nữa. Con có thể nâng ý niệm cái ta của con lên, nhưng con không thể tạo một cái ngã tách biệt và phú cho nó sự sống, cho nó tự nhận biết. Tại sao vậy? Bởi vì cái cho sự sống, sự tự nhận biết, là tâm Ki-tô và đó là Tâm Một. Con không thể tạo một ngã tách biệt từ tâm Ki-tô. Con chỉ có thể tạo một ngã tách biệt bên ngoài tâm Ki-tô.

21.4. Tâm Ki-tô và ngã tách biệt

Điều này lại có vẻ như là một mâu thuẫn khác. Nhưng phải chăng các thày có nói: “Không có nó thì không có gì được tạo ra?” Mọi hình tướng đều được tạo ra từ tâm thức Ki-tô. Đúng là tự ngã cũng được tạo ra từ tâm thức Ki-tô, nhưng nó không được tạo ra với tâm thức Ki-tô, nó không có tự nhận biết.

Tự ngã có bản năng sinh tồn. Nó muốn tăng trưởng và trở nên dũng mãnh hơn, vì nó có cảm nhận nó muốn kéo dài sự sống của nó. Nếu ta trở về câu hỏi của thày: “Đâu là khác biệt giữa cái ta cá biệt và tự ngã, và tại sao tự ngã không thể trở nên bất tử?” Có phải chăng là cái ta cá biệt, Hiện diện TA LÀ, cái Ta Biết, được tạo ra để cho con một trải nghiệm? Có phải chăng tự ngã cũng được tạo ra để cho con một trải nghiệm? Quả đúng là tự ngã được tạo ra để cho cái Ta Biết trải nghiệm sống trong trạng thái tách biệt. Như các thày có nói, cái được tạo ra trong tách biệt không thể đi vào hợp nhất, không thể được tạo ra từ hợp nhất, và do đó tự ngã không thể trở nên bất tử.

Mục đích của việc cho phép cái Ta Biết trải nghiệm tách biệt là để cho con có thể trải nghiệm những khía cạnh khác nhau của tách biệt mà con cần trải nghiệm để con tới điểm nhận ra, không qua một quyết định vỏ ngoài mà qua một nhận biết nội tại: “Tôi đã chán ngán trải nghiệm tách biệt.” Khi đó con có thể tình nguyện buông bỏ mọi ý muốn trải nghiệm tách biệt một cách hoàn toàn ý thức hành động của mình. Đó là lúc con thăng thiên và trở nên một sinh thể bất tử.

Con thấy chăng, cái ta cá biệt được tạo ra để cho con trải nghiệm tăng trưởng lên các tầng hợp nhất càng ngày càng cao hơn với đấng Sáng tạo. Tự ngã được tạo ra để cho con trải nghiệm tách biệt để con có thể trải nghiệm tất cả những gì có thể làm với quyền tự quyết, và qua đó, con tới điểm tình nguyện quyết định một cách có ý thức: “Tôi đã trải nghiệm tách biệt đủ rồi. Bây giờ thì tôi muốn chú tâm vào việc trải nghiệm các tầng hợp nhất càng ngày càng cao hơn.” Con tự nguyện lấy quyết định này, và do đó, như một chân sư thăng thiên, con đã thường trực bỏ lại đằng sau mọi mong muốn thử nghiệm tách biệt.”

Tự ngã chỉ được tạo ra để cho con một trải nghiệm tạm thời, và đó là lý do vì sao nó không thể trở nên bất tử. Như thày có nói, tự ngã có bản năng sinh tồn, và do đó nó tìm cách trở nên bất tử, nó tìm cách bù đắp sự mất nối kết với cái ta cao bằng cách làm cái gì, đạt điều  gì, sở hữu cái gì, kiểm soát cái gì trong thế gian. Bởi vì nó nghĩ có cái gì đó trong bầu cõi chưa thăng thiên là chìa khóa để đạt bất tử – một loại Suối nguồn Tươi trẻ.

21.5. Cuộc tìm cầu bất tử bất khả thi của tự ngã

Con thấy đây là một sự thật sâu thẳm. Con không thể giải thích điều thày mới giảng cho tự ngã. Ta có thể nói là tự ngã nghĩ nó có thể trở nên bất tử, nhưng nó nghĩ điều này dựa trên một viễn quan hạn hẹp. Nó không thể nắm bắt là chỉ có thể có bất tử khi là một với Ki-tô, vì tự ngã không thể thấu hiểu thế nào là một với Ki-tô. Nó được tạo ra từ tách biệt. Làm sao nó hiểu được hợp nhất?

Con không thể khiến tự ngã thấy những điều thày vừa giảng. Tự ngã sẽ mãi mãi (hay đúng hơn khi con còn cho phép nó tồn tại) theo đuổi cuộc tìm cầu bất khả thi tìm bất tử qua những thứ của bầu cõi chưa thăng thiên này, là nơi mà không có gì có thể bất tử. Vì sao không có gì có thể bất tử? À, vì không có vật gì có thể đứng yên. Đúng là có cái bất tử qua Tâm thức Ki-tô, nhưng Tâm thức Ki-tô là gì? Nó là thăng vượt liên tục, không ngừng. Chỉ trong sự thăng vượt mới có bất tử, trừ phi con đi vào cái Tất cả là nơi phương trình khác đi. Trong một thế giới hình tướng đang biến chuyển, chỉ có bất tử trong tự thăng vượt.

Không vật gì có thể thăng vượt chính nó trong một bầu cõi chưa thăng thiên, và tự ngã không tìm cách thăng vượt chính nó. Nó tìm cách khiến ý niệm cái ta của nó thường hằng, bất tử bằng cách dừng nó lại một khi nó đạt tới trạng thái mà tự ngã coi là tối hậu. Sa nhân nghĩ họ có thể nâng ngã tách biệt của họ lên trạng thái tối hậu đó, mà họ luôn luôn cho rằng sắp sửa đạt tới, nhưng tình trạng vẫn như vậy từ khi họ sa ngã trong bầu cõi thứ tư, thứ năm, hay thứ sáu. Họ nghĩ rằng khi họ đạt tới trạng thái tối hậu đó thì Thượng đế sẽ phải ban cho họ sự bất tử. Con không thể giảng điều này cho một sa nhân, khi họ còn trong tâm thức sa ngã.

Một sa nhân, vì họ có một cái Ta Biết, có tiềm năng xoay chuyển và trở về cái một, nhưng tự ngã thì không có tiềm năng đó. Tự ngã của một sa nhân, bất kể nó có vẻ hùng mạnh và tinh xảo như thế nào, cũng không thể trở nên bất tử. Tự ngã không thể thấy là cuộc tìm cầu của nó bất khả thi, nhưng con, cái Ta Biết, có thể tới điểm thấy điều đó. Khi con tới điểm thấy điều đó, không những thấy mà còn trải nghiệm thực tại của nó bằng cách trải nghiệm sự sống của tâm Ki-tô, thì con trong cương vị cái Ta Biết, có thể buông bỏ cuộc tìm cầu bất khả thi đi tìm trạng thái tối hậu trong thế gian đó. Khi con buông bỏ cuộc tìm cầu bất khả thi đó thì con đạt được an bình nội tâm.

21.6. Phụng sự ở tầng mức Ki-tô

Con có thể còn một số ngã mà con cần tảy rửa trong một khoảng thời gian nữa, nhưng con có thể đạt an bình nội tâm khá mau chóng. Khi con đạt được trạng thái an bình nội tâm thì con không còn tìm cách bù đắp bất cứ gì đã bị sai. Con không tìm cách đạt bất cứ mục đích tối hậu nào trong thế gian này. Điều này có nghĩa là con không có động lực vị kỷ nào khi phụng sự, và lẽ tất nhiên điều này có nghĩa là con có thể phụng sự với tâm an bình. Bởi vì con không phụng sự vì một quyết định nào đó, một lý tưởng nào đó. Phụng sự không phải là một cái gì con có thể theo đuổi như một việc mà con phải làm trong thế gian này, hay con phải làm để đạt một mục đích nào đó. Phụng sự chỉ là sự biểu lộ con người mà con là ở tầng tâm thức hiện tại.

Có một khác biệt căn bản giữa việc nhìn phụng sự qua phin lọc của tâm vỏ ngoài và quyết định, vì lý do nào đó, là con phải phụng sự (và sau đó tham gia vào một sinh hoạt thỏa mãn định nghĩa phụng sự của con) và việc nhìn phụng sự qua sự sáng suốt, trung hòa của tâm Ki-tô. Khi con phụng sự qua tự ngã, thì lúc nào cũng có sự phán xét. Đâu là hình thức phụng sự đúng? Đâu là hình thức phụng sự cao nhất? Người khác phải phản ứng ra sao trước công việc phụng sự của con? Con có thể loại bỏ những người không đáp ứng đúng chăng? Con luôn luôn phán xét người khác và chính mình.

Khi con buông bỏ tất cả các chuyện đó và phụng sự qua tâm Ki-tô, thì con không có mục đích là người khác phải đáp ứng như thế nào. Quả thực là con có thể nói con tới điểm không có mục đích cho việc phụng sự của mình. Con chỉ phụng sự vì phụng sự là một hình thức biểu lộ chính mình, và con cảm thấy vui và mãn nguyện khi con phụng sự. Con không phụng sự với ý niệm có một mục đích cần đạt tới, và con sẽ không cảm thấy mãn nguyện khi con chưa bước lên bục trao huy chương trong sân vận động Thế vận hội, và con được choàng huy chương vàng lên cổ. Con mãn nguyện khi thấy việc phụng sự của mình trải bày, và điều này không dính liền với bất cứ kết quả bên ngoài nào. Chính việc phụng sự là phần thưởng của chính nó. Lẽ tất nhiên, lúc đó con có an bình nội tâm vì không có gì thiếu thốn, không có gì thâm hụt và không có mục đích nào cả.

21.7. Không tìm phần thưởng khi phụng sự

Trong một đợt truyền giáo trước, El Morya, như thày tự gọi mình vào lúc đó, đưa ra câu châm ngôn: “Phần thưởng của phụng sự là phụng sự thêm nữa.” Thày không thể tránh dùng chữ ‘hơn nữa’ phải không các con? Điều hơn nữa là câu châm ngôn này có giá trị. Cách diễn giải vào thời đó, đặc biệt bởi các người làm việc như nhân viên của tổ chức và có tham vọng công việc phụng sự của họ được công nhận, là con càng phụng sự thì tổ chức sẽ càng đòi hỏi con phụng sự hơn nữa. Nếu con sẵn lòng làm việc 8 tiếng một ngày, thì tổ chức sẽ có thể đòi hỏi con làm việc 9 tiếng. Nếu con sẵn lòng làm việc 9 tiếng, thì tổ chức sẽ có thể đòi hỏi con làm việc 10 tiếng, tổ chức có thể đòi hỏi con làm việc 25 tiếng mỗi ngày. Đây quả thật là phụng sự nhiều hơn. Họ coi phung sự quan trọng ở số lượng. Ý nghĩa thực sự của câu phần thưởng của phụng sự là phụng sự hơn nữa, là con đạt tới một trình độ phụng sự cao hơn về phẩm chất, như thày vừa trình bày. Lúc đó con không tìm cầu một phần thưởng cho việc phụng sự của mình.

Con cũng có thể nói một ý nghĩa khác của câu châm ngôn nói trên là, trong đợt truyền giáo trước đó, các thày nhiều khi đã phóng đại một số chuyện để ép các đệ tử tới chỗ không còn làm nổi nữa, và do đó, họ phải bước lui lại và nhìn vào chính họ và cách họ tiếp cận con đường tâm linh. Có những người không sẵn sàng xem xét hình thức cao của phụng sự có nghĩa gì. Họ cưỡng ép họ phụng sự càng ngày càng nhiều hơn ở cùng tầng cấp cho tới khi họ không chịu nổi nữa. Lúc đó là một cơ hội để họ bước lui lại.  

21.8. Sống đời sống hàng ngày với tâm bình an

Ý nghĩa cao hơn của câu châm ngôn quả thực là phụng sự với tâm Ki-tô là phụng sự nhiều hơn so với phụng sự bằng tự ngã. Điều này có nghĩa gì trong đời sống hàng ngày của con? À, khi con tới điểm mà thày đã nói là con không có mục đích, không có tham vọng, không có thâm thụt thì con có thể sống cuộc sống thường ngày với tâm an bình. Con thực sự không còn xung đột nữa. Con không còn kẻ thù. Con không cần ép buộc người khác hay con không cho phép họ ép buộc con.

Đúng là khi con đạt trình độ đó thì con sẽ trải nghiệm có một số người sẽ không chịu được khi con có mặt gần họ. Họ đã quá quen giao tiếp với tất cả các người khác qua cách vận hành của tự ngã, khi họ nắm được gì trong con mà họ có thể dùng để kiểm soát con, và quan hệ của họ với con dựa trên ý muốn kiểm soát con. Họ muốn nhấn các nút của con, họ muốn đẩy con đi theo một hướng nào đó, nhưng khi con đạt trình độ an bình nói trên, thì con không còn nút nào nữa để người khác nhấn. Họ không thể ép buộc con. Họ không thể khuynh loát con. Họ không thể lừa dối con.

Một số người sẽ nói, à họ sẽ không nói ra một cách có ý thức nhưng họ sẽ quyết định trong tiềm thức là họ không muốn ở gần con nữa. Họ sẽ làm gì? À, họ cần một cái cớ tại sao họ không muốn ở gần con. Họ cần phải đổ lỗi cho con một cách nào đó. Con là người đã thay đổi. Con là người không còn thương yêu họ nữa. Con không quan tâm đến họ. Con lạnh nhạt và xa cách, hay bất cứ cớ nào trong vô số các cớ mà tự ngã có thể nghĩ ra. Khi con đạt được trình độ an bình mà thày nói thì điều này không làm phiền con vì con không mong muốn họ phải cư xử một cách nào đó. Nếu họ muốn bỏ con đi, thì con để họ bỏ con đi: “Chuyện này có là gì với con đâu, con hãy theo ta,” như Ki-tô sẽ nói với con.

Lẽ tất nhiên, khi các người này cảm thấy trong con có thay đổi, thì họ có cơ hội tự hỏi: “Vì sao người này đã thay đổi? Làm sao chuyện này xảy ra? Tôi có thể cũng thay đổi chăng để được an bình hơn?” Một số sẽ thay đổi, và lẽ tất nhiên một số khác sẽ chối bỏ nhu cầu nhìn vào chính họ, và do đó đi vào phản ứng mà tự ngã muôn đời ưa thích, đó là phóng chiếu lỗi vào con, phóng chiếu lỗi ra bên ngoài họ: “À, cái dằm trong mắt người kia là nguyên do của tất cả mọi vấn đề trên thế giới. Và nếu tôi có thể ép người kia lấy cái dằm đó ra khỏi mắt, thì chúng ta sẽ giải quyết mọi vấn đề trên thế giới mà không cần nhìn vào chính tôi.”

21.9. Phán xử Ki-tô là một phụng sự

Con sẽ an bình khi họ phản ứng như vậy. Khi họ tố cáo con, con sẽ không cảm thấy mình có lỗi, con sẽ không cảm thấy cần tự biện hộ. Đây là điều Giê-su đã chứng minh trong cái gọi là phiên toàn phán xử thày. Giê-su có tự biện hộ chăng? Thày có tìm cách lập luận là thày vô tội? Không, thày để họ làm điều họ muốn làm, và việc đó sẽ trở thành sự phán xử của họ: phán xử của Ki-tô. Với một số người, hình thức phụng sự cao nhất mà con có thể cống hiến, cho họ cũng như cho thế giới, là con là dụng cụ cho sự phán xử của Ki-tô. Phán xử của Ki-tô có thể, trong một số trường hợp, bứng những người đó ra khỏi trái đất để trái đất có thể vươn lên cao hơn.

Lẽ tất nhiên, đây cũng là điều mà Giê-su đã chứng minh. Không có nghĩa là con cũng cần bị đóng đinh trên thập tự và bị giết, nhưng có nghĩa là bất kể chuyện gì xảy ra thì con cũng an bình với việc đó. Nó chỉ là biểu hiện tự nhiên của con người con là ở tầng nhận biết đó. Nếu con chưa hoàn toàn đạt được tâm thái đó, thì con có thể nhìn mọi hoàn cảnh như một cơ hội để tự hỏi: “Tôi có an bình với hoàn cảnh này chăng?” Nếu con không an bình, thì, ấy, con biết là có một ngã tiềm thức đang ẩn náu, và con có thể mang nó ra ánh sáng, nhìn vào nó và quyết định: “Tôi yêu ngã này hơn Ki-tô, hay tôi yêu Ki-tô hơn ngã này?” Nếu câu trả lời là con yêu Ki-tô, thì giải đáp là: giản dị để cho ngã chết đi. Con không cần cải sửa gì cả. Con không cần bù đắp gì cả. Con chỉ để ngã chết đi. Con không cần chứng minh gì cả. Con không cần hiểu gì cả. Con không cần nắm bắt gì cả. Con không cần thuyết phục người khác. Con không cần biện minh với người khác. Con chỉ giản dị để ngã chết đi.

Con yêu dấu, giáo lý này thật là thần diệu. Nhiều người trong các con có thể không hoàn toàn nắm bắt nó, nhưng nếu so với những giáo lý đã được cống hiến qua các thời đại bởi các phong trào tâm linh, và các phương pháp đã được cống hiến từ nhiều năm qua bởi ngành tâm lý học, thì giáo lý giản dị để cho ngã chết đi thật là thần diệu. Một khi con nắm bắt nó, một khi con đã trải nghiệm là con đã thật sự để cho một ngã chết đi, vì con đã từ chối tham gia vào lối hành xử mà ngã muốn kéo con vào, thì con sẽ thấy nó thần điệu. Tỷ dụ, con sẽ từ chối biện hộ cho mình khi con bị lên án. Do đó, ngã sẽ không có quyền lực trên con vì nó chỉ có thể lôi kéo con bằng lập trình đã tạo ra nó. Một khi con từ chối phản ứng như vậy thì ngã sẽ chết đi và con được tự do. Khi con trải nghiệm điều này và trải nghiệm lần này sang lần khác, thì con nhận ra là con quả thực đã tìm ra chìa khóa để được tự do. Điều này thật thần diệu, thần kỳ, làm kinh ngạc, tuyệt vời, tuyệt diệu, ngoài sức tửng tượng, vượt xa hơn bất cứ gì, vượt quá ‘vượt quá’.

Các thày rất hy vọng các con có thể trụ vào phương pháp đó và áp dụng nó. Tỷ dụ, con sẽ thấý trong phong trào của các con ở đây tại Hàn Quốc hay ở các nơi khác, là khi con trụ vào phương pháp đó và áp dụng nó, thì phong trào của các con sẽ bắt đầu phát triển. Các con sẽ thu hút những người khác thấy được sự an bình trong các con và nói: “Tôi tự hỏi làm sao họ được như vậy. Tôi cũng muốn được như thế. Tôi có thể làm điều họ đã làm chăng?” Lúc đó con có thể nói: “À, đây là một số giáo lý mà chúng tôi đã áp dụng. Có thể chúng cũng giúp bạn được.” Lẽ tất nhiên, chuyện này cũng xảy ra khắp các nơi khác trên thế giới. Nhưng, khi con đã đạt được trình độ an bình này, thì việc một tổ chức vỏ ngoài phát triển có còn là mục đích của con chăng?  Con có mục đích có một số người nào đó xem các videos của con trên Youtube chăng? Hay con chỉ phụng sự với tâm an bình như một biểu lộ của con người mà con là?

Con thấy chăng, có rất nhiều người trên thế giới sẽ nói: “Nếu con không có một mục tiêu, nếu con không có một mục đích, thì làm sao con có thể hoàn thành bất cứ gì?” Đúng, nhưng nếu con không muốn hoàn thành bất cứ điều gì, thì tại sao con lại cần một mục đích? Mục đích của con không phải là hoàn thành bất cứ gì trong thế gian này. Mục đích của con là biểu lộ chính mình trong thế gian. Vì việc biểu lộ chính mình sẽ giúp con thăng vượt ý niệm cái ta của con cho tới khi con thăng vượt cái ta đã đem con xuống Trái đất, đã khiến con tiếp tục tương tác với trái đất trong suốt một thời gian dài. Một khi con thăng vượt nó thì con thăng thiên. Và sau đó con sẽ tiếp tục tự thăng vượt mãi mãi.

Thày cũng cảm ơn các con đã cho thày cơ hội biểu lộ chính mình qua hội nghị này. Do đó thày cảm ơn các con và thày niêm các con trong Ngọn lửa An bình, phụng sự trong an bình, mà THÀY LÀ. TA LÀ Nada.

19 | Tâm Ki-tô tạo bình đẳng tuyệt vời

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Hilarion qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Hilarion và nhiều người khi nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô và khái niệm quả vị Ki-tô đem lại phân biện thì họ nghĩ: “À, khi tôi có quả vị Ki-tô, tôi sẽ biết sự thật tối hậu và do đó, tôi có thể đi các nơi trên Trái đất và cho mọi người sự thật tối hậu.” Tự ngã thì thầm thêm: “Đúng vậy và khi chúng ta có sự thật tối hậu, chúng ta có thể ép người khác phục tùng chúng ta vì họ phải quy phục sự thật tối hậu này.”

Thày chỉ xin con nhìn lại lịch sử và thấy xem đã có bao nhiêu lần có những nhóm người, tổ chức, quốc gia, ý thức hệ đã tuyên bố họ nắm sự thật tối hậu và họ tìm cách ép tất cả mọi người khác phục tùng họ. Những người kia không chịu bị ép buộc phải phục tùng nên họ tấn công ngược lại và bỗng nhiên con có một bãi chiến trường. Con nhìn xem có bao nhiêu bãi chiến trường như thế được gây ra trong lịch sử và bao nhiêu được gây ra bởi một nhóm người tin rằng họ nắm sự thật tối hậu.

19.1. Tìm sự thật một cách khác

Con có thực sự nghĩ các thày là chân sư thăng thiên muốn đệ tử tiếp tục cuộc chiến cố chứng minh ai có sự thật tối hậu, hay có thể là các thày muốn các con tìm cách nào khác? Cách khác này là gì? Ấy, nó không thực sự là một phương cách khác, nó là hòa điệu với tâm Ki-tô. Con thấy đấy, những người tin tâm Ki-tô sẽ cho mình sự thật tối hậu, đấy là tự ngã đã phóng chiếu động lực của tự ngã lên tâm Ki-tô, lên khái niệm quả vị Ki-tô và khái niệm phân biện.

Các thày đã bao nhiêu lần tìm cách giải thích cho con điều gì về tâm thức nhị nguyên? Lúc nào cũng có hai cực nhị nguyên, chúng liên quan tới nhau, chúng dựa trên tách biệt. Không có cực nhị nguyên nào đại diện cho sự thật tối hậu, chẳng có cực nào nắm sự thật. Chủ nghĩa tư bản có là sự thật tối hậu chăng? Chủ nghĩa cộng sản có là sự thật tối hậu chăng? Không đâu, không bao giờ có sự thật tối hậu trong nhị nguyên, quả thực là không có sự thật nào trong nhị nguyên nhưng con chỉ có thể trải nghiệm điều này khi con kết nối với tâm Ki-tô. À, đúng, con có thể hiểu bằng trí năng nhưng sau đó con sẽ có khuynh hướng lấy hiểu biết trí năng và phóng chiếu nó lên khái niệm quả vị Ki-tô, và con nghĩ: “Đúng, có thể là nhị nguyên không thể cho tôi sự thật tối hậu nhưng chắc chắn quả vị Ki-tô, tâm thức Ki-tô có thể cho tôi sự thật tối hậu.” Chẳng phải là Giê-su đã nói: “Ta là con đường, sự thật và sự sống?”

19.2. Sự thật luôn luôn nằm trong một bối cảnh

Quả vị Ki-tô, tâm thức Ki-tô có phải là sự thật hay không? À, con yêu dấu, điều này tùy thuộc con hiểu sự thật là gì. Các thày đã mô tả điều gì rất nhiều lần, điều mà các thày không thể trao truyền trong các đợt truyền giáo trước và hầu như không có giáo lý tâm linh nào trên Trái đất nói tới? Các thày đã mô tả là con có tiềm năng bắt đầu với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm và mở rộng ý niệm bản ngã của con cho tới khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo. Vậy thì sự thật tối hậu là gì? À, con chỉ có thể trả lời câu hỏi này trong một bối cảnh vậy chúng ta hãy dùng khái niệm thế giới hình tướng này mà đấng Sáng tạo đã tạo ra.

Sự thật tối hậu trong thế giới hình tướng của chúng ta là gì? Đó là con hiểu đấng Sáng tạo, con nắm bắt, con trải nghiệm viễn kiến của đấng Sáng tạo, các quyết định của đấng Sáng tạo, những nguyên lý mà đấng Sáng tạo đã chọn để làm nền tảng cho công trình sáng tạo của ngài. Đó là sự thật tối hậu trong thế giới hình tướng của chúng ta. Lẽ tất nhiên, có vô số công trình sáng tạo khác dựa trên những nguyên lý và những quyết định hơi khác của các đấng Sáng tạo khác và cũng có cái Tất cả là một cấp độ hoàn toàn khác. Vậy thì có một sự thật tối hậu, tối hậu không? Thày không biết có một sự thật tối hậu với tầng tâm thức chân sư thăng thiên của thày. Do đó, có thể điều thận trọng là con nhận ra rằng con như một sinh thể chưa thăng thiên không thể thấu hiểu một sự thật tối hậu. Do đó, khái niệm sự thật tối hậu không có ý nghĩa trong một bầu cõi chưa thăng thiên và đặc biệt trên một hành tinh phi tự nhiên.

Nhưng Giê-su đã nói: “Ta là sự thật” hay đúng hơn tâm Ki-tô đã nói qua Giê-su: “Ta, tâm thức Ki-tô, là sự thật.” Đúng, nó là sự thật theo nghĩa nó là thuốc giải độc cho nhị nguyên bởi vì nó là con đường đưa ra khỏi nhị nguyên. Điều mà con người có khuynh hướng nghĩ, đặc biệt với tâm đường thẳng, là nếu Ki-tô là sự thật thì Ki-tô phải có khả năng trả lời được, giải thích được, định nghĩa được bất cứ câu hỏi nào, xung đột nào, vấn đề nào và giải quyết chúng bằng cách nói: “Đây là sự thật trong sự việc này.”

19.3. Không có sự thật tối hậu trong ngôn từ

Con thấy đấy, như các thày đã giải thích, tâm đường thẳng có thể đặt câu hỏi mà không có câu trả lời đường thẳng. Tâm nhị nguyên có thể đưa ra câu hỏi, vấn đề, mâu thuẫn không thể giải quyết được bằng ngôn từ. Con thấy đấy, tâm nhị nguyên luôn luôn sử dụng ngôn từ một cách vi tế. Con chỉ cần xem câu truyện Adam và Eve bị sa ngã. Họ được dạy là nếu họ ăn trái cấm, chắc chắn họ sẽ chết. Rắn bẻ quẹo chữ “chắc chắn” và như thế là đủ để tâm họ bị bối rối. Điều này chỉ cho con thấy điều gì? Không có sự thật trong nhị nguyên cho nên một khi chúng ta dùng ngôn từ, diễn đạt bằng ngôn từ, thì tâm Ki-tô không có một sự thật có thể biểu đạt bằng ngôn từ có thể chống phá được một “sự thật” nhị nguyên. Một khi điều gì được diễn đạt bằng ngôn từ thì nó chỉ là ngôn từ và ngôn từ có thể được diễn giải nhiều cách.

Con chỉ cần nhìn thấy có biết bao nhiêu giáo phái Cơ đốc đã diễn giải khác nhau cùng một thánh kinh. Con chỉ cần nhìn thấy có biết bao nhiêu tông phái Phật giáo diễn giải khác nhau cùng một kinh điển. Một khi một điều nào đó được diễn đạt bằng ngôn từ thì nó không còn là sự thật nữa và do đó câu nói “Ta là sự thật” không thể hiểu theo nghĩa đen. Ta không thể hiểu câu này theo nghĩa tâm Ki-tô có thể dùng một diễn đạt bằng ngôn từ để đưa ra sự thật. Con cần vượt quá ngôn từ. Con cần vượt quá tâm vỏ ngoài. Con cần trải nghiệm tâm Ki-tô. Khi ấy con sẽ trải nghiệm sự thật vượt quá nhị nguyên. Nó không là sự thật tối hậu, như thày nói, bởi vì sự thật tối hậu trong thế giới hình tướng của chúng ta là tâm thức đấng Sáng tạo. Sự thật đó vượt lên trên nhị nguyên vì nó là sự thật kết hợp con với đấng Sáng tạo và hợp nhất tất cả mọi người theo chiều ngang.

Tự ngã, tâm nhị nguyên, tâm rắn, tâm sa ngã làm gì? Nó chia rẽ con người theo chiều ngang và chỉ khi nào con với lên tâm Ki-tô và người láng giềng của con cũng với lên tâm Ki-tô, thì hai con mới có thể hợp nhất chiều ngang qua sự hợp nhất chiều dọc của mỗi con với tâm Ki-tô. Không thể đạt hợp nhất chiều ngang. Chỉ có sự rập khuôn chiều ngang do kiểm soát, vũ lực, quyền lực, sợ hãi, lừa dối.

Con thấy là suốt dòng lịch sử sa nhân đã tìm cách khiến tất cả mọi người chấp nhận cùng một hệ thống tin tưởng vì họ nghĩ họ có thể tạo thống nhất bằng cách đó. Họ biện minh là họ có thể tạo thống nhất bằng cách khiến mọi người cùng tin giống nhau. Họ đã có bao giờ thành công không? Không. Tại sao vậy? Vì như Abraham Lincoln đã có cảm hứng nói ra: “Bạn có thể lừa một số người hoài hoài và lừa tất cả mọi người một đôi lúc nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người hoài hoài.” Con không thể khiến tất cả mọi người tin rằng một hệ thống tin tưởng chiều ngang do con người tạo ra sẽ thống nhất được mọi người và giải quyết mọi vấn đề. Tại sao không? Tại vì tâm thức nhị nguyên. Một số người sẽ theo một cực đoan nhị nguyên này, một số người khác sẽ thích cực đoan kia. Một khi con tạo ra một hệ thống tin tưởng nhị nguyên gọi là Cơ đốc giáo thì nó sẽ thu hút một đối ngược nhị nguyên gọi là Hồi giáo và sau đó con có các Thánh chiến.

19.4. Giải quyết xung đột cá nhân

Các điều trên ứng dụng ra sao vào đời sống hàng ngày? Ấy, rất nhiều lần, các thày đã thấy đệ tử chân sư thăng thiên xung đột với nhau vì hai người đều nghĩ họ có sự thật Ki-tô. Cả hai đều nghĩ họ đúng vì họ đã hòa điệu với tâm Ki-tô. Họ tin rằng qua tâm Ki-tô họ đã nhận được nội giác đấy là sự thật và đấy là điều cần xảy ra trong tổ chức tâm linh. Bằng không mọi chuyện sẽ đổ vỡ và việc các chân sư thăng thiên muốn sẽ đổ vỡ nếu người kia không đồng ý với họ. Đây không phải là tâm Ki-tô. Khi hai người xung đột với nhau và cùng tin họ có tâm Ki-tô nhưng vẫn không đồng ý với nhau, thì không người nào có tâm Ki-tô. Phải chăng điều này có nghĩa là ta không thể có hoàn cảnh một người có tâm Ki-tô và người kia không có tâm Ki-tô. Lẽ tất nhiên là không. Điều này có thể xảy ra. Khi đó, người có kết nối với tâm Ki-tô sẽ không đối xử với người kia như kẻ địch và tìm cách chứng minh người đó sai, tiêu diệt người đó hay khiến người đó phải ra đi.

Con dùng phương cách khác như các thày đã nói và con tìm cách nâng người kia lên. Nếu điều này không thể làm được, thì có khi một tổ chức tâm linh cần loại trừ một số người. Con không làm vậy từ tầng mức của tự ngã có nhu cầu xem người đó là kẻ xấu ác và làm như thể người đó thật sai lầm vì đã làm những gì người đó làm. Con nhận ra người đó có viễn quan giới hạn, con nhận ra người đó gây xáo trộn trong nhóm và lúc ấy con yêu cầu người đó rời khỏi nhóm. Con không hành động từ trạng thái tâm dựa trên sợ hãi, bởi vì tâm Ki-tô có thể sợ điều gì?

Con thấy đấy, rất nhiều lần có những người phóng chiếu sợ hãi vào một phong trào hay tổ chức tâm linh. Họ phóng chiếu là một số chuyện phải như thế này vì các chân sư thăng thiên muốn như vậy, và nếu không làm vậy thì sẽ có những hậu quả khủng khiếp. Mọi chuyện không trắng đen như vậy. Khi con thấy có xung đột và một số người phản ứng theo tư duy cuồng đại, theo lối suy nghĩ trắng đen, lối suy nghĩ dựa trên sợ hãi, thì con cần bước lui lại và nhìn vào tâm lý. Trước tiên, con nhìn vào tâm lý chính mình, nhìn vào các khuôn nếp phản ứng của chính mình. Con giải quyết các ngã khiến con phản ứng như vậy. Sau đó con nói chuyện với những người kia. Con tìm cách giúp họ nhận ra họ có những ngã mà họ chưa giải quyết và nếu họ sẵn lòng giải quyết chúng, thì các con có thể tới một mức hiểu nhau cao hơn, một mức hợp nhất cao hơn.

Con cũng có thể nhận ra là không phải chỉ có một cách duy nhất giải quyết việc ở đây trên Trái đất và do đó, đôi khi con cần thỏa hiệp và làm điều gì thực tế có thể làm được trong hoàn cảnh đó. Các thày đã nói gì về lý duyên khởi? Con có một nhóm người họp thành một tổ chức tâm linh. Đấy là những duyên phụ thuộc nhau trong đó các con đều là thành phần của một tổng thể địa phương đặc thù. Những tương tác của tất cả các con, tất cả tâm thức của các con tạo nên một kết quả nào đó. Nếu con có thể bước ra ngoài phản ứng dựa trên tự ngã đã tạo ra xung đột, thì con có thể nói: “Buổi họp của chúng ta, tổ chức của chúng ta, có mục đích tạo nên một kết quả bên ngoài nào đó không? Hay mục đích là giúp chúng ta tăng trưởng và đạt được một trình độ hợp nhất và hài hòa cao hơn? Có thể nào sự hài hòa quan trọng hơn những kết quả bên ngoài đặc thù? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tất cả chúng ta đều chú tâm đạt hài hòa và xem kết quả bên ngoài là phụ thuộc?”

Con sẽ thấy là trong một số trường hợp khi cả nhóm làm được điều này, thì có thể có một người không sẵn lòng làm như vậy, không sẵn lòng buông bỏ ý tưởng mình đúng. Nếu những người khác trong nhóm sẵn lòng chú tâm vào hài hòa, thì con có quyền khiến người kia nhận ra rằng: “Bạn không chịu bước lên một bước cao hơn và như vậy có nghĩa là bạn không đến từ tầng cấp Ki-tô. Bạn không tìm hợp nhất cao hơn. Bạn không tìm cách vượt quá sự tập trung vào cái ta của mình.” Và cuối cùng có thể tới điểm người đó không còn chỗ đứng trong nhóm vì nhóm đã nâng tâm thức lên mức cao hơn. Người đó ở mức thấp hơn và do đó, con có quyền nói: “Đã tới lúc bạn ra đi, vì chúng tôi đã gia tốc quá tầng tâm thức muốn mình đúng.”

19.5. Một cách giải quyết xung đột theo phương cách Ki-tô

Con có thể mang phương cách này vào mọi hoàn cảnh con gặp trong đời sống: trong gia đình, nơi làm việc, trong quan hệ bạn bè. Con có thể nhìn mình và thấy: Tôi có khuôn nếp phản ứng nào không? Tôi có muốn mình đúng không? Nghĩ mình nắm sự thật và khiến người khác thấy sự thật mà tôi thấy có quan trọng đến như vậy cho tôi không? Lúc ấy, con có thể nhận ra là những chuyện đó đến từ một ngã tiềm thức. Thậm chí chúng có thể bắt nguồn từ chấn thương nhập đời của con khi con cảm thấy bị sa nhân bác bỏ và miệt thị và con muốn bù đắp bằng cách nghĩ: “Ồ, nếu tôi có thể tìm ra sự thật cao nhất thì họ sẽ phải chấp nhận điều tôi nói.”

Như các thày đã nói, sa nhân sẽ không bao giờ chấp nhận điều con nói vì họ có sự thật nhị nguyên của họ mà họ tin là sự thật tối hậu. Khi một người tin y có sự thật tối hậu thì làm sao con thuyết phục y nghĩ khác được? Tại sao họ cần nghe bất kỳ ai không có sự thật mà họ nghĩ họ có, và họ nghĩ đó là sự thật tối hậu? Thày đang nói gì ở đây? Thày đang nói là trong bất cứ hoàn cảnh nào, câu hỏi của con là: “Tôi có muốn với tới một sự thật cao hơn không, một viễn kiến cao hơn không, cao hơn cái tôi đang hiện có?” Nếu con sẵn lòng với lên cái cao hơn thì con có thể tăng trưởng trong bất cứ hoàn cảnh nào và con không cần quan tâm người kia có tăng trưởng hay không. À, con có thể quan tâm nếu người đó là một người thân của con, như người trong cùng nhóm hay gia đình, tuy nhiên nếu con tiếp tục với lên sự thật cao hơn thì trong nhiều trường hợp hoàn cảnh sẽ dần dần thay đổi.

Tại sao thế? Vì khi con tương tác với người khác, ngay khi chỉ có hai người cũng tạo nên một vòng duyên khởi phụ thuộc nhau. Khi con gia tốc chính mình thì con sẽ gia tốc mối quan hệ, và có thể người kia sẽ hòa điệu với gia tốc đó và sẵn lòng thay đổi hay cũng có thể họ không chịu thay đổi. Nhưng con cũng đã tiến lên hướng khác và phản ứng của con với người kia sẽ thay đổi do đó con đã được lợi lạc.

Nếu con lấy những gì Serapis Bey có nói là con tới điểm trên con đường tâm linh bắt đầu phụng sự điều gì khác hơn chính con, thì con có thể nói: “Tôi chú tâm vào việc phụng sự một mục đích cao hơn, và mục đích này không xoay quanh một cá nhân nào. Nó không xoay quanh cá nhân tôi, nhưng nó cũng không xoay quanh các người chung quanh tôi, tỷ dụ như quan hệ cá nhân, quan hệ gia đình, tình bạn bè hay quyền lợi một nhóm. Tôi không phụng sự tự ngã của tôi, tôi cũng không phụng sự tự ngã của người khác và do đó, tôi cố gắng bỏ đi tính chất cá nhân trong các quan hệ này để tôi không tìm cách ép uổng người khác phải thay đổi để tôi thay đổi trạng thái tâm của chính tôi. Tôi sẵn lòng chú tâm vào việc thay đổi trạng thái tâm của chính mình và để những người kia tùy họ quyết định có muốn thay đổi hay không.” Nếu con làm thế thì mỗi hoàn cảnh đều trở thành một cơ hổi trăng triển.  

19.6. Tin là mình có sự thật tối hậu

Con biết hoàn cảnh chung quanh câu nói của Giê-su: “Ta là con đường, ta là sự thật và sự sống”. Đó là vì Pontius Pilate hỏi Giê-su và có thể con cũng nhớ câu hỏi của Pilate: “Sự thật là gì?”. Con có thể nói câu hỏi này đến từ một người chưa tiếp xúc với tâm Ki-tô trong họ cho nên họ bối rối và hoang mang. Con cũng có thể nói câu hỏi này cho thấy Pontius Pilate thực ra có một trình độ nhận biết cao hơn những người như các thày thông giáo và Pha-ri-si. Những người này tin họ có sự thật tối hậu và ít nhất Pontius Pilate sẵn lòng nhìn nhận là ông không cảm thấy ông có sự thật, và đấy là bước đầu về hướng thực sự tiếp xúc tâm Ki-tô. Nếu tâm con quá ư chú mục vào một biểu hiện đặc biệt của sự thật và nghĩ đó là sự thật tối hậu, thì con không mở tâm đón nhận tâm Ki-tô. Không có khe mở nào cho tâm Ki-tô gõ cửa tâm con và nói: “À, bạn có thể hiểu nhiều hơn những gì bạn đang hiểu ngay bây giờ, ta có thể chỉ cho bạn thấy một viễn kiến cao hơn không?” Hầu hết mọi người sẽ nói: “Ồ không, tôi đâu cần viễn kiến đó làm gì, tôi đã có sự thật tối hậu rồi.”

Những người sẵn lòng chịu hoang mang thì: “Hỏi thì sẽ được trả lời, gõ cửa thì cửa sẽ mở ra cho con.” Ai có tai sẽ nghe, ai có mắt sẽ thấy. Có nhiều người tâm linh, kể cả đệ tử chân sư thăng thiên nhận ra phần nào là có một trạng thái tâm thức cao hơn, dù họ gọi nó là tâm Ki-tô hay không, nhưng ở đây ta hãy chú tâm vào tâm Ki-tô. Con tới điểm nhận ra có tâm Ki-tô và khi con vẫn còn động lực dựa trên tự ngã, bị pha màu bởi tự ngã, thì con nghĩ: “ À, chắc chắn tâm Ki-tô sẽ xác chứng những tin tưởng của tôi vì chắn chắn chúng là sự thật.” Hầu hết những người tìm thấy con đường tâm linh trải qua một giai đoạn học hỏi giáo lý tâm linh, họ cũng có thể mở tâm đón nhận một số lóe sáng trực giác trực tiếp từ các thày, nhưng họ hy vọng một ngày kia giáo lý hay các chân sư sẽ xác chứng một cái nhìn đặc thù của họ về chính họ hay về cuộc đời. Nhiều người trong các con, nếu các con thành thật với chính mình, sẽ có thể nhận ra điều này.

Người sứ giả này chắc chắn đã thấy điều này nơi ông trong những năm đầu trên con đường tâm linh khi ông liên tục hy vọng nhận được sự xác chứng của cái chỉ là một ngã tách biệt của ông. Ông hy vọng các ngã tiềm thức mà ông đã tạo ra để đè nén chấn thương nhập đời được xác chứng. Ông tin tưởng một ngày kia tìm được một cách tăng trưởng tâm linh và thăng thiên mà không cần nhìn vào chấn thương nhập đời, và ông hy vọng tin tưởng nàđy được xác chứng. Rồi ông tới điểm sẵn lòng nhìn vào tin tưởng này và những tin tưởng khác khiến ông tin rằng một ngày kia sự thật Ki-tô sẽ xác chứng những tin tưởng dựa trên tự ngã của ông. Ông sẵn lòng đi vào tiến trình chất vấn những tin tưởng này cho tới khi ông buông bỏ tương đối đủ những tin tưởng này để các thày có thể bắt đầu làm việc trực tiếp với ông.

Giờ đây, như các thày đã giải thích trong đợt truyền giáo này, mà các thày vì một số lý do đã không giải thích được trong các đợt truyền giáo trước, người sứ giả này hoàn toàn không có gì đặc biệt. Ông không có điều gì mà con không có. Tất cả các con đều có khả năng tiếp xúc trực tiếp với các chân sư thăng thiên xuyên qua tâm Ki-tô vì tất cả các con đều có tâm Ki-tô trong mình, tiềm năng Ki-tô trong mình. Tất cả các con đều là cái Ta Biết được sinh tạo từ tâm Ki-tô như các thày đã giải thích mới đây. Điều này không có nghĩa là tất cả các con sẽ đều trở thành sứ giả và nhận bài truyền đọc từ các chân sư thăng thiên, vì các con đều có kế hoạch trọn đời của riêng cá nhân mình, Sứ vụ Thiêng liêng của riêng mình.

Nhưng điều đó có nghĩa là tất cả các con đều có tiềm năng tới điểm không cần phải dùng giáo lý vỏ ngoài nữa để tiếp xúc trực tiếp với các thày bên trong các con. Không phải là con nhất thiết cần bỏ qua giáo lý vỏ ngoài. Con vẫn có thể hưởng lợi lạc từ giáo lý nhưng con không cần giáo lý để tiếp xúc với các thày vì con đã thiết lập được tiếp xúc trực tiếp với các thày. Đây là điều mà các thày mong muốn cho mỗi các con, cho tất cả các con. Con có để ý điều thày vừa nói chăng? Cho mỗi các con và cho tất cả các con, con và con và con và con và mỗi con, và tất cả các con, đều có tiềm năng thiết lập tiếp xúc trực tiếp với các thày. Điều này không có nghĩa là mọi câu hỏi của con đều được trả lời. Không có nghĩa là con sẽ biết hết mọi chuyện. Không có nghĩa là con lúc nào cũng đúng. Nhưng có nghĩa là con sẽ nhận được lóe sáng trực giác từ các thày khi con mở tâm, khi con sẵn lòng nhìn vào chính mình.

19.7. Buông bỏ mong muốn mình đặc biệt

Con hãy ghi nhận điều các thày nói. Các thày sẽ không xác chứng những tin tưởng dựa trên tự ngã của con, đặc biệt là tin tưởng của tự ngã là có lý do nào đó khiến con đặc biệt. Tại sao các thày lại nói người sứ giả không có điều gì mà con không có? Vì người sứ giả không đặc biệt và con cũng không đặc biệt. Không ai trong các con đặc biệt hơn người khác. Đó là lý do tại sao tất cả các con đều có cùng tiềm năng. Các thày sẽ không xác chứng tin tưởng của tự ngã của con là vì sao đó con đặc biệt. Các thày sẽ làm việc với con để con khắc phục những ngã dựa trên tự ngã này để con có thể tiến lên cao hơn vào quả vị Ki-tô.

Ki-tô là gì? Ấy, một khía cạnh của Ki-tô là Ki-tô là tạo bình đẳng tuyệt vời. Giê-su đã nói gì? Kẻ cao trội sẽ bị hạ xuống, kẻ thấp kém sẽ được tôn lên. Người nào nghĩ mình đặc biệt sẽ bị hạ xuống. Người nào nghĩ mình không giỏi đủ sẽ được nâng lên cho tới khi tất cả thấy được là chẳng có ai đặc biệt hay tất cả đều đặc biệt. Ta có thể nói tất cả các con đều độc đáo, không theo nghĩa độc đáo của tự ngã nhưng theo nhận biết của Ki-tô là tất cả các con đều có cá thể độc đáo quy định trong Hiện diện TA LÀ của các con. Điều đáng tiếc là trong các phong trào tâm linh, con thấy khuynh hướng có một số đệ tử bị mắc lừa tự ngã nên họ nghĩ: “À, chắc chắn tôi đặc biệt. Tôi đã nhận ra giáo lý này. Tôi đã làm tất cả những gì giáo lý này quy định. Tôi đã hy sinh đủ mọi thứ. Chắc chắn tôi phải đặc biệt.” Hoặc họ dùng những cách khác nhưng các thày không tìm cách xác chứng những điều này. Tại sao không?

Ấy, có những người nghĩ quả vị Ki-tô là một con đường tuần tự, và quả đúng như vậy. Con dần dần tiến lên quả vị Ki-tô, nhưng họ nghĩ càng lên cao thì càng trở nên đặc biệt và càng thấy mình đặc biệt hơn vì họ có sự sùng tín mà thày Serapis đã nói tới. Tỷ dụ, họ sùng bái Giê-su cho nên họ nghĩ một khi họ đạt quả vị Ki-tô, họ sẽ có thể làm tất cả những điều độc đáo mà Giê-su đã làm và người khác sẽ thấy họ độc đáo.

Sự thực là khi con càng lên cao hơn trên con đường quả vị Ki-tô thì con càng trở nên khiêm tốn. Khi con hợp nhất với tâm Ki-tô trong con thì con khắc phục nhu cầu, nhu cầu của tự ngã, muốn cảm thấy mình đặc biệt và do đó, con không muốn cảm thấy mình hơn người khác. Con không muốn tôn mình lên một địa vị quan trọng hơn người khác. Serapis Bey đã nói gì? Thày nói đến chuyện xoay chuyển vào tư duy muốn phụng sự một chính nghĩa rộng lớn hơn tự ngã của mình. À, làm sao con làm điều này? Khi con phần nào đạt được hợp nhất với tâm Ki-tô thì con làm điều này bằng cách tìm cách nâng Ki-tô lên trong tất cả mọi người thay vì nâng mình cao hơn người khác. Không phải là con hạ mình xuống. Không thực sự là con trở nên khiêm tốn, tuy thày có dùng từ này vài phút trước đây. Sự thực là: Con trở nên bình đẳng và con không có nhu cầu nâng mình lên. Do đó, con chú tâm vào việc nâng Ki-tô lên trong người khác và đây là sự xoay chuyển mà con cần làm khi con tới gần tầng 96 hay đi một chút quá tầng này.

19.8. Những sáng ngộ trên tầng tâm thức 96

Giờ đây, có thể con nhận thấy là các thày, các Thượng sư, đang trao các con những giáo lý quả thực cao hơn những gì các thày cho các con trong khóa học Con đường Tự điều ngự. Khi con đi quá tầng 96 không có nghĩa là con không cần đến bảy tia nữa, nhưng có nghĩa là lúc đó con có thể nhìn bảy tia từ một tầm nhìn cao hơn và nắm bắt những khía cạnh cao hơn của mỗi tia. Một khi con vượt quá nhu cầu phụng sự tự ngã hay ngay cả phụng sự ngã tâm linh đã đưa con từ tầng 48 lên tầng 96, thì con đơn thuần là Ki-tô đang hành động. Ki-tô đang hành động tìm cách nâng tất cả mọi người lên, bất kể điều ấy có nghĩa là gì, trong mỗi hoàn cảnh cá biệt.

Để trở về khái niệm sự thật, có những người sẽ nói: “À, trong tâm Ki-tô phải có một sự thật duy nhất, không phân chia, bởi vì nếu có nhiều hơn là một sự thật thì tâm Ki-tô sẽ bị phân rẽ với chính nó. Vậy làm sao nó có thể là tâm hợp nhất được?” Phải, đây là một thí dụ lý luận lô gíc của rắn, nhưng đó chỉ là lô gíc, không phải là trải nghiệm của Ki-tô. Như thày có nói, không có biểu hiện bằng từ ngữ nào tránh được diễn giải. Sự thật Ki-tô là trải nghiệm Ki-tô trong con. Khi con có trải nghiệm này, con nhận ra là không có sự thật duy nhất nào có thể biểu hiện trên Trái đất bởi vì trong mỗi tình huống con gặp, mỗi người con gặp, Ki-tô có một cách tiếp cận riêng với người đó. Mục tiêu của Ki-tô không phải là cho người đó sự thật tối hậu mà là hòa điệu với tầng tâm thức hiện tại của người đó và cống hiến cái gì có thể nâng họ lên tầng kế tiếp.

Mục tiêu của Ki-tô là đưa con người vào con đường tâm linh và họ bước từ tầng này lên tầng kia và cứ tiếp tục tiến triển. Mục tiêu của Ki-tô không phải là phóng một người đang ở tầng 48 lên tầng 144 trong một bước nhảy vọt vĩ đại, mà là giúp họ neo trụ vào đường tu sẽ dẫn họ qua các tầng khác nhau cho tới tầng 144. Do đó, không có một sự thật duy nhất cho tất cả mọi người. Có một chén nước mát nhân danh Ki-tô cho mỗi người sẽ giúp được người đó bước lên tầng kế tiếp.

Có thể là không phải tất cả các con đều có cảm nhận này nhưng nhiều người trong các con có cảm nhận là từ ngày tìm ra con đường tâm linh, tâm thức con đã tăng trưởng nhiều tầng cao hơn. Do đó con phần nào có cảm nhận là có khác biệt vĩ đại giữa tầng 48 và tầng 144. Khi nhận ra điều này, con có thể nói: “À, ta thấy gì trong hệ thống giáo dục trên Trái đất? Ta thấy có một đại học kia với phân khoa toán học rất lừng lẫy trong đó có những giáo sư toán rất, rất điêu luyện trong việc dùng toán, phát triển những dạng toán học mới, những dạng toán học tiên tiến hơn. Bây giờ, tại sao ta không đón những giáo sư từ đại học này vào các trường mẫu giáo và dạy các em dạng toán học cao nhất đó? Tại sao ta để các học trò mẫu giáo bắt đầu với 1 cộng 1 và 2 cộng 2? Tại sao không cho các em sự thật tối hậu ngay từ đầu?”

À, lẽ tất nhiên con có thể thấy là cách này không thực sự đem lại kết quả. Làm sao các em có thể nắm bắt được loại toán đó khi các em còn chưa biết làm toán cộng, toán trừ? Cho nên, con thấy đấy, con có thể cho học trò mẫu giáo một sự thật mà các em có thể nắm bắt. Sự thật đó không sai nhưng nó không phải là cái trọn vẹn của toán học. Con có thể cho các em trung học những bài dạy cao hơn nhưng nó vẫn chưa là cái trọn vẹn của toán học. Ngay cả ở tầng đại học, nó vẫn chưa là cái trọn vẹn. Con đường tâm linh và sự biểu hiện sự thật Ki-tô cũng giống vậy. Sự thật phải được và sẽ được thích ứng, cho nên sẽ tới điểm ở gần tầng 96 khi con phải nắm bắt điều này. Con cần nhìn ra là có một ngã trong con muốn sự thật Ki-tô phải tối hậu vì nó muốn có sự thật tối hậu để dùng như vũ khí khiến người khác phải phục tùng.

19.9. Nhìn nhận những giới hạn của tâm mình

Con cần thấy ra ngã này và con cần quyết định một cách ý thức cho nó chết đi. Nếu con không làm vậy thì con sẽ không vượt quá tầng này và quả thực con có thể bắt đầu đi xuống các tầng tâm thức thấp hơn, khi con tìm cách dùng những thành đạt tâm linh của mình để quy định một sự thật tối hậu nào đó và tôn mình lên thành một đạo sự quảng bá sự thật này. Con cần tới điểm nhìn nhận là tâm con, tâm vỏ ngoài của con có giới hạn. Tâm con không thể nắm bắt sự thật tối hậu. Nó không thể tự nó hiểu đuợc sự thật tối hậu. Nó không thể quy định sự thật tối hậu. Do đó con cần một cái gì đó bên ngoài tâm con và cái đó là tâm Ki-tô, nhưng tâm Ki-tô được biểu hiện qua các chân sư thăng thiên là những vị thày được chỉ định giáo huấn Trái đất, và các thày không cho các con sự thật tối hậu.

Các thày cho con sự thật mà con cần để tiến lên cao hơn. Khi con buông bỏ tự ngã muốn đạt sự thật tối hậu vì nó muốn đạt một tầng tối hậu, thì con có thể neo mình vào các tầng cao hơn của con đường tâm linh. Con tiếp tục tăng triển, con khiêm nhường vươn lên một điều gì ở tầng thăng thiên ở mỗi bước trên đường tâm linh, thay vì bị phỉnh và nghĩ rằng con rất đặc biệt vì đã đạt tầng tâm thức này, sáng ngộ này, con đã tỉnh thức, con đã giác ngộ, con là thế này, con là thế kia. Đây là cách con tiếp tục đi trên con đường tu và thực sự là con trở nên càng ngày càng bình đẳng hơn trong cách con nhìn mình và người khác.

Điều thày vừa nói thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn vì chắc chắn là khi con ở tầng 134, con có thành đạt và nhận biết tâm linh cao hơn một người ở tầng 48. À, đúng như vậy nhưng trong tâm Ki-tô con không hơn hay có giá trị hơn người kia. Phán xét giá trị chỉ có trong tâm tự ngã. Con càng lên cao hơn trên con đường quả vị Ki-tô, thì phán xét giá trị càng phai mờ cho tới khi khái niệm đó còn không len lỏi vào tâm con nữa. Ở điểm đó, con cảm thấy một sự tự do khó có thể tưởng tượng khi con còn bị giam cầm trong những phán xét giá trị của tự ngã.

Với các lời này, thày đã cho các con phần của thày trong những gì các thày muốn cống hiến tại hội nghị này. Các thày rất cám ơn các con đã cho các thày cơ hội này. Các thày hy vọng là các con nhận ra vì chúng ta có ba ngày cho hội nghị này, nên các con sẽ nhận được nhiều bài truyền đọc trong một khoảng thời gian ngắn. Các thày hy vọng con hiểu được nhu cầu làm như vậy vì các thày có một số lượng giáo lý muốn truyền đạt. Có nghĩa là có ít giờ hơn để đọc chú và thỉnh và có thể ít giờ hơn để trả lời câu hỏi nhưng ta hãy nhìn xem thời gian và không gian có cho phép các thày cống hiến nhiều hơn chăng.

Với lời này, thày niêm phong các con trong Ngọn lửa Sự thật Ki-tô mà thày cầm giữ cho Trái đất. Hilarion, TA LÀ.

17 | Gia tốc ý định của con

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Serapis Bey qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Serapis Bey, như các con đã có thể đoán qua sự tuần tự tiếp nối của các bài giảng, tuy các thày đang nói ở đây về nhưng chuyện không theo đường thẳng. Đây là một trong những bí ẩn của con đường tâm linh. Đó là nó có một số khía cạnh đường thẳng, nhưng cũng có những khía cạnh không đường thẳng. Thách đố của tình trạng này, như các con đã thấy qua các thời đại, là có một số người đã chú tâm vào các khía cạnh đường thẳng mà quên đi các phần không đường thẳng. Trong khi một số người khác chú tâm vào các khía cạnh không đường thẳng mà quên đi các phần đường thẳng. Thách đố là tìm ra sự quân bằng giữa hai bên.

Các thày có nói trước đây là có tâm đường thẳng và có tâm khái niệm. Con dùng tâm khái niệm để đồng-sáng tạo vì tâm khái niệm cho phép con tạo một khái niệm về một cái gì chưa được thể hiện vật lý. Con có thể hình dung một hình tướng chưa thể hiện và qua đó tạo ra một cái gì mới. Trong khi đó, tâm đường thẳng dựa trên cái gì đã có mặt, đã được thể hiện. Khi con hiểu điều này thì con có thể nói: “Phải chăng con chỉ dùng tâm khái niệm để đồng-sáng tạo?”

17.1. Tâm nào được dùng để đồng-sáng tạo?

À, điều này tùy thuộc con đang ở trong giai đoạn nào. Con thấy chăng, khi con là một người đồng-sáng tạo mới tới một môi trường cũng rất mới, thì con dùng tâm khái niệm nhiều hơn. Khi con đã tăng trưởng nhận biết, khi con đã đồng-sáng tạo, trong môi trường vật lý cũng như trong bốn thể của con, một cái gì tinh vi hơn thì con bắt đầu dùng thêm tâm đường thẳng. Con thực sự tìm ra một sự quân bằng giữa tâm khái niệm và tâm đường thẳng.

Lẽ tất nhiên, để việc đồng-sáng tạo thành công trên một hành tinh đã có nhiều người, đã có một nền văn minh lâu đời (ở đây thày muốn nói tới một hành tinh tự nhiên), thì con không thể hình dung một cái gì với tâm khái niệm hoàn toàn không dính dáng gì đến những gì đã được thể hiện rồi. Con thấy là con có thể khởi sự hình dung hình tướng mới bằng tâm khái niệm vì chưa có nhiều hình tướng được thể hiện. Sau đó, khi con thể hiện càng ngày càng thêm hình tướng, thì con cần sử dụng tâm đường thẳng để con có thể thấy sự tiến triển từ những gì đã có sẵn tới cái con muốn đồng-sáng tạo, để con xây dựng trên những gì đã có sẵn và tạo ra sự liên tục.

Con thấy là tuy các thày hay nói tới tâm đường thẳng như là một vấn đề, nhưng trên một hành tinh tự nhiên trong trạng thái nguyên thủy thì tâm đường thẳng không là vấn đề. Tâm đường thẳng rõ ràng phụ thuộc so với tâm khái niệm. Có thể nói nó là người tôi tớ của tâm khái niệm. Chuyện xảy ra trên một hành tinh phi tự nhiên là khi đa số con người mất nối kết với cái ta cao của họ, thì họ không còn thể thấy họ là người đồng-sáng tạo nữa. Do đó, họ rất khó dùng tâm khái niệm để hình dung một cái gì chưa thể hiện.

17.2. Bị lạc trong tâm đường thẳng

Tâm khái niệm dùng cái gì để hình dung một hình tướng mới? Đó là tâm Ki-tô. Giờ đây, khi con có một hành tinh phi tự nhiên nơi con người đã đi vào tách biệt, thì họ có khuynh hướng tập trung vào tâm đường thẳng, nhìn những gì đã có sẵn, phân loại những gì đã có sẵn, dán nhãn những gì đã có sẵn, và áp dụng vào đó phán xét giá trị của tâm nhị nguyên. Lúc đó họ trở nên rất lệ thuộc vào những gì đã có hình tướng trong cõi vật lý. Họ có khuynh hướng nghĩ họ không thể đi xa hơn, vì hoặc Thượng đế đã tạo ra thế giới như vậy hoặc các định luật thiên nhiên đã quy định như vậy.

Họ cũng sử dụng tâm đường thẳng một cách không được dự trù khi trong trạng thái nguyên thủy, trạng thái tự nhiên. Bởi vì lúc đó họ muốn nói: “Nếu ta dùng tâm đường thẳng và nhìn vào những gì đang hiện có, thì đây phải là hậu quả của những nguyên do mà ta không thấy, và nếu ta cứ tiếp tục đi ngược trở về các nguyên do trước đó, thì ta phải tới nguyên do nguyên thủy.” Và nguyên do nguyên thủy đó có thể là Thượng đế, hay các định luật thiên nhiên, hay vụ Nổ Lớn, hay Người Bí ngô Vĩ đại, hay bất cứ gì khác mà họ hình dung. Sau đó, họ muốn lấy tâm đường thẳng và kéo dài nó về hướng đối nghịch, hướng về kết quả tối hậu.

Đây không phải là công dụng tự nhiên của tâm đường thẳng. Như thày có nói, nó chỉ là người tôi tớ của tâm khái niệm. Con nhìn vào các hình tướng đã được thể hiện, con nhìn trở ngược một khoảng thời gian để xem tại sao, tỷ dụ, xã hội lại cấu trúc như vậy, những ý tưởng đằng sau cách cấu trúc này là gì, con người đã học được bài học gì. Sau đó, con dùng các nhận xét đó để điều khiển tâm khái niệm và tạo ra một cái gì được xây đắp trên nền tảng đó. Lẽ tất nhiên, con cũng xem xét các Elohim đã tạo ra những gì trên một hành tinh đặc thù, ý tưởng của họ là gì, họ đã dùng những nguyên lý nào để hướng dẫn công trình sáng tạo của họ, và sau đó con dùng các nhận xét này để tạo thành khái niệm mới, nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của các Elohim.

17.3. Tâm sùng bái và quả vị Ki-tô

Khi con mất nối kết với tâm khái niệm, tâm trực giác, thì tư duy con người trở nên rất đường thẳng. Đó là lý do vì sao đa số con người nghĩ là họ có thể dùng suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô. Lẽ tất nhiên, điều này không làm được, như các thày đã giảng. Cũng có những người hòa điệu hơn với khía cạnh trực giác của tâm, và thường khi họ có khuynh hướng đi theo con đường mà bên Đông phương gọi là con đường sùng bái. Họ trở nên rất sùng kính, rất thương yêu, thương yêu một thần nhân, thương yêu một chân sư, và cảm thấy họ làm như vậy là đủ. Cách tu này có thể dẫn tới tiến bộ nhưng nó cũng có giới hạn, vì tương tự như không thể suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô, con cũng không thể dùng tình thương để đạt quả vị Ki-tô.

Điều cần có là một sự quân bằng trong đó ngay cả những người sùng bái cũng có một hiểu biết nào đó về những khái niệm tâm linh, mục đích cuộc sống, thậm chí tại sao vũ trụ hiện hữu – vũ trụ là một môi trường để con người học hỏi – có một con đường tâm linh, và đó là một con đường tuần tự. Vì những người đã trở nên rất sùng bái thường cảm thấy họ đã vượt quá những chuyện như thời gian, tiến triển, con đường tâm linh theo đường thẳng, nên đôi khi họ bị kẹt trong một vòng luẩn quẩn mà ta có thể gọi là vòng luẩn quẩn của thời gian, và nghĩ sùng bái là đủ. Họ không nhận ra là trong tâm lý của họ có những vấn đề chưa giải quyết đã được tạo ra từ nhiều kiếp trước, và những vấn đề tâm lý này cần được giải quyết. Việc này đòi hỏi một tiến trình có đôi chút tính cách đường thẳng, bởi vì con không thể làm việc một cách vô trật tự, con cần khởi đầu ở nơi nào đó và tìm ngược trở về quá khứ cho tới khi con tìm ra chấn thương nhập đời.

17.4. Ý định của con khi đi trên con đường tâm linh

Từ tầm nhìn của Tia thứ Tư, lẽ tất nhiên tất cả các điều thày nói ở trên đều xoay quanh ý định của con. Ý định của con là gì khi con quyết định đi trên con đường tâm linh? Con có thể nói đến ý định ở một tầng thấp khi, như các thày đã nói, con lần đầu nghe nói tới con đường dẫn tới quả vị Ki-tô và tự ngã của con thiết lập một hình ảnh về con đường này. Tự ngã làm việc này dựa trên những gì nó có thể thấy, và lẽ tất nhiên đó là thấy nó như một sinh thể tách biệt, đi trên con đường tâm linh như một sinh thể tách biệt, đạt được một kết quả tối hậu nào đó như một sinh thể tách biệt – một mức đến mà tự ngã quy định trong thế gian, theo những gì đang hiện hữu trong thế gian. Lẽ tất nhiên, vấn đề của tự ngã là nó không thể thăng vượt cái gì đang hiện hữu trong hình tướng, vì nó không thể dùng tâm khái niệm để hình dung cái gì quá hình tướng. Tự ngã không thể nào dùng tâm khái niệm để hình dung quả vị Ki-tô thực sự nghĩa là gì. Tự ngã không thể dùng tâm khái niệm để hình dung cõi tâm linh thật sự như thế nào. Nó có thể tạo hình ảnh về cõi tâm linh dựa trên những gì nó thấy trong cõi vật chất, nhưng lẽ tất nhiên, hình ảnh này không thỏa đáng.  

Lúc ban đầu con có thể có, đúng ra là con chắc chắn có, một ý định đi trên con đường tâm linh một phần dựa trên tự ngã và những gì tự ngã có thể thấy. Con sẽ tới một điểm con cần bước lui lại và xem xét lại ý định của mình: Có một hình thức ý định cao hơn khi đi trên con đường tâm linh chăng? Lẽ tất nhiên là có. Con, cái Ta Biết, có thể thấy nó nhưng tự ngã thì không. Con cần sẵn lòng nhận ra những giới hạn của tự ngã và ý định, viễn quan, cách suy nghĩ của tự ngã liên quan đến con đường tâm linh. Con sẵn lòng đi vào trạng thái tâm trung hòa của cái Ta Biết và với lên ý định cao hơn từ tâm Ki-tô, từ các chân sư thăng thiên, từ Hiện diện TA LÀ của con.

Trong lọc ý định là một việc tối quan trọng. Một lần nữa, lẽ tất nhiên mỗi thày trong nhóm Thượng sư đều chú tâm vào một hướng riêng. Các thày có khuynh hướng nghĩ tia sáng của mình là bước quan trọng nhất. Lẽ tất nhiên, tất cả các Thượng sư đều công nhận là con cần phối hợp cả bảy tia để có thể hội đủ điều kiện thăng thiên. Vai trò của thày giản dị là giúp con nhận ra là con sẽ tới một điểm khi con không thể tiến hơn nữa nếu con không sẵn lòng bước lui lại và xem xét ý định của con: “Ý định của tôi khi đi trên con đường tâm linh có bao phần bị pha màu bởi tự ngã? Tôi có sẵn lòng bước lên, gia tốc ý định của mình lên một trình độ cao hơn không dựa trên tự ngã chăng? Tôi có thực sự sẵn lòng tiếp tục làm như vậy cho tới khi tôi rời cõi đời này chăng?”

Con cần phải tiếp tục làm như vậy cho tới khi con rời cõi đời này, bởi vì con có thể nói là tỷ dụ ở tầng 65, con thấy một trình độ ý định cao hơn là ở tầng 48. Nhưng ở tầng 96, con lại thấy một trình độ cao hơn, và ở tầng 124 con lại thấy một trình độ cao hơn nữa mà con không thể nắm bắt ở các tầng thấp hơn. Con không thể nắm bắt ý định của mình một cách tối hậu, không thể có ý định tối hậu ngoại trừ luôn luôn thăng vượt chính mình và sẵn lòng bước lên một bước cao hơn và luôn luôn bước thêm bước nữa.

17.5. Những giới hạn của truyền thống đạo sư

Khi con nhìn chung chung vào những người đã tìm ra một giáo lý tâm linh nào đó thì con có thể thấy là con đương tâm linh có một số giai đoạn. Một trong những giai đoạn này là con tới điểm nhận ra là có thể có một trạng thái tâm thức cao hơn. Con nhận ra điều này khi con thấy một người khác đã đạt được một trạng thái tâm thức cao hơn trạng thái tâm thức của con. Đây là toàn bộ mục đích của khái niệm đạo sư. Đây là một đạo sư đã đạt được một trạng thái tâm thức cao hơn, và do đó vị ấy đủ tư cách để giảng huấn người khác và giúp các người này đạt tới cùng trạng thái tâm thức của mình.

Quan niệm này không phải là không có giá trị. Có một truyền thống đạo sư lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới và quan niệm này có giá trị. Các thày không tìm cách nói nó không có giá trị, nhưng điều thày muốn chỉ ra ở đây là với nhiều người nó có thể trở thành một ngõ bí sau một thời gian. Đó là vì các người đó bị rơi vào một cạm bẫy của một ảo tưởng rất vi tế mà tâm rắn đã phóng chiếu vào tâm thức tập thể trên trái đất. Ảo tưởng này cho rằng vị đạo sư của mình là đạo sư chân chính duy nhất và đã đạt được một trạng thái tâm thức tối hậu cao hơn tất cả mọi người khác. Họ tin rằng vị đạo sư đã thật sự đạt một trạng thái tâm thức mà chính họ cũng sẽ không bao giờ đạt được, dù có cố gắng cho đến đâu. Do đó, họ tùy thuộc vào vị đạo sư để tiến triển. Họ sẽ chỉ tiến bộ xuyên qua vị đạo sư bên ngoài.

Đây là điều con thấy nơi ít nhất là một phần của truyền thống đạo sư trong Ấn độ giáo. Đây cơ bản là điều con thấy nơi Thiên chúa giáo sau khi nó bị tha hóa và nâng Giê-su lên địa vị tối hậu của người con duy nhất của Thượng đế. Con thấy nơi một số khía cạnh của Phật giáo khi tín đồ hầu như tôn đức Phật thành Thượng đế. Con cũng thấy nơi nhiều truyền thống tâm linh khác. Vấn đề là: Vì sao con người nhận ra là một vị đạo sư đã đạt được một trạng thái tâm thức cao? Đó là vì, như được mô tả qua câu chuyện Peter nhận ra Ki-tô trong Giê-su, tất cả mọi người đều có khả năng nhận diện Ki-tô, Ki-tô Hằng sống, tâm Ki-tô. Với đa số con người, họ nhìn thấy điều đó nơi một người khác.

Họ thấy điều đó nơi một đạo sư đã đạt được một phần quả vị Ki-tô. Mục đích của việc này không phải để thần thánh hóa vị đạo sư, thần thánh hóa Ki-tô nơi người khác. Mục đích là để giúp con tiến triển tới điểm con có thể bắt đầu nhận diện Ki-tô trong chính mình. Con có thể bắt đầu chấp nhận vai trò của vị đạo sư chỉ là làm tấm gương chứng minh sự kiện “điều một người đã làm được thì tất cả đều làm được.” Do đó, chính con cũng có thể trở thành Ki-tô, trở thành cánh cửa mở cho ánh sáng Ki-tô. Nếu con không nắm bắt điều này, nếu vị đạo sư không giảng dạy điều này, thì con có thể đi vào ngõ bí trong đó con thần thánh hóa vị đạo sư. Con có thể có xúc cảm mạnh liên quan tới vị đạo sư hay con có thể có một niềm tin đường thẳng về sự cao trội của vị đạo sư. Điều này sẽ khiến con, với thời gian, chối bỏ Ki-tô nơi chính mình.

Chuyện xảy ra trong những phong trào đó, là dần dần hình thành một văn hóa tôn thờ vị đạo sư. Tinh thần tôn thờ cần thiết vì mọi người có ý niệm là có chuyện gì không ổn khi chỉ thấy Ki-tô nơi một người. Đó là lý do vì sao họ có thể nhận ra Ki-tô nơi vị đạo sư khi họ gặp vị này. Nền văn hóa tôn thờ vị đạo sư phải giải thích vì sao họ không thực sự chối bỏ Ki-tô nơi chính họ.  

Một số người có thể bị kẹt trong tâm trạng này một thời gian dài, thậm chí có thể cho đến hết kiếp sống này. Nhiều người sẽ dần dần cảm thấy một sự căng thẳng dâng lên trong họ, và chuyện cần thiết phải xảy ra cho một số là họ xoay chuyển từ tâm trạng tôn thờ vị đạo sư sang nhìn vị  này một cách tiêu cực, có thể gọi vị ấy là đạo sư giả – hoặc hạ bệ vị đạo sư bằng nhiều cách khác. Bởi vì họ cần hạ bệ thần tượng của Ki-tô bên ngoài họ trước khi họ có thể bắt đầu nhận diện Ki-tô trong chính họ.

Một lần nữa, con có thể nói là một số người cần có trải nghiệm này. Nhưng thật sự có cần thiết chăng? Phải chăng trải nghiệm này có thể tránh bằng cách giản dị hiểu điều mà các thày đang trao truyền cho các con? Qua đó, con không cần phải tôn thờ một đạo sư bên ngoài. Con chắc chắn không cần phải tôn thờ vị sứ giả này, các con thấy các thày đã không bao giờ khuyến khích các con làm như vậy, và vị sứ giả này cũng không bao giờ khuyến khích các con làm như vậy. Quả thực là ông đã làm hầu như tất cả những việc có thể làm để tránh tinh thần tôn thờ ông.    

17.6. Tự ngã đằng sau tinh thần tôn thờ

Cái gì đằng sau hình thức tôn thờ này? À, đó chính là ý định dựa trên tự ngã, khiến con người nghĩ họ có thể đi trên con đường tâm linh mà không cần nhìn vào bên trong mình. Lẽ tất nhiên, đây là giấc mơ của tự ngã: đó là khiến con nghĩ con đang tiến bộ trên con đường tâm linh mà không cần nhìn vào tự ngã, để như vậy nó có thể tiếp tục trốn tránh khỏi mắt con. Khi con còn tinh thần tôn thờ vị đạo sư thì tự ngã cảm thấy an toàn.

Chuyện xảy ra cho một số đệ tử là họ bừng tỉnh khỏi tinh thần tôn thờ, và sau đó họ đi vào một ngõ bí khác. Diễn biến lý tưởng là khi con thoát khỏi tinh thần tôn thờ thì con thấy là sự tôn thờ không do vị đạo sư tạo ra, mà do một cái gì đó trong tâm lý của con, là các ngã tiềm thức mà con đã xây dựng trong nhiều kiếp sống trước. Nếu con sẵn lòng giải quyết các ngã tiềm thức đó thì con có thể làm hòa với vị đạo sư, và do đó con có thể tiếp tục trở lại theo vị đạo sư hay con tìm ra một vị đạo sư cao hơn, thường là các chân sư thăng thiên.

Có một số đi vào ngõ bí khác, tạo ra bởi ý nghĩ cho rằng vì họ đã thấy nhược điểm hay sự giả tạo của vị đạo sư, nên họ giỏi hơn vị đạo sư, và do đó họ đã đạt được một trạng thái phát triển tâm linh tối hậu. Lúc đó họ có thể lại bị kẹt trong đó cho đến hết kiếp sống. Con thấy là tự ngã luôn luôn có mặt, làm việc một cách vi tế để giăng bẫy con vào một ngõ bí. Các ngõ bí này luôn luôn đi cặp đôi. Một bên là theo vị đạo sư một cách mù quáng, bên kia là nghĩ mình giỏi hơn vị đạo sư.

17.7. Trong lọc ý định của con

Con thấy là khi con sẵn lòng bước lui lại thì con có thể trong lọc ý định của mình để nó không còn dựa trên tự ngã. Ý định trong sạch là gì? Con tới đâu khi con lên đến các tầng cao? À, một cách để giải thích điều này là khi con đi trên con đường tâm linh từ tầng 48 lên tầng 96, thì con cần chú tâm vào chính mình. Nhiều người trong các con nhận ra là trong đời họ, họ cần rất chú tâm vào con đường tâm linh, vào thực tập tâm linh. Nhiều khi họ cần bỏ ngoài tai những gì người khác nghĩ họ nên làm, để họ không bị chia trí khỏi mục đích và con đường tâm linh. Nhiều người trong các con đoạn tuyệt cuộc đời mình để đi sống trong một cộng đồng tâm linh, và một lần nữa con cần hành động như vậy vì con cần tập trung vào sự tăng trưởng của chính mình. Khi con tới gần và đi quá tầng 96, thì con có thể xoay chuyển ý định của con, và câu châm ngôn là: “Không phải vì tôi. Không phải vì tôi chút nào.”

Cách duy nhất để con thành công trong việc buông bỏ ngã tâm linh mà con đã xây dựng từ tầng 48 đến tầng 96 là con xoay chuyển sang một trạng thái tâm trong đó con phụng sự một cái gì cao hơn chính mình. Do đó, mọi chuyện không phải vì con, vì những gì con muốn hoàn thành như một con người tách biệt và dựa trên ý định của tự ngã. Không phải vì con muốn được gì đó cho mình từ con đường tâm linh. Không phải vì con muốn được người khác công nhận, được một khả năng nào đó, được một trạng thái tâm thức cao hơn cho con khả năng hay viễn quan đặc biệt. Mà là con phụng sự một cái gì khác. Có thể là người khác. Có thể là các chân sư thăng thiên. Có thể là xã hội. Con sẽ tới điểm con không thể tiến xa hơn nữa nếu con không xoay chuyển ý định và nhận ra là con không đi trên con đường tâm linh để cho mình, để hoàn thành một điều gì cho mình như một sinh thể tách biệt. Con đi trên con đường tâm linh để phụng sự một chính nghĩa cao cả hơn.

Làm sao con chuyển tiếp? À, việc chuyển tiếp sẽ dễ hơn nếu con có thể tìm ra là con thương yêu một chính nghĩa nào đó hơn là tuyên dương chính mình, tuyên dương tự ngã của mình. Bởi vì khi con thương yêu một cái gì nhiều hơn những mục đích của tự ngã, thì con có thể gia tốc mình ra khỏi tự ngã. Con có thể vứt bỏ các xích xiềng đã khiến cái Ta Biết nhìn con đường tâm linh qua phin lọc của các ngã tiềm thức lúc nào cũng muốn một cái gì: “Tôi sẽ được gì khi đi trên con đường tâm linh? Tôi sẽ được gì khi đọc chú? Tôi sẽ được gì khi đọc các bài thỉnh? Tôi sẽ được gì khi tham gia vào một cộng đồng tâm linh hay một tổ chức tâm linh? Tôi sẽ được gì?”

Con có thể cần trải qua một giai đoạn tích cực xem xét chính mình, giám sát tâm mình để nghe ra tiếng nói nội tâm muốn được cái gì. Con tìm cách mang nó ra nhận biết có ý thức để con thấy nó là một ngã và buông bỏ nó. Con sẽ được lợi lạc nếu con chú tâm vào: “Tôi có thể phụng sự bằng cách nào? Chuyện gì quan trọng hơn cho tôi? Các chân sư thăng thiên có quan trọng hơn tôi không?” Tôi ở đây thực sự có nghĩa là tự ngã. Khi con làm vậy thì con có thể tách cái Ta Biết ra khỏi sự đồng hóa với tự ngã đã khiến con chú tâm quá nhiều vào chính mình. Lẽ tất nhiên, để có thể chuyển tiếp, con cũng cần sử dụng giáo lý của các thày về ngã gốc, về chấn thương nhập đời hoàn vũ, vì khi con còn bị chấn thương bởi hoàn cảnh đó thì con không thể buông bỏ tự ngã.  

17.8. Tham dự khóa nhập thất của Serapis

Ta có thể nói ở đây là có hai động lực dựa trên tự ngã, hai loại động lực dựa trên tự ngã. Một là tự ngã muốn nâng nó lên một địa vị tối hậu nào đó trên Trái đất. Hai là tự ngã tìm cách bù đắp chấn thương mà con đã gánh chịu bằng cách nghĩ rằng một phép lạ hay đạo sư nào đó sẽ có thể chữa lành con. Một lần nữa, để con được chữa lành mà không cần nhìn vào chính mình. Cũng có thể có động lực muốn con nghĩ là con có thể tiến bộ mà không cần nhìn vào chấn thương. Một lần nữa, như các thày đã giảng, chuyện này không thể làm được. Chuyện này không thể xảy ra.

Trong các đợt truyền giáo trước, thày đã được mô tả như một người có tinh thần kỷ luật khe khắt. Thày có tu viện nhập thất ở Luxor, gọi là Đền Thăng thiên, và khi con tới đó thì con phải theo một chương trình rất nghiêm khắc và phải theo một con đường rất kỷ luật. Đây là một hình ảnh được trao truyền cho trạng thái tâm thức thấp. Như các thày khác, thày có nhiều trình độ ở khóa nhập thất của thày cho những trình độ tâm thức khác nhau.

Ở các cấp cao, thày rất chú tâm làm việc riêng với từng đệ tử, để con có thể thấy điều gì trong tâm lý đang kiềm giữ con lại. Thày làm việc với con để giúp con giải quyết tâm lý, giống như tất cả các Thượng sư khác. Như một sắc thái của Tia thứ Tư, thày cũng có Ngọn lửa Gia tốc. Quả thực là con sẽ tới một điểm trên con đường tâm linh khi con không thể dùng suy nghĩ để lên tầng kế tiếp, con không thể dùng uy lực để lên tầng kế tiếp, con không thể dùng ý chí để lên tầng kế tiếp, con không thể dùng tình thương để lên tầng kế tiếp. Con phải gia tốc. Con có thể nói là gia tốc nghe giống như uy lực nhưng nó quả thực vượt quá uy lực. Nó là một ngọn lửa khác. Nó không tốt hơn hay quan trọng hơn uy lực, nhưng nó là một ngọn lửa khác. Ở các tầng cao của khóa nhập thất của thày, thày giúp để tử nào sẵn lòng hòa điệu với Ngọn lửa Gia tốc.

Lẽ tất nhiên, con không cần biết một cách có ý thức là con đang tham dự khóa nhập thất của thày, nhưng con có thể cố gắng một cách có ý thức. Khi thày nói cố gắng, thày muốn nói là con chú tâm vào việc hòa điệu với Ngọn lửa Gia tốc. Bởi vì quả thực con sẽ tới một điểm khi con đã có hiểu biết, con đã phần nào giải quyết tâm lý, con có ý chí, con có nội giác, con có tình thương, nhưng để đi lên tầng kế tiếp con chỉ cần gia tốc. Vấn đề không phải là hiểu điều gì đó. Vấn đề là lấy một quyết định: “Tôi gia tốc ý định của tôi. Tôi gia tốc viễn quan của tôi về con đường tâm linh. Tôi gia tốc ý muốn phụng sự một chính nghĩa cao hơn riêng tôi.” Khi con trụ vững trong Ngọn lửa Gia tốc, thì con có thể lấy quyết định đó một cách có ý thức. Con không lấy quyết định đó bằng tâm vỏ ngoài, nhưng đó là một quyết định gia tốc.

Đây là một niềm vui và một đặc ân của thày khi thày giúp đệ tử vượt qua lằn ranh cơ yếu khi họ biết vấn đề không phải là hiểu biết, mà vấn đề chỉ là lấy quyết định gia tốc. Không có lý do nào, không có lý do vỏ ngoài nào, con không cần giải quyết gì cả hay thấu hiểu gì cả. Con chỉ gia tốc. Thày rất vui mừng khi đệ tử nhận ra điều này. Bỗng nhiên, mắt họ sáng lên, và họ nhận ra: “Ồ, tôi không phải thấu hiểu tất cả các chuyện này, tôi có thể chỉ gia tốc quá chúng.” Sau đó, họ hòa điệu với ngọn lửa, và họ gia tốc.

Đây chủ yếu là chuyện xảy ra khi con thăng thiên. Đây là gia tốc tối hậu trên trái đất. Con có thể nói là ở mỗi tầng trên con đường tâm linh đều có một sự gia tốc. Nhưng có một điểm chung quanh tầng 96 khi con chỉ giản dị gia tốc, gia tốc quá sự chú tâm vào tâm vỏ ngoài và điều nó muốn gặt hái trên con đường tâm linh. Vấn đề không phải là đạt được điều gì. Vấn đề không phải là đạt được một trình độ tối hậu nào đó. Vấn đề là gia tốc quá tầng hiện thời của con.

Đây là niềm vui lớn của thày, và đây cũng là điều thày cống hiến các con, là Ngọn lửa Gia tốc, khi con cảm thấy sẵn sàng. Vì thày luôn luôn sẵn sàng đợi con. Tới đây thì thày cảm thấy niềm vui lớn khi thày niêm các con trong Ngọn lửa Gia tốc. TA LÀ Serapis Bey.

15 | Con có thể sở hữu bất cứ gì trên thế gian này không?

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Paul người Venice qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Paul người Venice. 2000 năm trước đây, Giê-su đã nói gì về tình thương? Thày nói: “Không có yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà bỏ sự sống mình.” À lẽ dĩ nhiên thày nói điều nay 2000 năm trước đây trong một xã hội hoàn toàn khác nơi dễ mất mạng sống so với nhiều quốc gia thời này, dù rằng không phải là tất cả.

Vì các thày chủ trương tiết lộ tuần tự, vậy các thày có thể nói gì ngày nay? À, các thày có thể nói: “Không có yêu thương nào hớn hơn là vì bạn hữu mà bỏ tự ngã mình.” Con sẽ tới một điểm trên con đường tâm linh khi con cần lấy một quyết định và con có thể nói: “Phải chăng có mâu thuẫn khi nói cần lấy một quyết định về yêu thương? Vì tình thương có phải là một quyết định không? Khi chúng ta yêu ai đó, đấy là một quyết định hay chuyện đó tự nhiên xảy ra?” Con thấy đấy, ở các tầng tâm thức thấp, dường như mọi chuyện tự nhiên xảy ra. Khi con phát triển tâm thức cao hơn, con nhận ra là trong lý duyên khởi không có gì tự nhiên xảy ra. Khi con có nhận biết nhiều hơn về con đường tâm linh thì con nhận ra con phải lấy một số chọn lựa.

15.1. Lấy một quyết định về tình thương

Ví dụ, như Lanto vừa giải thích và như các thày, lẽ tất nhiên, đã giải thích trước kia, giữa tầng tâm thức 48 và 96, con vươn lên khỏi lực hút của tâm thức tập thể. Điều này không tự nhiên xảy ra. Nếu con không nỗ lực để vươn lên trên thì con sẽ bị cuốn hút theo dòng chảy của tâm thức tập thể. Điều này luôn luôn xảy ra, nhưng khi con đi trên con đường tâm linh, con phải lấy một số quyết định và sẽ có một điểm trên con đường tâm linh khi con phải lấy một quyết định ý thức về tình thương. Con yêu cái gì nhiều hơn?

Con yêu tự ngã và những trò chơi kiểm soát của nó nhiều hơn Ki-tô, hay con yêu Ki-tô nhiều hơn tự ngã? Con không thể yêu cả hai. Chính thực, khi con quán chiếu điều này, con sẽ nhận ra là con không yêu tự ngã. Con không thể yêu tự ngã và tự ngã không thể yêu. Câu này có vẻ mâu thuẫn vì hầu hết con người sẽ nói họ yêu một người nào đó hay một chính nghĩa nào đó, hay một ý tưởng nào đó, hay một vị thày tâm linh nào đó. Cái mà tự ngã gọi là tình thương chỉ là ngụy trang cho một trò chơi kiểm soát.

Tự ngã tìm cách được cái gì đó qua tình thương. Khi tự ngã nói “Tôi yêu anh/em” với một người, nó cảm thấy nó đã tuyên bố có quyền trên người đó. Nó đã tuyên bố quyền sở hữu người đó và người đó phải sống và cư xử theo mong đợi của tự ngã, vì khi tự ngã nói “Tôi yêu em/anh” thì có nghĩa là người kia thuộc về tôi. Đây là điều mà tự ngã muốn làm với mọi thứ. Nó muốn sở hữu. Nó muốn kiểm soát.

Tình thương, tình thương Ki-tô có muốn sở hữu và kiểm soát không? Tại sao chứ? Ki-tô là gì? Nó là yếu tố hợp nhất. Không có Ki-tô, chẳng gì được làm nên mà không từ nó mà ra. Ki-tô ở trong mọi sự. Làm sao nó có thể muốn bất cứ gì khi nó là tất cả? Chỉ có tự ngã mới có một cảm giác thiếu thốn có tính cách sống chết mà nó không bao giờ khắc phục được. Nó sẽ tìm cách dùng bất cứ đặc tính Thượng đế nào để bù đắp cho cảm giác thiếu thốn kể cả, như thày đã nói, dùng tình thương như một cách để tuyên bố quyền sở hữu một người khác. 

15.2. Bỏ  không tìm cách sở hữu người khác qua tình thương

Con hãy nhìn vào tình thương nhân thế và hãy ngẫm xem có bao nhiêu người thoát được cảm nhận họ phần nào sở hữu người mà họ tuyên bố thương yêu. Lúc ấy, con sẽ thấy thách đố mà con phải đối diện khi con leo lên cao hơn trên con đường tâm linh, trên con đường quả vị Ki-tô. Dần dần con phơi bày những ngã tách biệt dựa trên tình thương được định nghĩa như sở hữu, thứ tình thương giả, tình thương dựa trên sợ hãi, dựa trên cảm nhận thiếu thốn. Khi con nhận ra chúng và buông bỏ chúng thì chuyện gì xảy ra? Chuyện xảy ra là tình thương Ki-tô bắt đầu rọi sáng xuyên qua đám sương mù nơi bốn thể phàm thấp của con và lúc ấy con nhận ra tự ngã quả thật không yêu bất cứ gì và bất cứ ai. Con nhận ra khi con tuyên bố quyền sở hữu bất cứ gì trên thế gian vật chất, vật mà con nghĩ con sở hữu giờ đây sở hữu con.

Đây là một cách diễn giải ý tưởng bán linh hồn của con cho quỷ của người xưa, khi trên cơ bản con nói: “Tôi muốn sở hữu cái gì đó trên thế gian này. Tôi muốn trải nghiệm cảm giác khi tôi, như một sinh thể tách biệt, có thể sở hữu điều gì đó trên thế gian này.” Giờ đây, bán linh hồn mình cho quỷ nghe có vẻ lâm ly như khi con nói: “Quỷ ơi, nếu ngươi cho ta cái này trên thế gian mà ta muốn, ngươi có thể lấy linh hồn ta mãi mãi về sau.”

Lẽ tất nhiên, chuyện không xảy ra như thế. Trước tiên, có thật sự có một ác quỷ như được mô tả trong nhiều truyện thần thoại? Lẽ tất nhiên có những sa nhân nhưng họ không có quyền lực cho con được sở hữu điều gì và họ không có quyền lực lấy linh hồn con. Chuyện gì thật sự xảy ra khi con thỏa thuận như thế với ác quỷ? Tất cả đều nằm trong tâm lý của chính con vì con hãy nghĩ con đang nói gí. Con muốn trải nghiệm cảm giác sở hữu điều gì đó trong thế giới vật chất. Giờ đây, con có thể nào thật sự sở hữu bất cứ gì trên thế giới vật chất này chăng? À, con có thể sở hữu trong những xã hội có một mức độ luật trị và trật tự nào đó và họ sẽ nói: “ Đúng, bạn mua mảnh tài sản này và bạn được sở hữu nó. Đúng, bạn cưới người đó và bạn có một số quyền do xã hội hay tôn giáo quy định.”

Con có thể nào thật sự sở hữu bất cứ gì trên thế gian này không, nơi mà mọi chuyện có thể xảy ra bất cứ giây phút nào? Con có thể có một ngôi biệt thự đồ sộ nhưng nếu động đất phá nó sập trong vài giây thì sao? Tại sao con không thể như một sinh thể tách biệt thật sự sở hữu bất kỳ một vật tách biệt nào? Ấy đó là vì lý duyên khởi. Nếu không thật sự có vật nào tách biệt thì làm sao con có thể hoàn toàn sở hữu vật gì?

Điều thày nói là: Con không thật sự sở hữu bất cứ gì nhưng con có trải nghiệm sở hữu vật gì đó. Trải nghiệm xảy ra ở đâu? Trong tâm con. Tại sao vật mà con nghĩ con sở hữu lại sở hữu con? Bởi vì ngày nào con còn muốn có trải nghiệm đó, ngày nào con còn muốn trải nghiệm sở hữu một vật gì đó thì vật đó chiếm cứ tâm con. Vật đó quy định con trải nghiệm cuộc sống ra sao. Con thấy chăng? Tất cả là về trải nghiệm của con.

15.3. Con yêu gì hơn: Ki-tô hay thế gian?

Quyết định mà con phải lấy là gì, chắc chắn khi con gần tới hay đạt tầng tâm thức 96, nhưng con cũng có thể lấy trước đó? Đó là: “Tôi yêu cái gì hơn? Tôi yêu nhiều hơn trải nghiệm sở hữu một cái gì trên Trái đất hay tôi yêu nhiều hơn trải nghiệm xuôi chảy theo tâm Ki-tô, xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống? Tôi yêu cái gì hơn? Tôi yêu tự ngã và nhu cầu kiểm soát và sở hữu của nó hơn, hay tôi yêu Ki-tô hơn và sự tuôn chảy tự nhiên từ tình cảnh này sang tình cảnh kia mà không kiểm soát, không tiên đoán trước được?

Lanto đưa ra hình ảnh lội qua sông, tìm cách chống trả dòng nước, tìm cách giữ vững vị trí mình trong dòng sông vì con nghĩ mục tiêu là qua sông. Lanto nói về quy hàng dòng chảy nhưng làm sao con thật sự quy hàng dòng chảy? Con phải từ bỏ ham muốn sở hữu của tự ngã nhưng làm sao con từ bỏ được ham muốn này? Chỉ khi nào con yêu cái gì đó hơn trải nghiệm sở hữu.

Con thấy đấy, tâm vỏ ngoài của đại đa số con người trên Trái đất phóng chiếu hình ảnh là có những điều kiện vật lý thực mà con phải đối diện ở đây trên Trái đất và các điều kiện vật lý này quy định trạng thái tâm của con, trải nghiệm cuộc sống của con. Ở các tầng tâm thức thấp, như thày đã nói, quả đúng là con trôi theo dòng tâm thức đại chúng. Các điều kiện bên ngoài, các điều kiện vật lý nhưng cũng là các điều kiện ở các tầng tình cảm, lý trí và bản sắc của tâm thức đại chúng, chúng quy định trải nghiệm sống của con khi con ở các tầng tâm thức thấp. Bản chất của con đường tâm linh là nâng cao tâm thức của con, nâng cao trải nghiệm sống của con, lên trên trải nghiệm sống của đa số. Con sẽ tới điểm nhận ra là mục đích không phải là thay đổi các điều kiện bên ngoài mà là thay đổi trải nghiệm của con về các điều kiện bên ngoài.

15.4. Có một trải nghiệm không thăng thiên hay thăng thiên

Một lần nữa, như các thày đã nói nhiều lần, tâm Ki-tô không có mục đích biểu hiện điều kiện vật lý đặc thù trên Trái đất, nó chỉ muốn nâng cao trải nghiệm sống của con. Điều gì quy định con vẫn còn hiện thân trên một hành tinh phi tự nhiên như Trái đất hay con thăng thiên? Hiện thân trên trái đất nghĩa là gì? Đó là con có một trải nghiệm sống đặc thù. Thăng thiên nghĩa là gì? Đó là con có một trải nghiệm sống khác. Con có thể nghĩ là, như một chân sư thăng thiên, thày khác con một cách cơ bản nào đó. Trên thực tế, thày chỉ có một trải nghiệm sống khác con. Thày là một sinh thể có tự nhận biết. Thày có trải nghiệm sống trên cõi thăng thiên. Trước kia thày hiện thân trên Trái đất. Thày lúc đó có trải nghiệm sống như con. Làm sao thày chuyển từ trải nghiệm này sang trải nghiệm kia ? Bằng cách nâng cao trải nghiệm sống của thày, không phải bằng cách thay đổi điều kiện bên ngoài – bằng cách nâng cao trải nghiệm sống của thày.Giờ đây, nếu con nhìn ngược về những đợt truyền giáo chân sư thăng thiên trước, con sẽ thấy ngay cả các thày đã phải ở thời điểm đó đưa ra những hình ảnh khác bây giờ. Con có thể quay trở về phong trào TA LÀ, thời đó có khái niệm tại tu viện nhập thất của Saint Germain có một cái ghế đặc biệt gọi là Máy Gia tốc Nguyên tử và con có thể ngồi trên ghế này và nó sẽ rung lên và gia tốc các nguyên tử trong bốn thể phàm của con. Đây là một khái niệm được trao truyền thời đó vì các thày xác định con người chỉ có thể hiểu được đến đó dựa trên trình độ của tâm thức tập thể. Có một phương tiện gần như vật lý để gia tốc bốn thể phàm của con để chúng rung động ở mức độ của cõi thăng thiên.

Các thày đã trao truyền các con những gì trong đợt truyền giáo này? Đó là một mức hiểu tuần tự cao hơn. Vấn đề có phải chăng là gia tốc các nguyên tử của thân vật lý để chúng bỗng nhiên rung động ở tầng mức của cõi thăng thiên? Không đâu vì chuyện này không bao giờ có thể làm được. Thân vật lý sẽ bị nổ tung nếu các nguyên tử bị gia tốc quá một mức nào. Đây cũng giống chuyện một số tín đồ Cơ đốc tin họ sẽ có thân vật lý trên thiên đàng giống thân vật lý họ có bây giờ.

Vấn đề có phải chăng là nâng cao cảm thể, trí thể và bản sắc thể lên một tầng cao hơn? Không đâu, như các thày đã giải thích, bốn thể phàm thấp này là cỗ xe giúp con tương tác với thế giới vật chất. Trên cõi thăng thiên con không cần chúng. Các thày đã trao cho con giáo lý về cái Ta Biết. Thăng thiên có phải là tiến trình gia tốc rung động của cái Ta Biết không? Nó là nhận biết thuần khiết. Nó là nối dài của Hiện diện TA LÀ. Tại sao nó cần được gia tốc? Nó chưa hề bị ảnh hưởng bởi bất cứ gì xảy ra trên Trái đất. Ảnh hưởng xảy ra nơi bốn thể phàm.

15.5. Gia tốc trải nghiệm sống của con

Con gia tốc cái gì khi con thăng thiên? Đó là trải nghiệm sống của con. Làm sao con gia tốc trải nghiệm sống của mình? Ấy, một phần (không phải là tất cả bởi vì con cần tất cả bảy tia để có thể thăng thiên), một phần lớn của việc gia tốc trải nghiệm sống là tới được nhận biết có ý thức: Tôi yêu cái gì hơn? Tôi yêu tự ngã hơn hay tôi yêu Ki-tô hơn? Tôi yêu trải nghiệm mình là một sinh thể tách biệt hơn hay tôi yêu trải nghiệm mình là một phần của tổng thể hơn?

areTự ngã cho con trải nghiệm là một sinh thể tách biệt sống trong một thế giới gồm những ngã tách biệt khác và vật thể tách biệt. Ki-tô cho con trải nghiệm là một sinh thể kết nối, sống trong một thế giới trong đó con là một phần của một tổng thể, một phần của các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau, một phần của cõi thăng thiên, của thứ bậc các chân sư thăng thiên vươn lên đến tận đấng Sáng tạo. Con không thể có cả hai trải nghiệm này cùng một lúc, nhưng con hai trải nghiệm này cùng một lúc khi con đang tiến bước trên con đường tâm linh. Khi con còn hiện thân vật lý, con trải nghiệm một chút mỗi thứ cùng một lúc.

Tại sao thày nói con không thể có cả hai trải nghiệm cùng một lúc? À con có thể có cả hai khi con thiếu nhận biết nhưng khi con càng ngày càng nhận biết nhiều hơn, thì con nhận ra là mình đang bị lôi kéo về nhiều hướng khác nhau. Đó là lý do tại sao con có thể lấy chọn lựa có ý thức buông bỏ tự ngã, vì con thấy con yêu hợp nhất hơn là tách biệt.

15.6. Tình yêu và đời sống hàng ngày của con

Con có thể nói: “Dạ thày Paul người Venice nhưng thày đang vẽ tranh chấm phá, nó có vẻ rất xuất trần nhưng nó liên quan thế nào tới đời sống hàng ngày của con?” À, nó liên quan tới mọi thứ hay chẳng liên quan gì cả, tùy con nhìn thế nào. Con lấy những gì thày Lanto nói: Con thức dậy buổi sáng, con đối mặt một hoàn cảnh nào đó, con có thể tương tác với người trong gia đình, sau đó con đi làm, con tương tác với người khác. Trong mỗi tình huống con có cơ hội chọn con yêu gì nhiều hơn, con yêu những khuôn nếp phản ứng dựa trên tự ngã hay con xuôi chảy theo tâm Ki-tô? Để xuôi chảy theo tâm Ki-tô, con phải từ bỏ mong muốn kiểm soát. “Chẳng có sự yêu thương nào hớn hơn là bỏ tự ngã mình vì bạn hữu, vì kẻ thù hay vì bất cứ ai con gặp.”

Con thấy đấy, khi con nhìn vào một hoàn cảnh bên ngoài khi con đối xử với người khác, con rất dễ bị cuốn hút vào ý tưởng cho rằng có một kết quả nào đó cần biểu hiện: Con phải chứng minh mình đúng, con phải thuyết phục người kia. Khi con quyết định con yêu Ki-tô hơn tự ngã, mỗi hoàn cảnh trở nên khác hẳn. Mỗi hoàn cảnh trở thành một cơ hội để con nhìn vào các khuôn nếp phản ứng của mình, nhìn thấy chúng đến từ tự ngã và sau đó con quyết định con yêu Ki-tô hơn tự ngã. Con sẵn lòng buông bỏ tự ngã và cách tự ngã nhìn hoàn cảnh để con có thể hòa điệu với cách Ki-tô nhìn hoàn cảnh đó. Do đó con có thể đáp ứng hoàn cảnh ở tầng mức của Ki-tô thay vì tầng mức của tự ngã.

Mỗi hoàn cảnh con đối diện trong cuộc sống cho con cơ hội này. Những người đạt tiến bộ trên đường tu là những người nhận ra điều này, dùng cơ hội này và tiếp tục dùng cơ hội ngày nào còn hiện thân. Giờ đây, đôi khi các thày thấy những đệ tử tìm thấy giáo lý, họ sẵn lòng áp dụng giáo lý, họ thật sự tiến bộ về mặt tâm lý và giải quyết tâm lý của họ. Rồi họ tới điểm cảm thấy: “Ồ bây giờ tôi đã đạt tới một mức cao hơn.” Họ nói đúng, họ đạt được mức cao hơn so với khi họ tìm thấy con đường tu. Họ đã áp dụng giáo lý, họ đã đạt một mức cao nhơn nhiều người chung quanh họ. Bây giờ họ quyết định: “À, bây giờ tôi không cần nhìn vào tâm lý mình nữa.” Có thể họ còn quyết định: “Ồ, tôi là Ki-tô, tôi là Ki-tô Hằng sống, tôi đang biểu hiện quả vị Ki-tô.”

15.7. Khi tự ngã nghĩ nó là Ki-tô

Quyết định mà thày nói tới trước đây là gì? Con có yêu Ki-tô hơn sự sở hữu của tự ngã không? Ki-tô có cần sở hữu không? Ki-tô có bao giờ cần, có bao giờ đạt, một tầng mức tối hậu không? Ki-tô khi hiện thân có thấy mình đạt tới một tầng mức tối hậu nơi không cần nhìn vào những khuôn nếp phản ứng ẩn nấp nữa chăng? Không đâu. Khi con hòa điệu với tâm Ki-tô, con xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống. Con tiếp tục xuôi chảy cho tới ngày bỗng nhiên con thấy mình ở cõi thăng thiên. Ngay lúc con ngưng xuôi chảy, ngay lúc con nghĩ con đạt được một trạng thái tối hậu, thì con không còn yêu Ki-tô hơn tự ngã vì chính tự ngã khiến con nghĩ con là Ki-tô. Con hãy suy ngẫm điều này.

Tự ngã sẽ không bỏ cuộc khi con tìm thấy con đường tu. Nó luôn luôn ở phía sau và nó luôn luôn tìm những cách vi tế để khiến con nghĩ: “Tôi đã đi trên con đường tu lâu lắm rồi, tôi đã áp dụng tất cả những giáo lý này. Tôi đã quỳ lạy trên sàn mười ngàn lần như người Tây Tạng nói. Tôi đã đọc chú rất nhiều giờ cho nên tôi đã đạt một tầng cấp tối hậu nào đó. Tôi đã thức tỉnh. Tôi đã sáng ngộ. Tôi là Ki-tô Hằng sống.”

Cho nên, tự ngã bước ra và nói: “Bây giờ, bạn có thể ngừng nhìn vào tâm lý mình. Bạn đã đạt một tầng mức tối hậu. Bạn không còn tâm lý chưa giải quyết.” Con thấy đấy, Ki-tô trả lời thế nào khi tự ngã bước ra, trườn mình như con rắn với lô-gíc vi tế của nó? Câu trả lời thích đáng của Ki-tô là: “Ngươi đứng ra sau lưng ta, Satan.” Tại sao thế? Vì con yêu Ki-tô hơn và do đó, con muốn tiếp tục xuôi chảy với Ki-tô thay vì ngưng lại ở một điểm trên Trái đất.

15.8. Mong muốn phát triển tâm linh tối hậu

Giờ đây, chuyện có thể xảy ra là có một số đệ tử sau khi tìm thấy con đường tâm linh (và ngay cả sau khi đã đi trên đường tu một thời gian), họ nhận ra là họ vẫn còn mong muốn có một trải nghiệm đặc thù, như trải nghiệm đạt được một mức tâm linh tối hậu, một trình độ phát triển tâm linh tối hậu trên Trái đất. Thày không muốn nói với con là mong muốn này hoàn toàn sai. Lẽ tất nhiên, nó sẽ ngăn chặn con xuôi chảy về hướng quả vị Ki-tô, nhưng quyền tự quyết là có ý chí tự do và con có thể có trên Trái đất đủ loại trải nghiệm.

Tỷ dụ con sẽ thấy có một số người trong thế gian đã theo con đường tâm linh một thời gian, đã đạt một mức nào đó, và họ tôn mình như một vị đạo sư và tuyên bố họ đã đạt một trạng thái tối hậu nào đó, bất kỳ họ mô tả trạng thái này như thế nào: tôi đã sáng ngộ. Tôi đã thức tỉnh. Tôi đã đạt nhận biết bất nhị. Tôi đã trải nghiệm cái chết của tự ngã. Tôi không có ngã. Tôi là nhận biết thuần khiết. Tôi là Ki-tô Hằng sống. Tôi là Phật. Tôi là hiện thân của thần linh này hay thần linh kia. Có đủ chuyện mà con người có thể dùng để tuyên bố đã đạt một giai đoạn tâm thức tối hậu, một giai đoạn phát triển tâm linh tối hậu, khi vẫn còn ở trong thân vật lý.

Quyền tự quyết cho phép họ có trải nghiệm này. Quyền tự quyết cho phép con người có trải nghiệm: “Ồ, tôi đang đi theo vị đạo sư toàn hảo này, vị đạo sư cao nhất từng tới Trái đất.” Tất cả đều là một trải nghiệm và đó là một trải nghiệm con có khi ở ngoài Ki-tô. Khi con ở trong hợp nhất, con không thể trải nghiệm là con, như một sinh thể tách biệt, đã đạt được một tầng tối hậu trên Trái đất bởi vì khi con nối kết với tâm Ki-tô, con nhận ra, con trải nghiệm, là tâm Ki-tô là một dòng chảy liên tục.

Không thể nào có trải nghiệm tối hậu trên Trái đất. Làm sao có được một trải nghiệm tối hậu trong một bầu cõi chưa thăng thiên? Thậm chí, làm sao có được một trải nghiệm tối hậu trong bầu cõi thăng thiên cho tới khi con đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo? Khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo, con sẽ thấy là có thật nhiều hơn nữa để trải nghiệm trong cái Tất cả. Có bao giờ có một trải nghiệm tối hậu chăng?

Tâm đường thẳng và tự ngã rất muốn nói: “Đúng, phải có chứ. Phải có một tầng tâm thức cao nhất, đó là Thượng đế.” Sự thực không như vậy nhưng con chỉ có thể biết điều này, trải nghiệm điều này bằng tâm Ki-tô, không bằng tâm tách biệt, tâm đường thẳng, muốn nói phải có một khởi đầu tối hậu, phải có một mục tiêu tối hậu. Nhưng không có như vậy đâu.

Điều cơ bản thày đang nói là: Có thể nào con người có thể tiến cao hơn trên con đường tâm linh, đạt tiến bộ thật sự bằng cách xuôi chảy theo dòng sông của tâm Ki-tô, hay gọi bằng tên gì khác cũng được. Họ xuôi chảy và họ tới điểm đạt được một tầng nào đó và họ muốn có trải nghiệm đứng yên tại tầng đó và cảm thấy đây là mức tối hậu.

Tâm Ki-tô lúc ấy sẽ phải nói: “À, hiển nhiên bạn không cần ta nữa nhưng ta luôn luôn ở bên bạn cho nên khi bạn chán trải nghiệm này thì ta vẫn ở đây để giúp bạn trở về dòng chảy.” Con có thể tránh không rơi vào bẫy này, ngõ cụt này, bằng cách luôn luôn quyết định con yêu Ki-tô hơn mong muốn sở hữu bất kỳ trải nghiệm nào. Con thấy tự ngã muốn làm gì? Nó muốn đạt một trải nghiệm nào đó trên Trái đất và sau đó nó muốn duy trì trải nghiệm này dài lâu. Ki-tô không muốn đạt bất kỳ trải nghiệm nào và không muốn duy trì bất kỳ trải nghiệm nào. Ki-tô muốn xuôi chảy và tình thương Ki-tô muốn xuôi chảy. Nó không muốn sở hữu.

15.9. Ki-tô luôn luôn muốn hơn nữa cho con

Bây giờ, con có thể nói: “Có phải là thày đang mâu thuẫn với chính thày chăng? Thày nói tâm Ki-tô là tất cả và có tất cả, tuy vậy tâm Ki-tô thúc đẩy chúng con luôn luôn tuôn chảy và với lên hơn nữa?” Con thấy đấy, không có mâu thuẫn khi con hiểu tâm Ki-tô là gì. Nó là yếu tố hợp nhất và đối với con là một sinh thể cá nhân, con là một nối dài của Bản thể đấng Sáng tạo. Ki-tô thúc đẩy con tuôn chảy và thăng vượt chính mình cho tới khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo, sẽ khiến con hợp nhất với nguồn cội của mình, trở thành một với đấng Sáng tạo của con.

Đấy là chức năng của tâm Ki-tô. Dù tâm Ki-tô tự nó không có nhu cầu tăng triển, con như là một sinh thể cá nhân có mong muốn, sự thôi thúc, sự cuốn hút, có tính chất hiện sinh, bẩm sinh, không tránh được, muốn phát triển và trở về nguồn cội. Con có thể chối bỏ mong muốn đó và những người nghĩ họ đã đạt một mức tâm thức tối hậu nào đó trên Trái đất đang chối bỏ mong muốn đó và nói: “Tôi không cần lên cao hơn nữa.” Như thế là họ chối bỏ động lực hiện sinh của bản thể của họ và đấy không phải là tình thương. Tình thương là luôn luôn muốn hơn nữa cho tới khi con trở về nguồn cội và sau đó, lẽ dĩ nhiên, con có thể phát triển tiếp từ mức đó. Động lực tức thời mà tâm Ki-tô đưa ra cho con là động lực trở về hợp nhất với nguồn cội của con, đấng Sáng tạo.

THÀY LÀ một chân sư thăng thiên. Thày trở thành một chân sư thăng thiên vì thày trụ vững vào động lực này. Thày không chối bỏ nó. Thày sẵn lòng xuôi chảy với nó. Dù thày là một chân sư thăng thiên, thày không thấy mình đã đạt một mức tối hậu. Làm sao thày có thể thấy như thế khi thày thường xuyên tương tác với các chân sư thăng thiên rõ ràng có tầng tâm thức cao hơn thày rất nhiều trong cương vị một Thượng sư làm việc với Trái đất?

Khi thày tương tác với Phật, thày trải nghiệm là Gautama có tầng tâm thức cao hơn thày, các đại thiên thần, các Elohim có tầng tâm thức cao hơn thày, các sinh thể hoàn vũ như Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, Surya, Shiva có tầng tâm thức cao hơn thày. Thảng hoặc, thày lại còn trải nghiệm Alpha và Omega có tầng tâm thức cao hơn nữa. Làm sao thày có thể không trụ vững vào động lực vươn lên cao hơn, mãi mãi vươn lên cao hơn? Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là bỏ trải nghiệm sống hiện tại của mình để tuôn chảy theo một trải nghiệm sống cao hơn.

Với lời này, thật là một đặc ân và niềm vui lớn cho thày được tương tác với các con và thày cảm ơn các con đã cho thày cơ hội. Thày niêm các con trong tình thương mà thày đại diện trên Trái đất, tình thương Ki-tô luôn tuôn chảy, luôn phát triển, luôn thăng vượt chính nó. Paul người Venice, TA LÀ.

13 | Quả vị Ki-tô là quy hàng lý duyên khởi

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Lanto qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Đức Lanto. Mục đích của thày trong bài này là cho các con tầm nhìn của Tia thứ Hai về quả vị Ki-tô. Tia thứ Hai thường được liên kết với minh triết, và có người nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô thì con sẽ biết hết mọi chuyện, con sẽ có giải đáp cho mọi câu hỏi. Như các thày đã giảng, đây không phải là cái nhìn đúng đắn. Có những câu hỏi có thể được đặt ra không chỉ do tâm nhị nguyên mà ngay cả tâm đường thẳng mà Ki-tô cĩng không thể giải đáp, vì chúng không có giải đáp.

Con thấy chăng, tâm đường thẳng muốn tạo một thế giới quan cho rằng thế giới theo đường thẳng. Con thấy quan niệm này trong các tôn giáo. Thượng đế tạo thế giới trong 7 ngày, à nếu nói chính xác là 6 ngày, vì sau đó không biết vì lý do gì vị Thượng đế Toàn năng này lại cần nghỉ ngơi vào ngày thừ bảy. Con thấy quan niệm thế giới đường thẳng trong khoa học. Mọi chuyện khởi đầu từ Vụ nổ lớn. Trước Vụ nổ lớn thì có gì? Ấy, chúng ta hãy không nói đến điều này. Khoa học coi mọi chuyện tiến triển theo đường thẳng và con có thể tách ra một kết quả đặc thù đến từ một nguyên do đặc thù, và trước đó một nguyên do khác, và trước đó một nguyên do khác. Con thấy là tâm đường thẳng muốn tách ra một chuỗi gồm một nguyên do tạo nên một kết quả, kết quả này trở nên một nguyên do khác và cứ thế tiếp diễn.  

13.1. Khi tâm nhị nguyên cộng thêm vào tâm đường thẳng

Đó là cách tâm đường thẳng vận hành. Cộng thêm vào đó ta có tâm nhị nguyên lấy thế giới quan đường thẳng và thêm vào một phán xét giá trị. Giờ đây con có thể tạo thêm một phân chia khác, không chỉ giữa nguyên do và kết quả, một nguyên do trung hòa dẫn đến một kết quả trung hòa, mà là một cái gì có đúng sai. Lúc đó con có thể đi ngược dòng thời gian theo chuỗi nguyên do và kết quả và nói: “Từ rất xa xưa trong quá khứ, tại khu vườn Đia đàng, có nguyên do đã xảy ra mà đáng lẽ không được xảy ra, và do đó mọi sự liên quan đến nhân loại trên trái đất đã đi sai đường từ thuở đó. Do đó ta cần dùng tôn giáo để chỉnh sửa những gì đã sai.” Hay ta cần dùng thuyết cộng sản để chỉnh sửa những gì đã sai. Hay ta cần dùng khoa học để chỉnh sửa những gì đã sai. Hay ta cần dùng thông minh nhân tạo để chỉnh sửa những gì đã sai.

Con thấy đấy, có gì đó đã đi sai, nhưng điều này chỉ có thể được nghĩ ra bởi một tâm cho rằng có nguyên do tách biệt dẫn tới kết quả tách biệt. Đức Phật đã dạy gì 2500 năm về trước? Lý duyên khởi. Trong lý duyên khởi, các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau, con có thể tách ra một nguyên do duy nhất chăng? Không đâu. Cái gì là nguyên do duy nhất trong một vũ trụ nơi có lý duyên khởi? Đó là tổng thể. Toàn thể vũ trụ là nguyên do duy nhất và toàn thể vũ trụ là kết quả duy nhất. Con không thể tách riêng một nguyên do duy nhất hay một kết quả duy nhất, vì tất cả vận hành như một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau.

Con cần một tiến trình dài để nắm bắt điều này, để hấp thụ điều này. Khi con bắt đầu nắm bắt lý duyên khởi thì con thấy là thế giới quan mà hầu hết con người bị kẹt ở trong không phù hợp với thực tại. Con thấy là nhân gian lúc nào cũng đi tìm một giải pháp sẽ giải quyết các vấn đề, sẽ tháo gỡ cái đã đi sai, sẽ chấm dứt khổ đau. Con bắt đầu thấy cuộc tìm cầu giải pháp tối hậu này, giải thích tối hậu này, hiểu biết tối hậu này, minh triết tối hậu này, chính nó đã tạo ra khổ đau, duy trì khổ đau, và nó sẽ không bao giờ có thể chấm dứt khổ đau.

13.2. Tâm không thể điều khiển quả vị Ki-tô

Các thày đã tìm cách giải thích điều gì cho các con từ nhiều năm nay? Động lực đưa đến tăng trưởng tâm linh không phải là tâm đường thẳng, mà là tâm trực giác. Con không thể suy nghĩ để đạt một trạng thái tâm thức cao hơn. Con hòa điệu với một trạng thái tâm thức cao hơn. Con thấy là khi con người lần đầu nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô, thì tâm suy nghĩ, tâm đường thẳng, tâm phân tích của họ bắt đầu làm ngay chuyện mà nó luôn luôn làm. Nó nói: “À, hãy cho tôi giáo lý về quả vị Ki-tô, cho tôi biết các đặc tính của nó, chia nó ra thành phần nhỏ, chia nó ra nhỏ để tới nguyên do tối hậu, để tôi có thể nắm bắt, tôi có thể lấy tâm bao quanh nó để tôi có thể hiểu nó, tôi có thể phân loại, gắn cho nó một nhãn và cất vào kho dữ liệu, và lúc đó tôi sẽ kiểm soát được quả vị Ki-tô.”

Con thấy đấy, con không thể dùng suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô. Con có thể hòa điệu với tâm Ki-tô, nhưng tâm Ki-tô vượt quá tâm suy nghĩ. Có nhiều người nghĩ họ có thể suy nghĩ (và một lần nữa các thày không chê trách ai, điều này không thể tránh được trong những điều kiện của trái đất) để trở thành Ki-tô. Họ thường dùng giáo lý của các thày để quy định các đặc tính của quả vị Ki-tô, và họ nghĩ là nếu họ hội đủ các điều kiện đó bằng tâm vỏ ngoài thì họ sẽ trở thành Ki-tô.

Ki-tô không thể tới bằng suy nghĩ, mà phải là. Vần đề không phải là “suy nghĩ hay không suy nghĩ” mà là “là hay không là”. Lẽ tất nhiên, đây không phải là câu trả lời mà tâm đường thẳng ưa thích, vì là hay không là nghĩa là gì? Hãy chia nó ra thành phần nhỏ cho tôi, cho tôi một cái gì mà tôi có thể nắm bắt. Con thấy chăng, không có gì để hiểu trong là hay không là. Con không thể suy nghĩ để là. Con có thể hoặc ‘là’ hay ‘không là’.

13.3. Tự ngã lúc nào cũng muốn một quy luật

Điều này không có nghĩa là Ki-tô hay không là Ki-tô là một quyết định vĩ đại hay một biến cố vĩ đại, như một số người muốn mô tả – giác ngộ tức khắc. Nó là một tiến trình gồm rất nhiều chọn lựa riêng lẻ, và chọn lựa là trong hoàn cảnh thường ngày chọn với lên cái gì vượt quá tâm vỏ ngoài, tâm suy nghĩ, thậm chí tâm xúc cảm, hay thậm chí tâm bản sắc. Vì khi thày nói tới tâm suy nghĩ, tâm đường thẳng thì nó quả thực bao gồm tất cả các ngã tiềm thức ở các tầng xúc cảm, tư tưởng và bản sắc, vì chúng đều theo đường thẳng, chúng muốn có một quy luật. Tự ngã không muốn sai nên nó nói: “Hãy cho tôi một quy luật mà tôi có thể theo, và như vậy tôi sẽ không bao giờ sai.” Đây không phải là quả vị Ki-tô.   

Con hãy lấy minh triết như một thí dụ. Tự ngã muốn các thày quy định minh triết là gì. Tự ngã rất mong muốn các chân sư thăng thiên cho ra một quyển sách, quyển này có thể dày cộm, và nói: Đây là toàn bộ minh triết mà các con cần biết. Tự ngã sẽ nói: “À, nếu tôi học thuộc lòng quyển sách này, nếu tôi biết tất cả mọi thứ trong đó, thì tôi sẽ không bao giờ sai.” Tự ngã theo định nghĩa lúc nào cũng sai, vì tự ngã không ở trong cái một. Minh triết chỉ tiếp thu từ bên ngoài, có nghĩa là hiểu biết tiếp thu từ bên ngoài, mà con người nghĩ đó là minh triết, đây không phải là quả vị Ki-tô.

Con không thể quy định một giáo trình, một quyển sách và nói: “Nếu con biết hết các điều này thì con sẽ là Ki-tô.” Tại sao không? Con hãy nghĩ đến đời sống thường ngày – hãy chỉ giản dị nghĩ đến đời sống thường ngày. Con hãy tưởng tượng con thức dậy buổi sáng, tương tác với người trong gia đình, rời nhà, gặp gỡ người khác trên xe buýt, xe lửa hay xe điện ngầm, con vào sở làm, con tương tác với người khác. Khi đang ngồi ăn điểm tâm vào buổi sáng, con có thể quy định tất cả những chuyện sẽ xảy ra cho con trong ngày chăng? Con có thể làm như vậy trước khi những chuyện đó xảy ra và như vậy con sẽ biết ngày của con sẽ trải bày giống y như những gì con đã tiên đoán?

Con thấy là có một số khoa học gia sẽ nói: Đúng, trên lý thuyết con có thể làm được. Nếu con có đủ hiểu biết về các điều kiện, thì con sẽ có khả năng tiên đoán tất cả mọi chuyện sẽ xảy ra. Ý kiến này không thiết thực, như một số khoa học gia ngày nay đã bắt đầu nhận ra. Con có thể thấy qua thí dụ đời sống thường ngày của con là không thể tiên đoán mọi hoàn cảnh.

13.4. Lý duyên khởi trong đời sống thường ngày

Con thực sự giáp mặt gì trong đời sống thường ngày? Thày biết là khi các thày nói tới khái niệm lý duyên khởi thì nó có vẻ lý thuyết, cao siêu, có phần mơ hồ, trừu tượng. Con giáp mặt gì trong đời sống thường ngày khi con tương tác với những người con gặp? Con có biết là người đó sẽ nói gì với con chăng? Khi con đi trên đường và có một người khác thì người đó sẽ cười hay lườm con? Chuyện gì chính xác sẽ xảy ra cho con trong ngày? Con giáp mặt gì trong đời sống thường ngày? Lý duyên khởi!

Con thức dậy buổi sáng và ngày của con là một tương tác với người khác và hoàn cảnh mà không ai có thể tiên đoán trước được. Các sự cố đó không có kết quả cố định. Chúng ảnh hưởng con, con ảnh hưởng chúng. Đây chẳng phải là phụ thuộc lẫn nhau sao? Con thấy chăng, con không thể chẻ nhỏ tất cả mọi chuyện có thể xảy ra trong một ngày và tiên đoán và kiểm soát chúng. Do đó, biết hết mọi chuyện trước khi con bắt đầu một ngày sẽ lợi ích gì cho con? Con sẽ vẫn không thể tiên đoán người này sẽ làm gì hay nói gì, người kia sẽ làm gì hay nói gì.  

Minh triết chân chính, minh triết dựa trên Ki-tô, là gì? Đó là con có khả năng đáp ứng lại mọi hoàn cảnh, tùy hoàn cảnh trải bày như thế nào. Một lần nữa, tự ngã sẽ nói: “Quả vị Ki-tô đáng lẽ phải có nghĩa là tôi có thể biết chính xác đâu là cách hành xử đúng trong mọi hoàn cảnh. Hãy cho tôi một quy luật, một quy luật cố định nói: ‘Nếu tôi đối xử với mọi người mà tôi gặp như thế này, thì tôi sẽ đúng, tôi sẽ làm đúng.’” Nhưng con thấy chăng, mọi người đều khác nhau, mọi hoàn cảnh đều khác nhau. Làm sao con có thể đối xử với mọi chuyện cùng một một cách?

13.5. Đáp ứng lại mọi hoàn cảnh một cách tự phát

Minh triết của tâm Ki-tô là gì? Đó là con dùng trực giác để hòa điệu với tâm Ki-tô trong mọi hoàn cảnh, và con sử dụng nó một cách hầu như tự phát. Khi con thực sự hòa điệu với tâm Ki-tô và có động lực sử dụng nó, thì mọi chuyện xảy ra một cách tự phát. Con ứng xử với hoàn cảnh đó bằng cách tốt nhất. Điều này không có nghĩa mọi hoàn cảnh sẽ được giải quyết theo một tiêu chuẩn toàn hảo. Nó chỉ có nghĩa: đây là hoàn cảnh và có một số thông số. Ta có thể nói là trong mọi hoàn cảnh có một số yếu tố tùy thuộc lẫn nhau đang ảnh hưởng hoàn cảnh. Con có thể không biết điều này với tâm vỏ ngoài của con. Đúng thực là trong đa số trường hợp, con sẽ không biết với tâm vỏ ngoài. Chúng ta hãy giả dụ, để giản dị hóa vấn đề, tuy vấn đề hiếm khi giản dị như vậy, là có thể có năm kết quả từ hoàn cảnh con gặp và tương tác với một người trong công việc làm. Có thể có năm kết quả.  

Trong các kết quả đó, có thể có một không thuận lợi: con không truyền đạt được những gì con muốn nói, con không đạt được một kết quả nào đó, thậm chí con có xung đột. Một số kết quả khác tốt hơn, và có thể có một kết quả tốt nhất trong hoàn cảnh đó. Hòa điệu với Ki-tô trong hoàn cảnh đó nghĩa là gì? Điều này có nghĩa là, tuy con không biết với tâm vỏ ngoài, con chọn cách hành xử dẫn tới kết quả cao nhất. Con thấy chăng, kết quả này tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Giờ đây, con có thể, giống như nhiều người, trong đó có nhiều người tâm linh và tôn giáo, bước lui lại và nói: “Ồ, đáng lẽ phải có một kết quả cao nhất, một kết quả lúc nào cũng đúng.” Con thấy chăng, con ở trên một hành tinh phi tự nhiên. Các thày đã nói với các con điều này từ nhiều năm nay. Con có thể kết luận như sau dựa trên giáo lý này: trên một hành tinh phi tự nhiên, không có kết quả cao nhất, không có kết quả lý tưởng, vậy con thấy gì?

Con thấy là tự ngã khao khát bù đắp trạng thái mất kết nối của con. Nó muốn biểu hiện an toàn tối hậu. Ý niệm có một kết quả cao nhất hấp dẫn với nó. Ý niệm này từ đâu tới? Lẽ tất nhiên, từ sa nhân. Với tâm Ki-tô thì không có kết quả cao nhất. Chỉ có một dải gồm kết quả thấp hơn và cao hơn, và Ki-tô luôn luôn tìm cách giúp con người đạt kết quả cao nhất, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau của hoàn cảnh.

Con hãy lấy thí dụ trong công việc làm, con gặp một người mà con chưa từng có dịp tương tác. Nếu con dùng trực giác để hòa điệu với tâm Ki-tô thì cách con hành xử sẽ đưa tới kết quả cao nhất trong hoàn cảnh đó. Nhưng vài ngày hay vài tuần sau con tương tác với người đó nữa thì lúc đó con bắt đầu ở một điểm cao hơn và một kết quả cao hơn là lần tương tác đầu. Nếu lần này con cũng lại hòa điệu với tâm Ki-tô thì con sẽ lại đạt một kết quả cao hơn và con có thể dần dần xây dựng một mối liên hệ càng ngày càng tốt hơn với người đó. Nếu con không hòa điệu với kết quả cao hơn thì mối liên hệ của con có thể sẽ đi ngược lại và con có thể dần dần xây dựng một vòng xoáy đi xuống với người đó.

13.6. Tính chất thực tế thực tiễn của tâm Ki-tô

Một lần nữa, con thấy là tự ngã muốn phóng chiếu là quả vị Ki-tô, minh triết, minh triết của Ki-tô, lúc nào cũng biết kết quả lý tưởng, nhưng tâm Ki-tô thì thực tế. Tâm Ki-tô không tìm kết quả lý tưởng. Nó nhìn một hoàn cảnh và các thông số tùy thuộc lẫn nhau của hoàn cảnh đó và tìm cách nâng hoàn cảnh lên tầng kế tiếp, và sau đó lại từ đó nâng lên thêm nữa. Chính cách hành xử này trở nên Dòng sông sự Sống. Rất nhiều người lần đầu nghe tới quả vị Ki-tô thì tự ngã của họ pha màu khái niệm quả vị Ki-tô và nói: “À, đây là cái sẽ cho tôi minh triết tối hậu, cho tôi cách khiến mọi hoàn cảnh trở nên lý tưởng, giúp tôi lúc nào cũng làm chủ mọi tình hình, giúp tôi lúc nào cũng được điều tôi muốn.” Con thấy chăng, Ki-tô không muốn được điều mà nó muốn. Tại sao? Tại vì Ki-tô không cần gì cả từ thế giới vật chất.

Như các thày đã nói, tâm Ki-tô vượt quá thế giới vật chất. Nó không cần một kết quả đặc thù nào. Tâm Ki-tô không nhìn vào một hoàn cảnh bên ngoài và nói: “Đây là kết quả lý tưởng và nếu năm người kia làm đúng như lời ta chỉ dẫn thì chúng ta sẽ có kết quả vật lý lý tưởng.” Con có thể nói là tâm Ki-tô không quan tâm đến kết quả vật lý. Tâm Ki-tô nhìn vào năm người kia đang ở trong một hoàn cảnh với các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau và nó chỉ muốn nâng tất cả các người đó từ tầng tâm thức hiện tại lên tầng kế tiếp. Ki-tô lúc nào cũng tìm cách nâng con người lên, chứ không phải điều kiện vật lý.

Lẽ tất nhiên, đây không phải là điều mà giới kinh doanh muốn nghe vì họ muốn nói: “À, nếu chúng ta có tâm Ki-tô, thì chúng ta sẽ tạo được lợi nhuận cao nhất cho công ty của chúng ta.” Tâm Ki-tô có quan tâm đến lợi nhuận chăng? Lẽ tất nhiên là không. Nó quan tâm đến những người thuộc công ty, vì đối với tâm Ki-tô, tài sản tối hậu là con người, hay đúng hơn là tâm con người. Ki-tô luôn luôn tìm cách nâng tâm con người lên.

Ngược lại thì tâm phản Ki-tô, sa nhân, họ muốn gì? Họ muốn kiểm soát mọi người. Chắc chắn là có đệ tử khi nghe nói về khái niệm quả vị Ki-tô thì họ nghĩ trở thành Ki-tô có nghĩa là buông bỏ con người mình, ý chí của mình, theo tâm Ki-tô và lúc đó họ trở thành như con rối bị tâm Ki-tô điều khiển. Tâm Ki-tô không muốn nói con phải làm gì. Nó muốn con lấy quyết định cao nhất trong một hoàn cảnh đặc thù sẽ nâng con lên tầng tâm thức kế tiếp.

Ngược lại, sa nhân muốn kiểm soát hoàn cảnh của họ, và họ nghĩ họ chỉ có thể kiểm soát hoàn cảnh của họ bằng cách kiểm soát tất cả mọi người khác. Một nhà độc tài muốn gì? Y muốn kiểm soát tất cả mọi người trong vòng ảnh hưởng của y. Với y, lý tưởng nhất là kiểm soát được tất cả mọi người trên trái đất nếu có thể làm được, nhưng điều này không thể làm được vì trái đất quá lớn và quá phức tạp, và vì có lý duyên khởi.

13.7. Không thể kiểm soát lý duyên khởi

Đây có thể là một chủ đề mà một số các con cần chiêm nghiệm. Làm sao con có thể kiểm soát bất cứ gì khi có lý duyên khởi? Con thấy là sa nhân dùng tâm đường thẳng để kiểm soát tình hình. Họ muốn nói: “Đây là những điều kiện khởi thủy, đây là các định luật điều khiển cách vũ trụ trải bày. Nếu ta biết hết các yếu tố này thì ta có thể tiên đoán kết quả, và nếu ta có thể tiên đoán kết quả thì ta có thể kiểm soát nó. Nếu ta có thể thay đổi điều kiện ban đầu chút ít, nếu ta có thể thay đổi một số các thông số và định luật, thì ta có thể kiểm soát kết quả.” Sa nhân tin rằng nếu họ có thể kiểm soát tâm con người trên trái dất, thì họ có thể kiểm soát kết quả trên trái đất. Con thấy chăng, lý duyên khởi khiến ý đồ này không thể thực hiện được. Con không thể kiểm soát tâm mọi người trên trái đất, nhưng thêm nữa trái đất không phải là một đơn vị riêng lẻ bay bổng trong không gian.

Trái đất đang chịu lực kéo của tất cả các hành tinh khác, và các hành tinh này đang theo một vòng xoáy hướng thượng trong bầu cõi chưa thăng thiên này, và toàn thể bầu cõi chưa thăng thiên đang chịu lực kéo của các bầu cõi đã thăng thiên đi trước nó. Không có gì có thể kiểm soát các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau này. Trên hành tinh phi tự nhiên, trong một thời gian giới hạn con có thể có ảo tưởng là con đang làm chủ tình hình, nhưng đó là một ảo tưởng. Đó sẽ luôn luôn là một ảo tưởng.

13.8. Một chọn lựa quan trọng trên đường tu

Trên đường tu của con sẽ có một điểm con giáp mặt một chọn lựa. Đây là một chọn lựa quan trọng, không quan trọng ở mức cuồng đại, nhưng là một chọn lựa quan trọng. Con đã đi trên con đường tâm linh được một thời gian, con đã tạo được động lực, con đã cầu thỉnh ánh sáng, con đã bắt đầu giải quyết một số chuyện trong tâm lý, và nay con đến điểm con cần chọn lựa giữa kiểm soát và quy hàng nếu con muốn tiến xa hơn trên con đường tầm linh.

Để minh họa điều này, có thể nói là khi con mới bước vào đường tâm linh thì con có ý tưởng là con phải đi đâu đó, con phải tới đâu đó. Ý tưởng này không phải là không có giá trị. Thày không nói nó sai, nhưng con có ý tưởng con phải tới đâu đó, do đó con bắt đầu tiến bước trên đường tâm linh. Giờ đây con đi tới một con sông và con có ý tưởng là con phải băng qua sông và con bắt đầu lội nước, nhưng sông sâu và chảy mạnh, và con càng lúc càng gặp thêm khó khăn. Mặc dù con có một cây gậy để tự chống đỡ, nhưng con càng lúc càng khó chống lại dòng nước chảy. Dòng nước là gì? À tự ngã của con nghĩ dòng nước đang chống lại con. À, có thể là tà lực đang cản bước tiến của con, nhưng thực ra đó là Ki-tô, đó là tâm Ki-tô. Tới lúc con tới điểm phải quyết định: con sẽ dùng tất cả sức mạnh của mình để cưỡng chống dòng chảy và tìm cách băng qua sông, hay con quy hàng và xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống?

Có những người đã đi trên con đường tâm linh mấy chục năm nhưng không nắm bắt chọn lựa này, không sẵn lòng chọn lựa. Họ vẫn còn đang chống cự và nhiều người trong họ không thể hiểu: Tại sao tôi không đạt kết quả? Tại sao tôi vẫn đau khổ? Tại sao tôi vẫn bị căng thẳng? Tại sao tôi càng ngày càng căng thẳng khi tôi tiến xa hơn trên con đường tâm linh? Lý do là vì con chưa quyết định buông bỏ nỗ lực của tự ngã muốn kiểm soát con đường tu. Thay vào đó, con cần quy hàng tâm Ki-tô.

13.9. Quy hàng là chìa khóa đưa đến quả vị Ki-tô

Bây giờ chúng ta trở lại trường hợp thường ngày trong đó con gặp người này người kia, có một hoàn cảnh được quy định, có một số kết quả có thể xảy ra, thì con cần làm gì để biểu hiện kết quả tốt nhất? À, câu trả lời tùy thuộc con định nghĩa thế nào là kết quả tốt nhất, vì tự ngã có một định nghĩa và tâm Ki-tô thì có một định nghĩa khác. Nếu con vẫn bị kẹt trong ý muốn kiểm soát của tự ngã, thì con muốn biểu hiện một kết quả. Nếu con quy hàng Ki-tô, con sẽ biểu hiện kết quả cao nhất có thể có trong hoàn cảnh đó. Kết quả này có thể không phải là cái tự ngã muốn.

Con có thấy điều thày muốn nói ở đây chăng? Quy hàng là chìa khóa. Con không thể suy nghĩ để đi vào tâm Ki-tô. Con có thể quy hàng để đi vào nó. Con có thể xuôi chảy theo nó. Để quy hàng con cần buông bỏ ý muốn kiểm soát, vì con sẽ không biết bằng tâm vỏ ngoài Dòng sông sự Sống sẽ dẫn con tới đâu.

Có rất nhiều trên con đường tâm linh, không phải chỉ riêng đệ tử chân sư thăng thiên và trong mọi truyền thống tâm linh, đã tìm cách kiểm soát con đường tu của họ. Họ định ra một mục đích – bất cứ gì truyền thống tâm linh của họ đã định ra như mục đích. Họ đã định ra cách để đạt mục đích và họ đã quyết định bằng tâm vỏ ngoài dàn xếp cuộc đời của họ để giúp họ theo từng bước đường thẳng dẫn tới mục đích. Nhiều người đã làm vậy suốt mấy chục năm. Một số đã làm vậy suốt nhiều kiếp sống và họ không hiểu tại sao họ vẫn chưa đạt mục đích, nhưng lý do là vì họ vẫn chưa buông bỏ ước mơ xem đường tâm linh như một đường thẳng.  

13.10. Đường tâm linh có theo đường thẳng chăng?

Giờ đây, một lần nữa con có thể nói, như một số thày khác đã nêu ra: “Nhưng Lanto, phải chăng thày đang mâu thuẫn với tất cả những gì thày đã nói với chúng con, là có một con đường tâm linh? Phải chăng thày nói con đường tâm linh không theo đường thẳng? Vậy 144 tầng tâm thức là gì? Và con đường tự điều ngự là gì, khi ta đi từ Tia thứ Nhất ở tầng 48 và dần dần tiến lên tầng 96? Đó không phải là một tiến triển theo đường thẳng sao?

Đúng, con có thể nhìn đó là một tiến trình đường thẳng với một số bược được quy định rõ rệt, nhưng chìa khóa để tiến từ tầng 48 lên tầng 49 là gì? Chìa khóa là thấy một ảo tưởng và buông bỏ ảo tưởng đó. Chìa khóa để tiến từ một tầng lên tầng kế tiếp là buông bỏ, không phải là kiểm soát, không phải dùng sức mạnh. Con không thể dùng sức mạnh để đi từ tầng 48 lên tầng 49. Con có thể dùng sức mạnh để ép mình đi từ tầng 48 xuống tầng 47, tầng 46, tầng 45, và xuống mãi đến tầng thấp nhất trên trái đất. Con có thể dùng sức mạnh trong hướng đi đó, nhưng con không thể dùng sức mạnh để lên thiên đàng. Con chỉ có thể vào vương quốc khi con trở nên như trẻ thơ.

Trẻ thơ làm gì? Chúng chỉ xuôi chảy theo dòng đời. Chúng chỉ quy hàng. Chúng không tìm cách kiểm soát cuộc đời của chúng. Chúng sống với tâm thái chơi đùa. Con không thể đi quá tầng 96 mà không buông bỏ ý muốn kiểm soát, ý muốn kiểm soát của tự ngã. Lẽ tất nhiên, con không thể buông bỏ ý muốn kiểm soát của tự ngã nếu con chưa chữa lành chấn thương nhập đời, vì chính chấn thương này đã tạo ra nơi con ý muốn kiểm soát để con tránh chấn thương đó xảy ra lần nữa.

Như các thày đã giảng, con bị chấn thương nhập đời khi con mới tới trái đất. Con sẽ không bao giờ bị chấn động như lần đầu tiên đó. Con sẽ không bao giờ trải nghiệm một chấn thương tương tự. Tự ngã đang tìm cách ngăn ngừa một chuyện quả thực không thể xảy ra nữa. Chỉ khi con thấy điều này, thấy ảo tưởng đã khiến con tạo ra ngã nguyên thủy, ngã gốc thì con không thể buông bỏ nó. Con không thể quy hàng. Con không thể tin rằng tâm Ki-tô quả thực sẽ mang con lên cao hơn.

13.11. Con không để dùng sức mạnh để đạt quả vị Ki-tô

Con có thấy chăng? Con có bắt đầu thấy là minh triết cao hơn của tâm Ki-tô là nắm bắt sự thật tâm Ki-tô là tâm hợp nhất, hợp nhất con với cội nguồn của con, với đấng Sáng tạo, với cái ta cao của con, với các chân sư thăng thiên trên con? Con có bắt đầu thấy là không có sức mạnh trong tiến trình này? Con quả thực không thể chiếm thiên đàng bằng võ lực, như Giê-su đã từng cảnh báo những ai muốn làm chuyện này. Giê-su đã ám chỉ sa nhân qua câu đó vì họ tin rằng họ có thể dùng sức mạnh để xông vào thiên đàng. Không, con có thể dùng sức mạnh để ra khỏi hợp nhất. Con không thể dùng sức mạnh để xông trở về hợp nhất.

Con hãy hình dung một sợi dây thun, một sợi dây thun dài mà con đã cột vào một thân cây. Giờ đây con nắm sợi dây và bắt đầu bước đi, và khi làm vậy thì con kéo dãn sợi dây, và càng lúc con càng dãn nó ra nhiều hơn chặt hơn. Con đang dùng sức mạnh để rời cây của sự sống. Con cần làm gì để trở về cây của sự sống? Con có cần dùng càng lúc càng nhiều sức mạnh thêm chăng? Không đâu, con chỉ buông thả và sợi dây thun sẽ kéo con trở lại. Ấy, đấy chính là tâm Ki-tô. Con buông bỏ sức mạnh, và tâm Ki-tô kéo con trở về. Đấy là hàng phục trở về hợp nhất.

Con không thể dùng sức mạnh để xông vào hợp nhất. Con có thể dùng sức mạnh để đi vào tách biệt, đi vào những lớp càng ngày càng sâu của tách biệt, nhưng con không thể dùng sức mạnh, con không cần dùng sức mạnh để đi vào hợp nhất. Con chỉ quy hàng vào hợp nhất, và đây là minh triết cao nhất. Tâm vỏ ngoài, tâm đường thẳng, tâm tự ngã, tâm rắn không tin những gì thày đang nói ở đây: “Không, không, đây không phải là minh triết cao nhất – có một cách, có một công thức bí mật, có một hòn đá hóa chì thành vàng, có một thủ tục, có một nghi lễ trong một ngôi đền ở đâu đó giúp bạn dùng sức mạnh để đi vào hợp nhất.”

13.12. Con không thể đạt quả vị Ki-tô như một sinh thể tách biệt

Nếu con bước lui lại thì con thấy là tự ngã không muốn hợp nhất. Tự ngã muốn kiểm soát trong cương vị một sinh thể tách biệt. Làm sao một sinh thể tách biệt có thể vào hợp nhất? Khi tự ngã nghe nói về quả vị Ki-tô thì nó nghĩ: “À, đây là công thức bí mật mà tôi đang tìm kiếm. Khi tôi đạt quả vị Ki-tô thì tôi sẽ làm chủ tình hình.” Con thấy chăng, con không thể đạt quả vị Ki-tô như một sinh thể tách biệt. Rất nhiều đệ tử đã không hiểu điều này. Họ nghe nói về quả vị Ki-tô, họ vẫn thấy họ như một sinh thể tách biệt, và họ nghĩ: “À, tôi có thể đi con đường dẫn tới quả vị Ki-tô và tôi sẽ tới tầng tối hậu, thành đạt tâm linh tối hậu, như một sinh thể tách biệt và sau đó tôi sẽ thăng thiên như một sinh thể tách biệt.”

Đây là điều con nghĩ khi con ở dưới tầng 96, khi con chưa vượt qua khai ngộ rằng: Đúng là con có thể đi từ tầng 48 lên tầng 96 như một sinh thể tách biệt, tách mình ra khỏi tâm thức đại chúng, nhưng con không thể đi quá tầng 96 khi con coi mình như một sinh thể tách biệt. Con chỉ làm được khi con buông bỏ ý niệm tách biệt, mong muốn kiểm soát, và trở nên sẵn sàng trôi theo Dòng sông sự Sống, theo các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau.

Con hãy suy ngẫm hình ảnh con đang tìm cách băng qua sông và chống trả dòng nước, và con thấy sự phù phiếm của việc mình làm, con buông bỏ, con quy hàng, và con xuôi chảy theo dòng sông. Con làm cách nào? Vẫn còn một phần của tâm con nghĩ rằng: “À, giờ đây tôi đã làm điều mà anh chàng Lanto này nói, tôi đã quy hàng. Từ nay trở đi, mọi chuyện sẽ phải trở nên đẹp như tranh, tuyệt vời, lý tưởng.” Con thấy chăng, con vẫn ở trên trái đất, con vẫn ở trên một hành tinh phi tự nhiên, ở một nơi mà các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau ở một mức thấp hơn rất nhiều so với trên một hành tinh tự nhiên. Ngay cả khi con quyết định xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống sẽ vẫn còn một số thách đố, vẫn còn hoàn cảnh khó khăn, vẫn còn hoàn cảnh mà con không có được kết quả mà con mong muốn.

13.13. Là Ki-tô khong có nghĩa là cuộc đời lý tưởng

Con làm gì khi con hòa điệu với tâm Ki-tô? À, điều này không có nghĩa là con không cố gắng, nhưng khi một hoàn cảnh không xảy ra như con muốn, thì con không than phiền, con không rên rỉ, con không chống cự, con không phân tích và nghĩ đáng lẽ mình phải làm gì khác. Con chỉ xuôi chảy theo kết quả. Con chấp nhận đó là kết quả duy nhất có thể có trong hoàn cảnh đó, và thay vì tìm cách bám lấy một cành cây lồi ra khỏi bờ sông, con chỉ tiếp tục xuôi chảy. Con lại lấy quyết định xuôi chảy với hoàn cảnh như nó là, và sau đó đi tới một kết quả tốt hơn. Con luôn luôn xuôi chảy, con tìm ra thăng bằng giữa cố gắng và trong một số hoàn cảnh, chấp nhận kết quả và quy hàng dòng chảy. Con không tìm cách ép uổng dòng chảy, và đây là chìa khóa để đạt được minh triết của tâm Ki-tô.  

Một lần nữa, tâm Ki-tô không tìm cách đạt được kết quả lý tưởng trong một hoàn cảnh, nó tìm cách giúp con tiếp tục xuôi chảy, bởi vì khi con xuôi chảy thì con đạt được tầng tâm thức cao hơn. Ta có thể nói là con leo từ tầng 48 lên tầng 96, con phải gắng sức vì khi leo lên con phải chống lại trọng lực của tâm thức tập thể. Ở tầng 96, và từ tầng 96 đến tầng 144, con không leo nữa mà con xuôi chảy.

Trên trái đất một dòng sông chảy xuống phía dưới, nhưng Dòng sông sự Sống không ở trên trái đất, nó không từ trái đất mà ra, và nó tuôn chảy lên trên. Như thày có nói, từ tầng 48 đến tầng 96, con cần buông bỏ ở mỗi bước, do đó ta có thể nói là ngay lúc đó con cũng xuôi chảy lên trên. Với tâm vỏ ngoài thì có vẻ như con cần nỗ lực để chống lại sức kéo của tâm thức thập thể, nhưng điều có thể xảy ra, và một số quả thực đã làm được, là con hòa điệu với dòng chảy ngay cả khi con đi từ tầng 48 lên tầng 96.

Các con yêu dấu, thày đã trao cho các con điều thày muốn trao, và thày, như các chân sư khác, cảm ơn các con đã cho thày cơ hội nói lên trong cõi vật lý, và qua sự tham dự của các con ở đây, lời nói của thày đi vào tâm thức tập thể, và tác dụng được các con nhân lên gấp bội. Con thấy là ngay ở đây, hoàn cảnh là gì khi các con lắng nghe bài truyền đọc này? Có phải chăng là các con chỉ thụ động lắng nghe? Không đâu. Chúng ta đang cùng nhau tạo nên một nhân duyên ảnh hưởng toàn thể hành tinh, chúng ta đang cùng nhau tạo nên một xung lực ảnh hường các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau của hành tinh, của tâm thức tập thể, và qua đó nâng nó lên, tạo một lực kéo nó lên.

Xung lực đó có ảnh hưởng được toàn bộ tâm thức tập thể chăng? Ấy, nó quả thực có ảnh hưởng, nhưng nó sẽ có tác dụng lớn hơn trên những cá nhân có thể hòa điệu với nó. Như các thày có nói, do nhân duyên mà chúng ta đã tùy thuộc lẫn nhau tạo ra, sẽ có những người bỗng nhiên thức tỉnh và thấy một điều gì mà họ đang khó thấy, mà họ trước đó không thể thấy. Giờ đây thì họ nói: “Ồ, chuyện này quá hiển nhiên, vì sao tôi không thấy được trước kia? Bây giờ thì tôi có thể chuyển sang một hướng khác.” Đây là cách các con, như những người tâm linh, có tác động lớn nhất.

Lẽ tất nhiên, điểm khó khăn là con có thể sẽ không bao giờ biết các người đó là ai, con có thể sẽ không giờ gặp họ. Nhưng, có phải chăng là minh triết cao nhất của tâm Ki-tô là con không cần biết tác động mà con đang có trên các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau trên hành tinh này? Con chỉ biết là con đã có một tác động, và do đó đã bõ công con có mặt ở đây, là Ki-tô trên trái đất trong đời sống thường ngày.

Tới đây thì thày niêm các con trong ngọn lửa của minh triết phân biện mà thày cầm giữ cho trái đất. TA LÀ Lanto.

11 | Làm sao khắc phục căng thẳng trên con đường tâm linh

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Portia qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Portia. Điều thày muốn nói tới ở đây là một hiện tượng mà các thày thường quan sát thấy nơi người tâm linh, không riêng gì trong các phong trào chân sư thăng thiên nhưng cũng xảy ra trong nhiều phong trào khác nếu không nói là tất cả các phong trào tâm linh. Ấy là hiện tượng con ở đây, con sống cuộc đời theo cách con được dạy dỗ. Con có thể có một số vấn đề con phải đương đầu hoặc con có thể sống một cuộc đời tương đối bình thường nhưng con cảm thấy có gì đó thiếu thốn. Sau đó con tìm thấy một giáo lý tâm linh, một vị thày tâm linh, một phong trào tâm linh và con quyết định gia nhập phong trào đó. Con quyết định sẽ hết sức nỗ lực học hỏi giáo lý, áp dụng các pháp thực tập, thậm chí có thể là con thay đổi cuộc sống mình, rời nơi con đang sống để gia nhập một cộng đồng tâm linh như nhiều người trên thế giới đã làm. 

Sau khi con đã quyết định dấn thân vào con đường tâm linh, con thường trải qua một giai đoạn mà các thày gọi là giai đoạn trăng mật khi mọi chuyện đều tuyệt vời. Con quả thực yêu say đắm sự chú tâm mới đến tâm linh trong cuộc sống, con cảm thấy hứng khởi với cuộc sống, với tương lai của mình, con cảm thấy lúc nào con cũng đang khám phá những điều mới lạ. Con hy vọng một ngày kia sẽ đạt được mục tiêu nào đó được quy định trong phong trào tâm linh của mình và con rất lạc quan về tương lai.

11.1. Khi con người bị căng thẳng về tăng triển tâm linh

Rồi sau đó một thời gian (có thể là sau vài tháng, hay vài năm hay với một số người là vài thập niên) có một sự xoay chuyển từ từ, hay cũng có thể là một sự xoay chuyển đột ngột khiến con trở nên càng ngày càng căng thẳng. Giống như tâm thái ngây thơ của giai đoạn đầu dần dà phai mờ và bây giờ con trở nên nghiêm trang hơn rất nhiều. Trong nhiều trường hợp, những người tâm linh nghĩ rằng thái độ nghiêm trang chứng minh họ quyết chí hơn trên con đường tâm linh, họ xem nó nghiêm trọng hơn, họ nỗ lực nhiều hơn, họ quyết tâm nhiều hơn. Chuyện thực sự xảy ra là họ trở nên căng thẳng.

Lúc đầu, khi đi vào tâm linh con cảm thấy có niềm vui, con cảm thấy mình được một cơ hội, con như một người thơ ngây trông ngóng tương lai. Nhưng sau một thời gian, con trở nên căng thẳng, con trở nên nghiêm trang, mọi chuyện đều có vẻ rất ư nghiêm trọng, con có thể phạm lỗi lầm, con có thể không vượt qua các thử thách. Có thể là con không đáp ứng một số đòi hỏi nào đó, đây có thể là đòi hỏi từ bên ngoài do vị thày hay tổ chức quy định hay là đòi hỏi được quy định trong nội tâm. Con trở nên căng thẳng, con bắt đầu cảm thấy không thỏa mãn, có thể con cảm thấy con không đáp ứng được các chờ mong, các đòi hỏi hay tiêu chuẩn, có thể con cảm thấy những người khác không đáp ứng được các điều này. Có thể con cảm thấy con không tiếp cận được những người mà con nghĩ con phải tiếp cận, con không thu hút được người mới vào nhóm hay phong trào của con và bỗng nhiên có một cảm giác căng thẳng nào đó len lỏi vào nội tâm con.

Giờ đây một lần nữa, như các thày đã nói rất nhiều lần, các thày không trách cứ các con chút nào về chuyện này. Các thày không có ý nói điều này không được xảy ra. Nó xảy ra cho đại đa số người tâm linh, và đệ tử chân sư thăng thiên không là ngoại lệ. Trong một số trường hợp, có thể họ bị nặng hơn vì họ nghĩ họ đã tìm ra giáo lý tâm linh cao nhất do đó họ phải sống đúng theo tiêu chuẩn cao nhất. Điều thày muốn trình bày ở đây là tại sao chuyện này xảy ra.

11.2. Các ngã tiềm thức pha màu cách con tiếp cận con đường tâm linh như thế nào

Giờ đây, các thày đã có nói về vấn đề này rồi vì, như các thày đã giải thích, khi con lần đầu tìm ra một giáo lý hay phong trào tâm linh thì cái nhìn của con về đời sống bị pha màu bởi tự ngã, bởi các ngã tiềm thức. Chuyện xảy ra là trong giai đoạn đầu có quá nhiều điều mới lạ xảy ra cho con, con tiếp cận quá nhiều giáo lý mới, nên trong thời gian ngắn đó tự ngã, các ngã tiềm thức, mất ảnh hưởng trên tâm con vì con quá phấn khởi và tuôn chảy theo niềm phấn khởi đó, khám phá những điều mới lạ. Giống như con đang yêu say đắm một người tình khi mọi sự đều mới lạ và hào hứng và con cảm thấy lạc quan về tương lai.

Rồi một lúc sau, các ngã dần dần bắt đầu tìm ra cách ảnh hưởng con trở lại và chúng bắt đầu pha màu một cách rất vi tế cách con tiếp cận con đường tâm linh. Các ngã này làm gì? Ấy, chúng làm điều duy nhất chúng có thể làm và như Mẹ Mary đã giải thích, tự ngã đi tìm điều bất khả thi là bù đắp cho sự mất nối kết với cái ta cao. Chuyện có thể xảy ra là dần dần con lấy tìm cầu bất khả thi này của tự ngã và chuyển nó vào giáo lý tâm linh, vị đạo sư và đường tu của con. Giờ đây, con nghĩ là phong trào, giáo lý đã quy định con đường tu này, các yêu cầu này mà con phải sống theo và con không chắc con có thể làm được.

Thực ra đấy là trực giác của con chứ không phải các nỗi sợ của con. Ấy, cũng có thể đó là những nỗi sợ của con nhưng thường khi đó là trực giác tìm cách nói với con là con không thể đáp ứng các yêu cầu vỏ ngoài này. Tại sao? Bởi vì tự ngã tìm cách làm gì? Nó tìm cách lấy điều gì đó trong thế gian này và dùng nó để bù đắp cho sự mất nối kết với Hiện diện TA LÀ. Nhưng vì không có gì trong thế gian có thể thay thế nối kết đó, nên trực giác tìm cách nói cho con biết là dốc tâm làm theo các quy luật, tiêu chuẩn và yêu cầu vỏ ngoài sẽ không thực sự dẫn con tới nơi con hy vọng tới.

Khi con cố gắng làm tròn tất cả những yêu cầu vỏ ngoài để tạo một cảm giác bên trong con, cảm giác kết nối với Hiện diện TA LÀ, thì con sẽ trải nghiệm, thường là sau một thời gian (trong một số ít trường hợp sau một thời gian dài) là con không thành công. Con không đạt những yêu cầu, con không đạt những kết quả con nghĩ mình sẽ đạt được. Điều này tạo nên căng thẳng và nhiều người trong các con nghĩ: “Tôi phải nỗ lực hơn nữa. Tôi phải đọc chú nhiều hơn, tôi phải dậy sớm hơn để đọc chú, tôi phải làm đúng tất cả những pháp tu vỏ ngoài.” Con bước lên cỗ máy chạy và như con biết về các cỗ máy chạy, con có thể chạy càng ngày càng nhanh nhưng con chẳng đến đâu cả.

11.3. Nhận ra nguyên nhân căng thẳng

Các thày mong muốn thấy gì nơi các đệ tử chân sư thăng thiên của các thày trong đợt truyền giáo này? Nếu con rơi vào tình trạng căng thẳng, cảm thấy không thỏa mãn, cảm thấy không tới đích, không đạt kết quả mà con nghĩ đáng lẽ con phải đạt, thì các thày mong muốn thấy con thoát khỏi trạng thái này. Các thày muốn con lấy lại cảm nhận bên trong là con đường tu hào hứng, con đang liên tục tiến lên, con đang liên tục bước những bước làm con cảm thấy thoải mái hơn với chính mình và đường tu. Cách duy nhất làm được điều này là gì? Đó là giải quyết những ngã tiềm thức đang pha màu cách con nhìn đường tu.

Nếu con thấy mình trong tình trạng này, cảm thấy mất niềm vui mà trước đây con có, thì con hãy sẵn lòng nhìn vào tâm tiềm thức của mình. Chuyện này không khó như con nghĩ, con chỉ cần sẵn lòng công nhận: “À, tôi đã mất đi phần nào sự ngây thơ, tôi cảm thấy căng thẳng nhưng tại sao thế? Tôi đang thật sự có những cảm xúc gì? Đằng sau những cảm xúc đó là những ý nghĩ gì? Điều gì đã khiến tôi bị rơi vào tình trạng khó khăn, khó xử, thế bí này trong đó tôi bị dằng co nhiều hướng và do đó tôi không thể nào bình an được?”

Con có thể gỡ rối thế bí này, con dùng các dụng cụ, các giáo lý các thày đã cho con về các ngã tiềm thức và con tới điểm con có thể thấy cơ chế vận hành của chúng. Vì các ngã dựa trên nhị nguyên, trước tiên chúng không thể dẫn con tới mục tiêu nhưng đồng thời chúng cũng kéo con về những hướng đối nghịch, và đây là nguyên do của căng thẳng. Khi con thấy hai ngã đang kéo con về hai hướng đối nghịch thì con có thể nhìn ảo tưởng đằng sau mỗi ngã và tới điểm nhận ra đó thật sự chỉ là một ảo tưởng, nó không thật, đấy là tự ngã đang tìm cách quy định con đường quả vị Ki-tô nhưng chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra. Làm sao con tới điểm nhận ra điều này? Ấy, bằng cách con với tới tâm Ki-tô đang ở ngay đây với con, nó không ở tuốt trên cao ngoài kia. Tâm Ki-tô không ở xa con, tâm Ki-tô luôn ở bên trong con, vương quốc Thượng đế ở bên trong con, do đó vương quốc Thượng đế không tới con được qua việc tuân thủ các quy luật vỏ ngoài, nó tới con qua việc quan sát các ngã nội tại.

11.4. Một cái nhìn đen trắng về quả vị Ki-tô

Có một điểm vi tế mà con có thể cần chiêm nghiệm, do các đệ tử có khuynh hướng (xảy ra nhiều hơn với các đợt truyền giáo trước nhưng cũng xảy ra ngay cả trong đợt truyền giáo này) nhìn tâm Ki-tô với cái nhìn đen trắng, cách nghĩ đen trắng của tự ngã. Họ nghĩ, như các thày có đề cập: Nếu con là Ki-tô, con luôn luôn đúng, con có sự thật tối hậu sẽ giải quyết bất kỳ xung đột nào.

Con thấy chăng, có chút căng thẳng nào trong tâm Ki-tô chăng? Có bao giờ tâm Ki-tô bị căng thẳng chăng? Tại sao nó bị căng thẳng chứ? Nó trải nghiệm hợp nhất với đấng Sáng tạo, với nguồn gốc, vậy tại sao nó cảm thấy căng thẳng chứ? Tâm Ki-tô có cần bất cứ gì từ Trái đất chăng? Không đâu. Tâm Ki-tô có thể cần gì từ Trái đất? Nó có thể cần gì từ hình tướng? Nó có thể cần gì từ vật chất? Tâm Ki-tô kết nối với nguồn gốc của mọi sự sống, với chính đấng Sáng tạo. Tâm Ki-tô không bao giờ có thể cảm thấy thiếu thốn, không bao giờ có thể cảm thấy căng thẳng. Do đó, khi con bắt đầu neo trụ vào tâm Ki-tô, con có thể dần dần khắc phục những ngã khiến con cảm thấy căng thẳng về con đường tâm linh.

Con có thể tới điểm thấy là những ngã này, chúng muốn con căng thẳng vì hai lý do. Trước tiên, khi con căng thẳng, khi con phân rẽ trong chính con, thì con phú cho năng lượng một độ rung dựa trên sợ hãi sẽ nuôi béo các ngã. Chúng chỉ có thể hấp thụ ánh sáng dưới một tầng rung động nào đó và do thế chúng cần con căng thẳng để nuôi béo chúng. Điều khác là khi con căng thẳng thì con đang làm gì? Con tập trung vào chuyện bên ngoài. Ôi, có con đường tu này, tôi phải theo nó, có tất cả những yêu cầu này, có những người khác, có vị đạo sư. Có mấy chân sư thăng thiên ở trên kia đang đòi hỏi tôi này nọ, họ đang nhìn xuống tôi mỗi giây và coi xem tôi có đạt thử thách không. Tôi phải đạt thử thách, nhưng tôi không biết nội dung của thử thách, vậy thì làm sao tôi đạt được? Ít nhất, nếu tôi lo lắng về chúng thì trông có vẻ là tôi nghiêm túc, tôi là một đệ tử nghiêm túc, nghiêm túc hơn các đệ tử khác đang không căng thẳng.

Con thấy chăng hậu quả của thái độ này? Đó là con nhìn ra “ngoài kia,” con nghĩ là khi con tìm được điều gì đó ngoài kia, khi con đạt điều gì đó ngoài kia, thì con sẽ cảm thấy bình an, thì con sẽ mãn nguyện. Chuyện này có bao giờ xảy ra được chăng? Như các thày đã nói, mãn nguyện tối hậu là trải nghiệm con kết nối với Hiện diện TA LÀ của con, với tâm Ki-tô, với các chân sư thăng thiên. Khi con còn nhìn ra bên ngoài thì làm sao con khám phá được Vương quốc Thượng đế bên trong con? Làm sao con nói được với Ki-tô: “Chuyện này không quan trọng với con, nó chẳng là gì với con, con sẽ theo thày?”

11.5. Cái Ta Biết có cảm thấy căng thẳng không?

Khi con thấy điều này, khi con thấy các ngã đang cố hết sức lôi kéo sự chú ý của con khỏi điều duy nhất có thể cho con điều con cần thì con có thể bắt đầu tách con, tách Cái Ta Biết ra khỏi chúng. Con có thể tự hỏi một câu hỏi giản dị: “Căng thẳng của tôi nằm đâu? Nó ở trong cái Ta Biết không?” À, một số người nghĩ nó ở đó vì họ quá đồng hóa với các ngã vỏ ngoài nên họ nghĩ rằng tôi, cái Ta Biết, tôi là một đệ tử chân sư thăng thiên rất ngoan và do đó, tôi phải sống theo những yêu cầu vỏ ngoài đó.

Con thấy đấy, các thày đã nói gì nhiều lần về cái Ta Biết? Cái Ta Biết có là thân vật lý của con không? Để giúp các con tỉnh ngủ: các con hãy trả lời đi! Cái Ta Biết có là thân vật lý của con không? Không. Cái Ta Biết có là thân xúc cảm của con không? Không. Cái Ta Biết có là thân lý trí của con không? Không. Cái Ta Biết có là thân bản sắc của con không? Không. Cái Ta Biết là hơn nữa. Nếu cái Ta Biết là nhận biết thuần khiết, nhận biết trung hòa, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ gì trên Trái đất thì tại sao cái Ta Biết lại căng thẳng chứ?

Con thấy đó, cái Ta Biết không thể căng thẳng. Vậy tại sao con cảm thấy căng thẳng? Đó là vì cái Ta Biết trải nghiệm căng thẳng xuyên qua một ngã tách biệt. Ngã cảm thấy căng thẳng vì nó dựa trên nhị nguyên và các thày đã nói gì? Tâm thức nhị nguyên có một sự căng thẳng mang tính chất sống chết. Không ai cảm thấy căng thẳng nhiều hơn các sa nhân. Khi con nhận ra điều này, con có thể thấy con không bị căng thẳng. Con không thể bị căng thẳng. Con chỉ có thể trải nghiệm nó và khi con thấy căng thẳng chỉ là một trải nghiệm, con có thể tự hỏi: “Tại sao tôi muốn có trải nghiệm đó?”

Rất có thể con chưa bao giờ nghĩ về vấn đề như thế và tâm vỏ ngoài của con sẽ nói, các ngã sẽ nói: “Ồ, không phải bạn chọn trải nghiệm đó đâu. Đời sống trên Trái đất là như thế. Bạn nhìn tất cả những điều kiện bên ngoài này đi, nhìn tất cả những vấn đề này, làm sao bạn có thể hiện thân trên Trái đất mà không bị căng thẳng?” Thật dễ để tin cuộc sống trên Trái đất, trên một hành tinh phi tự nhiên rất khó khăn, Trái đất rất dày đặc, có rất nhiều xung đột cho nên chỉ có thể căng thẳng thôi.

Các thày nhìn nhận là chúng ta đều đã phần nào cảm thấy căng thẳng vì sống trên một hành tinh phi tự nhiên, nhưng dù vậy con không cần phải cảm thấy căng thẳng. Cái Ta Biết không cần phải cảm thấy căng thẳng khi con nhận ra không gì trên Trái đất có thể chạm tới con khi con tiếp xúc với nhận biết thuần khiết, nhận biết trung hòa. Nếu con trung hòa, thì cái gì có thể khiến con căng thẳng? Cái gì có thể kéo con theo hai hướng đối nghịch? Căng thẳng là gì? Con lúc nào cũng bị lôi kéo tới những hướng đối chọi, ít nhất hai hướng khác nhau, có thể nhiều hơn thế nếu con có nhiều ngã đang lôi kéo con. Cho nên con có thể bắt đầu tự đặt cho mình những câu hỏi này: “Tâm Ki-tô có bao giờ căng thẳng không? Hiện diện TA LÀ của tôi có bao giờ căng thẳng không? Tại sao cái Ta Biết lại căng thẳng?” Con có thể nhận ra là nó không căng thẳng.

11.6. Các chân sư thăng thiên có căng thẳng không?

Giờ đây, có thể ngã vỏ ngoài trong một số trong các con nói: “Nhưng chẳng phải các chân sư thăng thiên cũng căng thẳng à? Chẳng phải các thày muốn Trái đất trở nên một hành tinh tự nhiên sao? Chẳng phải các thày muốn thời Hoàng kim của Saint Germain được biểu hiện? Chẳng phải các thày muốn tôi biểu hiện quả vị Ki-tô, đọc tất cả những bài chú đó, giúp nâng cao tâm thức tập thể?” Các thày đã thấy trong các đợt truyền giáo trước, các đệ tử chân sư thăng thiên quá tập trung vào việc thay đổi thế giới nên họ thật sự nghĩ căng thẳng của họ phát xuất từ các thày, các thày là những người tạo căng thẳng đó lên họ, muốn họ làm tất cả những chuyện đó, muốn họ làm nhiều hơn những gì có thể làm được. Đây không phải là sự thực.

Con hãy tự hỏi: “Tại sao một chân sư thăng thiên lại bị căng thẳng?” Con thăng thiên bằng cách buông bỏ hết mọi dính mắc với bất kỳ điều gì trên Trái đất. Điêu này nghĩa là gì? Nó có nghĩa là trong tâm các thày không nhìn Trái đất và nghĩ nó có những khiếm khuyết vĩ đại, có một khoảng cách vĩ đại. Các thày nhìn các hoàn cảnh trên Trái đất đang như thế nào. Các thày nhìn Thời đại Hoàng kim của Saint Germain như thế nào. Các thày nhìn sự khác biệt vĩ đại giữa hai hoàn cảnh đó và nhìn những con người, đặc biệt là các đệ tử của các thày, họ đang không chịu đọc hết các bài chú mà các thày muốn họ đọc để chúng ta thâu ngắn khoảng cách. Con nghĩ đó là cách các thày suy nghĩ nhưng các thày không suy nghĩ như vậy vì nếu các thày suy nghĩ như vậy thì các thày đã không thăng thiên, các thày sẽ vẫn còn đầu thai trên trái đất như các con. Con thấy chăng, quả đúng là các thày muốn Trái đất trở thành một hành tinh tự nhiên. Lẽ tất nhiên, đúng là các thày muốn Thời đại Hoàng kim của Saint Germain được hiển thị. Nhưng các thày không muốn các điều trên từ một cảm nhận thiếu hụt mà từ cảm nhận trôi theo Dòng sông sự Sống. Có một sự khác biệt vĩ đại ở đây và sự khác biệt là rung động, như các thày đã đề cập, đọc rung động như thày More đã nói.

Khi con nhìn sự việc với cảm nhận thiếu hụt thì con có một loại rung động đặc thù. Nó dựa trên sợ hãi, nó tạo căng thẳng, nó khiến con cảm thấy bị ám ảnh cưỡng chế tỷ dụ như con phải đọc chú và học giáo lý. Con có thể học cách đọc rung động đó. Con có thể nhận ra là loại rung động đó không đến từ tâm Ki-tô. Sau đó, khi con hòa điệu với tâm Ki-tô, sau khi con làm việc với các ngã, con sẽ trải nghiệm sự khác biệt giữa tâm Ki-tô và rung động thấp hơn này. Con có thể trải nghiệm rung động của một chân sư thăng thiên, như Chân sư More nói tới trải nghiệm tình thương vô điều kiện của các thày vì tất cả các thày đều có tình thương vô điều kiện. Thày có thể bảo đảm với con tình thương vô điều kiện thật sự vô điều kiện. Tình thương vô điều kiện của Chân sư More không vô điều kiện hơn tình thương vô điều kiện của thày bởi vì lẽ dĩ nhiên trong tình thương vô điều kiện không có nhiều mức độ, không có so sánh. Nó hơn tình thương mà con biết trên Trái đất và khi con trải nghiệm nó, con có thể bắt đầu giải thoát mình khỏi cảm nhận căng thẳng.

11.7. Nỗ lực mà không căng thẳng

Giờ đây có những người sẽ nói, ngay cả đệ tử từ các tổ chức chân sư thăng thiên trước đây: “Nhưng làm sao chúng con đủ điều kiện thăng thiên nếu chúng con không nỗ lực và nỗ lực nhiều? Nếu có khoảng cách giữa điểm con đang ở hiện nay và điểm con cần phải tới để đủ điều kiện thăng thiên, thì phải chăng điều hợp lý là con phải chạy nhanh hơn để rút ngắn khoảng cách trong thời gian còn lại của con trong kiếp đầu thai này?” Không, nghĩ vậy không hợp lý. Bởi vì nếu con nỗ lực, nếu con chạy nhanh, thì các việc đó dựa trên sự pha màu của tự ngã và của các ngã vỏ ngoài nghĩ rằng con phải đạt điều gì đó trong thế gian này.  

Làm thế không giúp con đến gần điểm thăng thiên của con. Các đệ tử trong các đợt truyền giáo trước tin như vậy vì họ không nhận được những giáo lý về tâm lý mà các thày trao truyền trong đợt truyền giáo này, về các khía cạnh sâu thẳm hơn của tâm lý. Chỉ qua việc giải quyết phần còn lại của tâm lý, qua việc khắc phục các ngã còn dính mắc những điều của thế gian, con mới thu ngắn khoảng cách và đủ điều kiện thăng thiên. Như thế ác quỷ của Mara, ông hoàng thế gian không nắm được gì trong con.

Con càng chạy nhanh, con càng tìm cách đáp ứng các yêu cầu vỏ ngoài, con càng nhìn bên ngoài ngã, con càng ít thời giờ và ít chú ý để giải quyết các ngã này. Các thày đã thấy có đệ tử chân sư thăng thiên trong nhiều thập niên đã dốc lòng dạy năm giờ sáng, đọc chú nhiều giờ đồng hồ rồi đi làm, rồi tối về đọc chú tiếp, sống theo một chương trình rất nghiêm ngặt. Đa số các người đó tiến bộ rất ít về hướng thăng thiên của họ, ngay cả sau khi bỏ nhiều thập niên dốc công tu tập vỏ ngoài như thế. Tại sao các thày cho phép chuyện này xảy ra? Các thày làm được gì khác khi con người không mở tâm ra để lắng nghe các thày từ bên trong? Bởi vì họ đã quyết định với tâm vỏ ngoài rằng nếu họ theo con đường vỏ ngoài mà họ quy định, hay họ cảm thấy các chân sư hay vị thày hay tổ chức đã quy định cho họ, thì họ bảo đảm sẽ hội đủ điều kiện để thăng thiên.

Như các thày đã giải thích, hội đủ các yêu cầu vỏ ngoài không phải là hội đủ điều kiện để thăng thiên. Con hội đủ điều kiện để thăng thiên khi con đứng ở cổng dẫn vào cõi thăng thiên, con quay lại nhìn Trái đất và cảm thấy hoàn toàn trung hòa. Không có gì trên Trái đất thu hút con, do đó con có thể nhìn Trái đất, nhìn quỷ Mara, nhìn ông hoàng thế gian: Họ không thu hút được con và con có thể quay người, theo nghĩa bóng, bước qua cổng và vào cõi thăng thiên. Con làm việc này hoàn toàn tự nguyện.

Các đệ tử chân sư thăng thiên mà thày đề cập tới, họ chủ yếu tin, dù họ không ý thức là họ tin như vậy, rằng thăng thiên không phải là một tiến trình tự nguyện dẫn con tới chọn lựa tối hậu muốn bỏ lại Trái đất đằng sau. Họ nghĩ thăng thiên, theo một cách hiểu, là cái gì áp đặt lên họ hay do chính họ ép họ. Thậm chí một số nghĩ các chân sư thăng thiên ép họ thăng thiên bởi vì cần một số người thăng thiên để nâng Trái đất lên. Con thấy đấy, trên Trái đất, trong tâm thức nhị nguyên. có thể áp đặt nhiều chuyện. Trong tâm Ki-tô, làm sao có thể có lực ép uổng?

Tâm thức Ki-tô mãn nguyện trong hợp nhất với đấng Sáng tạo của nó. Điều gì có thể ép uổng nó? Điều kiện nào trên Trái đất có thể ép uổng tâm Ki-tô? Thăng thiên là một chọn lựa hoàn toàn tự nguyện. Nó phải là một chọn lựa tự do bởi vì không có gì cuốn hút con phải phản ứng lại bất cứ gì trên Trái đất, cho nên con chủ yếu tuôn chảy vào trạng thái thăng thiên. Nó không phải là quyết định lớn lao, trọng đại, có tầm quan trọng cuồng đại. Nó đơn giản là kết quả tự nhiên của việc con đạt tới tầng tâm thức 144. Con đã quyết định bỏ lại đằng, cho chết đi vô số các ngã tách biệt, để người chết chôn kẻ chết của họ và con nói: “Điều ấy là gì với tôi? Con sẽ đi theo thày!” Cho nên, con chỉ thêm một chọn lựa nữa đưa con tuôn chảy vào cõi thăng thiên.

11.8. Ki-tô có muốn con người được cứu rỗi không?

Có một điểm nữa mà thày muốn thảo luận ở đây. Đây là một điểm vi tế. Nó có thể khiến con bối rối. Nếu thế thì đây thuộc một phần mục đích của các thày tại hội nghị này: khiến tâm vỏ ngoài bị bối rối. Ki-tô là gi? Ấy, con có thể nói, từ tầm nhìn của thày là Nữ thần Cơ hội, Ki-tô là cơ hội. Ki-tô cho con người cơ hội chọn lựa giữa cái thuộc về Ki-tô và cái thuộc về thế gian này. Cho tới ngày họ giáp mặt Ki-tô, con người không được cơ hội này vì trên một hành tinh phi tự nhiên đa số con người chưa bao giờ được gặp Ki-tô. Do đó họ hoàn toàn bị phủ kín trong sương mù, trong Maya, trong ảo tưởng nhị nguyên.

Một lần nữa, Ki-tô có mảy may mong muốn ép uổng con người chọn lựa đi vào hợp nhất chăng? Không đâu. Tại sao Ki-tô lại muốn thế? Vậy thì tại sao con lại muốn thế? Chuyện thường xảy ra trong các phong trào tâm linh, các nhóm tâm linh, các cộng đồng tâm linh là con có mong muốn tăng triển. Con có thể học cách đọc rung động đằng sau mong muốn này và thấy: Có phải vì con có một ngã tiềm thức nào đó mang tham vọng thấy cộng đồng hay phong trào của con tăng trưởng hay thấy một kết quả vật lý nào đó, vì ngã sẽ cảm thấy được xác chứng nếu càng ngày càng có nhiều người tham gia. Hoặc con mong muốn có chân lý Ki-tô tối hậu có thể thuyết phục tất cả mọi người, thức tỉnh tất cả mọi người và do đó khi con không thấy kết quả mọi người liên tục sáng ngộ, con cảm thấy chắc hẳn con đang làm điều gì sai?

Con thấy đấy, tất cả những gì con làm được là cho con người một cơ hội, con không chọn lựa cho họ được. Giê-du dùng ẩn dụ về người gieo hạt, một số hạt rơi trên đất cằn cỗi và không trổ, một số hạt khác bắt đầu mọc lên nhưng bị cỏ dại lấn át và một số rơi vào đất màu mỡ và mang lại lợi nhuận. Con làm gì khi con bắt đầu biểu hiện quả vị Ki-tô? Con cho con người một cơ hội. Con gieo hạt giống. Sau đó, con cần trả tự do cho các hạt giống và trả tự do cho con người muốn làm gì với các hạt giống đó.

Họ có tiếp nhận hạt giống không? Họ có nuôi nó trong tim họ và cho phép nó mọc và tăng triển? Hay tim họ là mảnh đất cằn nơi hạt Ki-tô không thể mọc được? À đấy không phải là chọn lựa của con vậy thì tại sao con căng thẳng về phản ứng của người khác? Một lần nữa, nếu con hòa điệu với Ki-tô thì con thấy Ki-tô chỉ muốn biểu đạt. Ki-tô không muốn biểu đạt để tạo một kết quả vật lý đặc thù, một kết quả đặc thù. Tâm vỏ ngoài của con có thể đặt nhiều chú tâm vào chuyện: À, chúng ta có nhóm tâm linh này và chúng ta muốn nó phát triển để nó càng ngày càng lớn hơn nhưng giờ đây chúng ta không thấy có sự tăng triển. Chúng ta đang làm gì sai? Chúng ta có thể làm gì khác? Con có thể bị căng thẳng về chuyện này, như các thày đã thấy có những người bị căng thẳng vì lý do này, không chỉ trong các phong trào chân sư thăng thiên nhưng trong nhiều phong trào tâm linh.

11.9. Bị căng thẳng vì kết quả bên ngoài

Con thấy đấy, Ki-tô không nghĩ như vậy. Ki-tô không đi tìm một kết quả bên ngoài đặc thù. Ki-tô chỉ muốn được biểu hiện và bất cứ gì con đã làm, bất cứ gì con đang làm trong nhóm tâm linh là con đang biểu hiện Ki-tô, ánh sáng Ki-tô. Đây là một trong những bí ẩn trên con đường tâm linh đã khiến nhiều người thất vọng, nhưng con chỉ thất vọng khi con chú tâm vào một kết quả vật lý đặc thù bên ngoài. Con thấy chăng, các con đang làm gì trong nhóm các con ở Hàn quốc? Các con đang biểu hiện ánh sáng Ki-tô và con có thể nói: “Chúng ta có thấy một kết quả đặc thù nào chưa? Bắc Hàn và Nam Hàn đã thống nhất chưa? Hai bên có tiền gần hơn tới thống nhất chăng? À, chúng ta chưa thấy dấu hiệu gì trong cõi vật lý. Nhóm chúng ta có phát triển nhiều như chúng ta mong muốn chăng?” Con thấy chăng, tâm Ki-tô không nhìn vào những kết quả đặc thù này. Tâm Ki-tô nhìn vào: Các con có gia tăng ánh sáng trong thể bản sắc, lý trí, tình cảm và vật lý của Hàn quốc và người dân Hàn không? Câu trả lời là: Có, các con có gia tăng ánh sáng và sự gia tăng ánh sáng này đã đem lại kết quả rồi và sẽ tiếp tục đem lại thêm kết quả. Có thể không phải là những kết quả đặc thù mà các con hy vọng, hay ít nhất chúng chưa xảy ra nhưng các con đừng vì vậy mà nản chí.

Thay vào đó, con sẵn lòng nhìn vào: “Chờ mong kết quả đặc thù của tôi đến từ đâu? Có thể chăng nó chịu ảnh hưởng của các ngã tiềm thức, bởi mong muốn của tự ngã muốn đạt điều gì đó trên thế gian này? Có thể chăng đó là vì sao tôi căng thẳng thay vì tuôn chảy với niềm vui nhận ra chúng tôi đã là cánh cửa mở cho biểu hiện của ánh sáng Ki-tô? Điều này đã đem lại kết quả và sẽ đem lại thêm kết quả, bất kể chúng tôi thấy hay không thấy kết quả trong cõi vật lý.”

Khi con hòa điệu với ánh sáng Ki-tô thì kết quả vật lý không quan trọng. Con nắm bắt chăng điều thày nói ở đây? Tự ngã nghĩ, các ngã tiềm thức nghĩ: “À, tôi muốn được toại nguyện, tôi muốn cảm thấy tôi đã làm được việc gì, tôi muốn cảm thấy tôi đã đóng góp điều gì và khi thấy những kết quả vật lý bên ngoài, tôi sẽ cảm thấy như vậy.” Điều thày nói với con là chìa khóa để con cảm thấy mãn nguyện là hòa điệu với ánh sáng Ki-tô và Ki-tô được thỏa nguyện khi được biểu hiện trong thế gian này, không phải là tạo ra những kết quả vật lý đặc thù. Khi con hòa điệu với ánh sáng Ki-tô, cảm thấy nó tuôn chảy qua con thì con khắc phục được căng thẳng và con có thể cảm thấy mãn nguyện khi con là cánh cửa mở.

Con có thể nhìn người sứ giả này, ông khởi sự năm 2002. Có bao nhiêu người đã tìm thấy giáo lý? Người đến người đi nhưng ông có nản lòng không? Không, vì ông cảm thấy sự biểu hiện giáo lý, sự biểu đạt ánh sáng, tự thân nó mang lại phần thưởng. Mãn nguyện đến từ bên trong. Con hãy suy ngẫm câu này. Con tìm gì? Mãn nguyện. Nó là gì? Đó là một cảm xúc bên trong, một cảm giác bên trong, một trải nghiệm bên trong. Trải nghiệm bên trong có thể đến từ đâu, nếu không phải là từ bên trong? Bên trong có gì? Có Vương quốc Thượng đế. Vương quốc Thượng đế là gì? Là tâm Ki-tô chỉ muốn tuôn chảy và được biểu hiện. Chẳng phải con đã làm vậy sao? Có, con đã làm vậy. Tại sao con không cho phép mình cảm nhận niềm vui và mãn nguyện và phần thưởng đã biểu hiện ánh sáng Ki-tô qua con? Con còn muốn gì hơn nữa? Có thể con muốn biểu hiện hơn nữa ánh sáng Ki-tô, nhưng con có thật sự cần thấy kết quả bên ngoài để cảm thấy mãn nguyện chăng?

Với điều này thày chào các con với lòng cảm ơn các con không những đã tổ chức hội nghị này mà còn tất cả các việc các con đã làm ở Hàn quốc và tất cả các việc mà các đệ tử toàn thế giới đã làm. Rất nhiều các con ở nhiều nơi trên thế giới có thể cũng cảm thấy: Chúng tôi có thật sự tạo nên thay đổi gì không? Có, các con đã tạo ra thay đổi. Nhiều người tâm linh khác cũng đã tạo ra thay đổi. Nhiều người không tự nhận là người tâm linh cũng đã đem lại thay đổi bằng cách cho phép ánh sáng Ki-tô được phần nào biểu hiện, bởi vì mỗi sự biểu hiện gia tăng lượng ánh sáng trong bốn tầng của vũ trụ vật chất trên Trái đất. Ánh sáng càng gia tăng, thì con người càng thấy rõ hơn, càng thức tỉnh hơn. Tất cả những chuyện này đều đóng góp vào sự biểu hiện Thời đại Hoàng kim của Saint Germain.

Thày hy vọng đã cho các con cơ hội khắc phục căng thẳng và đạt được cảm giác mãn nguyện và hỷ lạc nội tâm. THÀY LÀ Portia.

9 | Ki-tô luôn luôn Hơn Nữa

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên MORE qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên MORE, và thày lúc nào cũng LÀ HƠN NỮA.

Cốt lõi của Ki-tô là gì? Ki-tô luôn luôn hơn nữa. Trong mọi tình huống trên Trái đất, bất kể con giáp mặt chuyện gì, câu hỏi luôn luôn là: “Tôi có muốn hơn nữa chăng, hay tôi muốn tuân theo cái hiện hành?” Lúc nào ông hoàng thế gian, ác quỷ của Mara, cũng cám dỗ con tuân theo cái hiện hành.

Thông điệp vi tế là: “Cái hiện hành không thể hơn nữa, không được hơn nữa, không cần hơn nữa. Không thể nào có gì hơn cái hiện hành.” Thậm chí con thấy có người tuyên dương điều này, họ nói: “À, cái hiện hành là cái hiện hành, và không có lý do nào để tìm cách hơn nữa. Bạn giản dị phải chấp nhận cái hiện hành, và khi ấy bạn được tự do, bạn tỉnh thức. Bạn giác ngộ khi bạn không cố gắng trở nên hơn nữa.” Ấy con yêu dấu, câu nói bậy bạ này từ đâu ra? Chắc chắn là không đến từ tâm thày, và chắc chắn không đến từ tâm Ki-tô.

9.1. Tâm Ki-tô và mục đích của sự sáng tạo

Chức năng của tâm Ki-tô là gì? Con có thể trả lời: “Để kết hợp đấng Sáng tạo với tạo vật của ngài.” Đúng đấy, nhưng không phải chỉ có thế, còn hơn nữa. Bởi vì mục đích của đấng Sáng tạo là gì khi ngài tạo ra tạo vật của ngài, khi ngài tạo ra thế giới hình tướng? Đó là để gửi các nối dài của ngài, của Bản thể của ngài, vào thế giới hình tướng, nơi các nối dài này sẽ bắt đầu với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm, và dần dần nới rộng nó ra bằng cách trở nên hơn nữa. Mục đích của tiến trình này là gì? Để kéo các đốm lửa đó, các đốm lửa tâm linh phát xuất từ Bản thể đấng Sáng tạo, không hẳn là trở về bản thể đấng Sáng tạo, mà là kéo chúng về hướng tâm thức đấng Sáng tạo, để chúng có đủ khả năng tự thân trở thành các đấng sáng tạo.  

Một đốm lửa với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm cần làm gì để đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo? Nó cần cố gắng trở nên hơn nữa, và hơn thêm nữa, và hơn thêm nữa, và tiếp tục cố gắng trở nên hơn nữa, cho tới khi nó đạt tới trình độ tâm thức đấng Sáng tạo. Lúc đó vẫn còn cái hơn nữa, nhưng điểm đó quá xa chúng ta nên đây không phải là điều mà con hoặc thày cần quan tâm lúc này.

Giờ đây, con thấy điều mà các thày đã nói: đây là tâm Ki-tô. Trong mọi tình huống mà tâm Ki-tô có một hé mở để biểu hiện, thì nó tìm cách làm gì? Như thày Quan Âm đã giải thích cặn kẽ, nó không tìm cách khiến một người này đúng, người kia sai, một lập luận đúng, một ý thức hệ đúng, một tôn giáo đúng. Không đâu. Nó tìm cách chỉ cho mọi người thấy là trong mọi tình huống trên Trái đất có cái hơn nữa, và khi con với lên cái hơn nữa thì con có thể thăng vượt cái hiện hành, vì lẽ tất nhiên Trái đất là một hành tinh phi tự nhiên.

9.2. Làm sao thoát khổ đau

Vì sao có khổ đau trên Trái đất? Vì có tâm thức nhị nguyên. Khi con đến và nói: “Cái hiện hành là cái hiện hành, và nó không thể hơn nữa,” thì con thực sự đang nói gì? Con đang nói là Trái đất sẽ không bao giờ thoát khổ đau. Lẽ tất nhiên, đây là giấc mơ của sa nhân. Họ có thể biến một hành tinh thành một hành tinh phi tự nhiên, và không có gì có thể giải thoát hành tinh đó. Một khi hành tinh tới điểm đó thì nó bị giam ở đó mãi mãi, và sa nhân có thể thống trị hành tinh và vắt sữa năng lượng của các cư dân. Đây là tâm thức sa ngã. Nó muốn dìm một hành tinh xuống dưới mức hành tinh tự nhiên và giữ hành tinh đó ở đó mãi mãi.

Cái duy nhất có thể ngăn cản ý đồ này là gì? Đó là tâm Ki-tô, nhưng nó làm việc này bằng cách nào? Bằng cách lúc nào cũng chứng tỏ là có cái gì hơn cái hiện hành. Nếu cái hiện hành không thể trở nên hơn nữa, thì đâu là tiềm năng giải thoát khỏi khổ đau mà đức Phật đã nói đến, Giê-su đã nói đến, và nhiều truyền thống tâm linh và thần bí đã nói đến?

Mục đích của một trạng thái tâm thức cao hơn là gì nếu không phải là để thoát khỏi khổ đau? Con hãy nhìn các đạo sư giả đang khoe món hàng của họ và nói: “Ồ, bạn phải đến mức bạn chỉ chấp nhận cái hiện hành.” Ý tưởng này từ đâu đến? À, nó đến từ các truyền thống mà các đạo sự giả đã dựng lên, đặc biệt là bên phương Đông, dạy rằng: “Chỉ có Brahman là có thực, thế giới là một ảo tưởng. Phát triển tâm linh là tới điểm thăng vượt mọi ý niệm bản ngã, và chấp nhận cái hiện hành, chấp nhận các điều kiện như chúng đang là trên Trái đất, không cố gắng cải thiện chúng, không tìm cách cho chúng tốt hơn, mà chỉ chấp nhận cái hiện hành.” Khi làm thế thì họ nói con sẽ tỉnh thức và giác ngộ.

9.3. Chấp nhận cái hiện hành là một lời gian dối

À con yêu dấu, nếu đó là định nghĩa của tỉnh thức, thì thày không tỉnh thức. Nếu đó là định nghĩa của giác ngộ, thì thày không giác ngộ. Nhưng thày là một chân sư thăng thiên, do đó thày vượt quá những gì người phàm định nghĩa là tỉnh thức và giác ngộ, vì thày hơn bất cứ định nghĩa nào có thể được đề ra trên Trái đất.

Như thày có nói, quan điểm cho rằng con phải chấp nhận cái hiện hành như nó là và không cố gắng hơn nữa, chính là chối bỏ mục đích của sự sống. Trong truyền thống Đông phương, câu hỏi này thường không được đặt ra. Nếu Brahman, đấng không phân biệt, là tất cả những gì hiện hữu trước khi có thế giới hình tướng, thì như vậy có nghĩa là Brahman đã quyết định tạo ra thế giới, và Brahman phải tạo ra thế giới từ chính ngài, vì lúc đó đâu có gì khác? Điều này phải có nghĩa là Brahman có một mục đích khi tạo ra thế giới. Quá nhiều lần nơi phương Đông câu hỏi này không được nêu ra, vì con người bị kẹt trong ý tưởng cho rằng mục đích tối hậu của phát triển tâm linh là trở về với Brahman, đấng không phân biệt, nơi đó cái ta không còn hiện hữu.

Tại sao cái ta được tạo ra? Nó được tạo ra để trở nên hơn nữa. Tại sao thế giới được tạo ra? Nó được tạo ra từ mong muốn trở nên hơn nữa của Brahman, của đấng Sáng tạo. Mong muốn trở nên hơn nữa là động lực thúc đẩy, không những của riêng thế giới hình tướng này, mà của vô số thế giới hình tướng, nhiều hơn bất cứ gì con có thể nắm bắt, thậm chí nhiều hơn những gì thày, là một chân sư thăng thiên, có thể nắm bắt.

Ít nhất thày có thể thấy những gì thày không thể nắm bắt, và đây là tiến bộ so với sa nhân lúc nào cũng nghĩ họ có thể hình dung, nắm bắt và quy định mọi chuyện. Họ đã làm gì? Họ đã quy định một giáo lý hoàn toàn hư giả, và họ đã phóng chiếu đó là hiểu biết tâm linh tối hậu, giáo lý tâm linh tối hậu. Chức năng của Ki-tô là gì? Đó là cho thấy đó không phải là giáo lý tâm linh tối hậu vì có gì hơn nữa để hiểu, để nắm bắt, để trải nghiệm.

Mục đích của Ki-tô luôn luôn là thế: là cho thấy có cái hơn nữa. Điểm này không giản dị và không dễ nắm bắt. Qua rất rất nhiều năm trao truyền giáo lý về quả vị Ki-tô, các thày đã thấy biết bao đệ tử đã tới học, đã hiểu là có khái niệm gọi là quả vị Ki-tô, nhưng họ nghĩ nó có nghĩa đạt một trạng thái tối hậu. Thậm chí một số nghĩ thăng thiên là đạt một trạng thái tối hậu. Sự thực là tâm Ki-tô không bao giờ có mục đích quy định hay chứng minh một chân lý tối hậu. Tâm Ki-tô chỉ có mục đích duy nhất là chứng minh có cái gì hơn nữa trong mọi hoàn cảnh.

9.4. Ki-tô không tìm cách chứng minh bất cứ điều gì trên trái đất

Con thấy điều thày giảng nối liền với điều thày Quan Âm giảng về mong muốn mình đúng, bằng cách có một bằng chứng tối hậu là luận cứ của mình cao trội, ý tưởng của mình cao nhất, giáo lý của mình cao nhất. Sự thực là Ki-tô không có mục đích chứng minh bất cứ gì trên trái đất. Mục đích của Ki-tô là luôn luôn cho thấy có cái hơn nữa. Con hãy lấy trường hợp có xung đột cá nhân giữa hai người. Mỗi người đều muốn mình đúng, muốn tự ngã của mình được chứng minh nó đúng một cách tối hậu, và trong tâm của tự ngã thì điều này có nghĩa là phải chứng minh người kia sai.  

Cả hai người đều làm gì? Họ đi vào tâm thái tìm cách chứng minh người kia sai để chứng minh mình đúng. Ki-tô muốn làm gì? Nó không muốn chứng minh bất cứ người nào sai hay hạ thấp bất cứ ai. Ki-tô muốn nâng cả hai lên. Nếu cả hai bên đều muốn hạ thấp người kia xuống, thì làm sao họ có thể mở lòng để Ki-tô biểu hiện chính nó qua họ? Một trong những điều đáng buồn nhất mà con có thể thấy trên con đường tâm linh là thấy hai người tin rằng họ đã đạt một trình độ quả vị Ki-tô nào đó, nhưng nay vì một xung đột phát xuất từ một điều gì đó chưa giải quyết trong tâm lý, các ngã tiềm thức, họ muốn chứng minh người kia sai, mỗi người đều muốn chứng minh người kia sai. Họ nghĩ việc họ được chứng minh mình đúng có tầm quan trọng vĩ đại, vì nếu không sẽ có nhiều chuyện tệ hại sẽ xảy ra, liên quan đến chính họ hay phong trào tâm linh của họ hay bất cứ gì khác.

Giải pháp duy nhất là gì? À, giải pháp tối hậu là cả hai tới điểm nhận ra: tôi muốn trở nên hơn nữa. Nhưng ít nhất nếu con nhận ra điều đó thì con có thể giải thoát mình khỏi mối xung đột không bao giờ dứt, không cách nào giải quyết này. Con thấy chăng, nếu con muốn chứng minh người kia sai thì con không thể hơn nữa, vì con đang muốn đạt một điều gì trong thế gian, và hơn nữa có nghĩa là với lên cái gì vượt quá thế gian. Lẽ tất nhiên, tự ngã không thể hiểu điều này, sa nhân không thể hiểu điều này, vì họ muốn đạt một trạng thái tối hậu trong thế gian bằng cách dùng những phương tiện của thế gian. Đây là câu chuyện tháp Babel, xây dựng một tòa tháp vươn tới thiên đàng bằng những phương tiện của trần gian.

Chuyện gì sẽ xảy ra? Tòa tháp sẽ sụp đổ dưới sức nặng của chính nó, và với một số người, chỉ có một sự sụp đổ như vậy mới có thể thức tỉnh họ để một lần nữa với lên cái hơn nữa. Không phải ai cũng phải trải qua tiến trình này, vì có nhiều người có tiềm năng thấy sự phù phiếm, sự hời hợt của việc đó.

9.5. Quả vị Ki-tô và việc biểu hiện uy lực

Một trong những biểu hiện của quả vị Ki-tô mà thày muốn đề cập đến là uy lực, lẽ tất nhiên là một đặc tính của Tia thứ Nhất, ít nhất là theo các lối giải thích truyền thống. Cách biểu hiện uy lực lớn nhất là gì? Đó là con muốn hơn nữa, và con tìm cách nâng tất cả mọi người và mọi chuyện lên và trở nên hơn nữa. Đây là uy lực, uy lực thực sự.

Trên trái đất, con thấy uy lực được biểu hiện như thế nào? À, rất nhiều khi đó là một người muốn đạt được một địa vị tối hậu giúp y có uy lực tuyệt đối trên người khác, và sau đó y muốn duy trì điạ vị đó mãi mãi. Tỷ dụ, con thấy một công ty chế ra một sản phẩm mới đầy tính chất sáng tạo, và trong một khoảng thời gian công ty đó phát triển, có nhiều sáng kiến, tìm ra giải pháp mới. Sau đó công ty đó chiếm được một phần thị trường, cũng có thể chiếm lĩnh thị trường vì họ tạo ra một thị trường mới. Bỗng nhiên có một sự xoay chuyển bắt đầu xảy ra. Giờ đây họ quan tâm nhiều hơn đến việc duy trì phần thị trường của họ bằng cách loại bỏ các nhóm cạnh tranh, thay vì bằng cách tiến hơn nữa, tìm cách đi nhanh hơn các nhóm cạnh tranh bằng cách luôn luôn với lên cái hơn nữa. Con thấy các lãnh tụ thế gian một thời tìm cách càng ngày càng có thêm nhiều quyền lực, nhiều khi bằng cách tuyên bố là họ làm điều gì tốt, họ đang đẩy mạnh một chính nghĩa tối hậu nào đó, nhưng rồi rốt cuộc họ có được quyền lực nào đó mà họ coi là đủ, và họ trở nên quan tâm với việc duy trì quyền lực đó.

Do đó, họ không còn cố gắng hơn nữa trong thế gian này, họ cố gắng duy trì tình trạng hiện hành, duy trì cái hiện hành, thay vì trở nên hơn nữa. Lẽ tất nhiên, đây là lúc định luật thứ nhì của nhiệt động học bắt đầu ứng dụng và phá hủy các cấu trúc mà họ đã dựng lên để rốt cuộc chúng hủy hoại trở về hư không. Có khác biệt căn bản giữa việc tìm cái càng ngày càng hơn nữa trong thế gian, tìm cách đạt hơn nữa theo chiều ngang, và cố gắng đạt cái hơn nữa theo chiều dọc bằng cách luôn luôn vượt quá thế gian này.

Các thày đã thấy có đệ tử tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên, hay nghe đến quả vị Ki-tô, và nghĩ: “À, đạt quả vị Ki-tô là cách để đạt quyền năng tối hậu. Ồ, khi ta đạt quả vị Ki-tô, thì ta có thể làm phép lạ chứng minh giá trị của giáo lý tâm linh của ta, sẽ chứng mình ta là đệ tử tâm linh cao trội có khả năng dùng tâm làm chủ vật chất.” Họ nghĩ Ki-tô có uy quyền vô biên trên trái đất và có khả năng dùng tâm làm chủ vật chất. Nhiều khi, họ nhìn những phép lạ mà Giê-su đã làm như bằng chứng xác chứng điều này, nhưng họ quên tự đặt cho mình một câu hỏi giản dị.

9.6. Ki-tô biết khi nào không biểu hiện uy lực

Nếu Giê-su có thể đi trên nước, dẹp yên cơn bão, biến nước thành rượu, khiến người chết sống lại, chữa lành người bệnh, thì tại sao thày lại để bị đóng đinh trên thập tự? Tại sao thày không gọi binh đoàn thiên thần, như thày nói, để giải thoát thày khỏi thập tự? À, đây là một câu hỏi mà tự ngã sẽ không bao giờ đặt ra, và tại sao nó lại phải đặt ra khi dù sao nó cũng không tìm ra câu trả lời? Con có thể đặt câu hỏi, vì con có thể tìm ra câu trả lời, cái Ta Biết có thể tìm ra câu trả lời. Câu trả lời chính xác là: Ki-tô không tìm cách biểu hiện một trạng thái tối hậu nào, ngay cả vương quốc Thượng đế trên trái đất. Ki-tô luôn luôn tìm cách chỉ về hướng hơn nữa, hơn cái đang hiện hành, hơn những gì con người có thể hình dung, hơn những gì con người có thể tưởng tượng, bởi vì khả năng tưởng tượng của quá nhiều người đã bị giam trong hộp tư duy do hiện trạng tạo ra.

Trên một hành tinh phi tự nhiên, mọi chuyện đều bị giới hạn bởi tâm thức nhị nguyên. Đâu là cách duy nhất để thăng vượt trạng thái phi tự nhiên và mang hành tinh trở về trạng thái tự nhiên? Đó là với lên cái hơn nữa, và điều này có nghĩa là với lên tâm Ki-tô. Các thày có nói là khi con đi vào nhị nguyên thì con không thể tự mình ra khỏi nhị nguyên bằng cách dùng tâm duy lý, tâm suy luận.

À, con cũng không thể đem một hành tinh từ trạng thái phi tự nhiên sang trạng thái tự nhiên bằng tâm duy lý. Con chỉ có thể làm được bằng cách dùng tâm Ki-tô, hay đúng hơn là không tìm cách dùng tâm Ki-tô mà cho phép nó biểu hiện chính nó xuyên qua con, vì con đã trở thành cánh cửa mở cho cái luôn luôn hơn nữa. Các thày đã thấy một số đệ tử chân sư thăng thiên có đủ loại ước mơ, đủ loại mộng tưởng là một ngày kia các chân sư thăng thiên sẽ xuất hiện như một biểu hiện không thể chối cãi, sẽ chứng tỏ là các đệ tử đó đúng và họ là các người tiên phong giống như các tông đồ Giê-su khi xưa. Nhiều đệ tử thuộc tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (The Summit Lighthouse) đã nghĩ như vậy, nghĩ rằng vị sứ giả của tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh sẽ một ngày kia thăng thiên một cách vật lý, trông thấy được, không thể chối cãi, hay sẽ có thăng thiên tập thể từ sườn đồi, hay các chân sư thăng thiên sẽ xuất hiện dưới một biểu hiện trông thấy được, không thể chối cãi. Chuyện gì đã xảy ra cho họ khi vị sứ giả mang bệnh và rốt cuộc mất đi không kèn không trống? Ấy, chuyện xảy ra cho họ giống như chuyện đã xảy ra cho các đệ tử Giê-su khi thày chết trên cây thập tự.

9.7. Mộng tưởng có uy quyền trên trái đất

Các đệ tử của Giê-su cũng đã có cùng những tưởng tượng, mộng tưởng là bằng cách nào đó Giê-su sẽ trở lại và xác chứng họ. Vì sao các mộng tưởng này không thành hình? Bởi vì chúng dựa trên tự ngã và mong muốn bất khả thi của tự ngã muốn đạt cái gì tối hậu trên trái đất, thay vì sẵn sàng với lên tâm Ki-tô. Đúng là các tông đồ của Giê-su đã nhận ra Ki-tô trong thày, nhưng họ không nhận ra Ki-tô trong chính họ. Nếu có một biểu hiện bên ngoài không thể chối cãi được, thì việc này sẽ chỉ xác chứng các mộng tưởng của họ, và đây là sự chối bỏ Ki-tô trong họ.

Các con hãy cẩn thận khi có mộng tưởng có quyền năng, hay người sứ giả này có quyền năng đặc biệt. Giê-su đã nói: “Có một thế hệ xấu ác và ngoại tình khao khát một chỉ dấu, nhưng sẽ không có chỉ dấu nào ban cho họ.” Tại sao? Vì nếu chỉ dấu được ban, thì nó sẽ xác chứng tư duy ngăn các người đó công nhận Ki-tô trong chính họ. Thấy người khác có nhiều ánh sáng Ki-tô tuôn chảy qua họ hơn mình là một thái độ thích đáng khi nó chỉ kéo dài một thời gian. Nếu con đi vào tâm thái tôn sùng và phóng chiếu là người đó vì lý do nào đó đặc biệt hơn chính mình, thì Ki-tô phải rút lui khỏi con để không củng cố quan niệm tôn sùng đó, thực sự là quan niệm tôn sùng chính mình như người không đặc biệt.

Đây là một biểu lộ của lòng kiêu mạn tâm linh vì con nghĩ con có thể hạ thấp mình so với người kia, và qua đó con hạ thấp Ki-tô trong chính mình, có thể bằng cách nâng Ki-tô trong người khác, tưởng tượng họ có một quyền năng nào đó, nghĩ rằng, ồ người đó sẽ không bao giờ bị bệnh chẳng hạn. Con thấy chăng, khi con ở trong một thân thể vật lý thì thân thể vật lý chịu những điều kiện trên trái đất. Đức Phật chết vì nguyên do vật lý, Giê-su chết vì nguyên do vật lý, tất cả chúng ta đều đã chết vì nguyên do vật lý.

Thách thức là tới điểm ngưng tìm cách đạt một địa vị tối hậu, một trạng thái tối hậu trên trái đất, một trạng thái tối hậu trong vật chất nhưng cố gắng chấp nhận là Ki-tô đã sinh trong con. Con nuôi dưỡng và hướng dẫn em bé Ki-tô đó, và con sẵn lòng cho phép nó trưởng thành và bắt đầu biểu lộ chính nó qua con.

Một trong những tưởng tượng thông thường nhất của những người bắt đầu nghe về quả vị Ki-tô là Ki-tô không bao giờ sai lầm. Nếu con là Ki-tô thì con không thể nào sai. Con thấy chăng, đây lại là tự ngã trong cuộc tìm cầu bất khả thi một địa vị tối hậu trong thế gian này. Khái niệm luôn luôn đúng và không bao giờ sai đến từ đâu? Nó chỉ có thể đến từ trạng thái nhị nguyên lúc nào cũng quy định hai cực đối ngược nhau. Trong tâm Ki-tô không có các cực, đó là lý do vì sao Ki-tô là tâm tạo hợp nhất.

9.8. Tâm phản Ki-tô quy định tiêu chuẩn cho Ki-tô

Con có thấy chăng điều mà tâm phản Ki-tô đang phóng chiếu tới con? Nó phóng chiếu là biểu hiện của Ki-tô phải tuân theo tiêu chuẩn được quy định trong thế gian này. Các thày đã nói gì từ nhiều góc nhìn khác nhau? Biểu hiện của Ki-tô sẽ không bao giờ tuân theo tiêu chuẩn do tâm thức nhị nguyên quy định. Vì nếu như vậy thì nó sẽ xác chứng tiêu chuẩn đó trong khi vai trò của nó là đến đây để thách thức tiêu chuẩn đó. Trong tâm Ki-tô không có đúng sai. Các thày thường thấy đệ tử tìm cách quy định một tiêu chuẩn thế nào là Ki-tô, thế nào là biểu hiện Ki-tô nơi mình. Lúc đó con từ chối không để Ki-tô biểu lộ chính nó xuyên qua con trong những tình huống mà con nghĩ không xứng đáng theo định nghĩa của con. Con thấy chăng, sẽ có một điểm trên con đường tu khi, để có thể tiến lên tầng kế tiếp, con cần cho phép Ki-tô biểu hiện chính nó, bất kể nó muốn biểu hiện như thế nào. Con cần ngưng dùng tâm vỏ ngoài để thẩm định: Ồ, làm thế này đúng hay sai? Làm thế này có tạo kết quả mà tôi nghĩ Ki-tô phải tạo ra? Nếu không thì việc làm ấy phải sai, vì chắc hẳn là Ki-tô phải có khả năng đạt bất cứ kết quả nào trong thế gian này.

Các thày đã giảng những gì? Không, Ki-tô không thể đạt bất cứ kết quả gì trong thế gian này. Ki-tô sẽ không phải lúc nào cũng đúng. Ki-tô không thể giải quyết bất cứ mọi xung đột. Ki-tô không thể đưa ra luận cứ tối hậu sẽ giải quyết mọi tranh chấp. Ki-tô có thể và sẽ làm một chuyện duy nhất là chỉ con về hướng hơn nữa, về hướng vượt thăng trạng thái tâm hiện thời đang giam con vào suy nghĩ cho rằng vật chất quan trọng, điều kiện như chúng đang là có ảnh hưởng trên con là một sinh thể tâm linh. Điều gì trên trái đất có thể ảnh hưởng con, có thể quy định con? Không có điều kiện bên ngoài nào có thể quy định con. Cái gì quy định con? Đó là các điều kiện bên trong, các ngã tiềm thức. Tại sao chúng quy định con? Vì con không dám để chúng chết đi, rời bỏ chúng, nhận ra chúng không quan trọng – để với lên tâm Ki-tô.

9.9. Không có chọn lựa nào quy định con mãi mãi

Người sứ giả này một hôm gần đây xem một chương trình TV trong đó có cảnh một người rất bức xúc vì một chuyện không mấy quan trọng. Cô ấy trách mình là đáng lẽ cô phải ngăn được việc đó xảy ra và cô mô tả là cô rất đau khổ, cô cảm thấy gánh nặng toàn thế giới đè nặng lên vai cô, như thể toàn thế giới đang nhìn cô và lỗi lầm mà cô đã phạm, mà cô nghĩ cô đã phạm. Khi người sứ giả nhìn cảnh này thì ông bị ném ngược về lúc ông còn niên thiếu, khi ông nghĩ ông đã phạm một lỗi lầm và tự làm mình xấu hổ. Ông lúc đó nghĩ là gánh nặng toàn thế giới đang đè nặng lên vai ông, toàn thế giới đang đứng lại, ngưng việc họ đang làm, nhìn ông và nói: “Ồ, hãy nhìn lỗi lầm mà em này đã phạm, lỗi lầm này không thể nào xóa gỡ được.”

Bao nhiêu người trong các con đã nhận ra cảm giác này trong chính mình? Con thấy chăng, đó hoàn toàn chỉ là ngã tiềm thức. Cảm giác đó không có thực, ngoài thực tại mà con cho nó vì con nghĩ nó quy định con. Con nghĩ một chọn lựa mà con đã lấy trong quá khứ có thể quy định con mãi mãi. Đó là điều sa nhân muốn con tin: rằng khi con bị chấn thương nhập đời không biết bao nhiêu kiếp trước rồi, con đã phạm một lỗi lầm sẽ quy định con khi con còn sống trên trái đất.

Làm sao thày thăng thiên? Con có nghĩ là thày không bao giờ phạm lỗi lầm trên Trái đất chăng? Không đâu. Thày thăng thiên khi thày tới điểm nhận ra rằng bất cứ chọn lựa nào mà thày đã lấy trong quá khứ không quy định được thày như một sinh thể tâm linh. Do đó, thay vì tìm cách giải thích, tìm lý do biện hộ, đền bù, tháo gỡ, làm việc tốt thay vào các lỗi lầm đó, thày chỉ giản dị bỏ chúng lại đằng sau. Thày bỏ lại đằng sau các ngã phóng chiếu là những chuyện đó quan trọng. Làm sao con bỏ lại đằng sau cảm nhận một chuyện gì đó trong vật chất có tầm quan trọng? Bằng cách nhận ra có cái gì quan trọng hơn, và cái đó là gì? Đó là tâm Ki-tô. Con đi cùng với Ki-tô vào Vương quốc Thượng đế, trong tâm con.

9.10. Đề nghị hướng dẫn của Chân sư MORE

Thày còn có thể nói thật nhiều hơn nữa. Thày ước có thể mời mỗi người trong các con đi vào một căn phòng, mời con ngồi xuống và trước tiên hết cho con thấy tình thương mà thày dành cho mỗi người trong các con. Thày ước con mở lòng trải nghiệm tình thương đó. Sau đó, thày ước thày có thể chỉ cho con thấy trở ngại lớn nhất đang kiềm giữ con lại. Nhưng con thấy chăng, thày quả thực có thể làm điều này. Câu hỏi là: Liệu con có cho phép thày làm chăng? Vì thày có thể làm chuyện này cho riêng từng người trong các con – bất cứ ai sẽ nghe hay đọc bài truyền đọc này. Thày không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Thày có thể ở bên con, nhưng con có nghe thấy thày chăng hay con sẽ phóng chiếu lên thày là các tương tác giữa thày và con phải như thế nào, thay vì chỉ với lên cái hơn nữa?

Đó là câu hỏi. Thày chỉ có thể cống hiến sự giúp đỡ của thày. Thày gợi ý là để bắt đầu, con có thể đọc đoạn điệp khúc của bài chú của thày như các con đã đọc trước bài truyền đọc này, con đọc bao nhiêu lần cũng được tùy thời gian con có. Con có thể đọc hoặc nghe ít nhất là một phần của bài truyền đọc này, sau đó con lấy một quyển vở, một cây bút, con hòa điệu với Sinh thể của thày, và con ghi ra bất cứ gì qua đầu con. Con đừng suy nghĩ, đừng phân tích, như các thày đã nói trước đây. Con hãy chỉ ghi ra và để cho mọi chuyện tuôn chảy cho tới khi con  cảm thấy dòng chảy chấm dứt. Kết quả có thể chỉ là một câu vì đây là tất cả những gì con cần suy ngẫm chung quanh trở ngại đang kiềm giữ con, hay có thể dài hơn khi chúng ta đi sâu thêm vào tiến trình này.

Tới đây thì thày hầu như đã hoàn tất điều thày muốn trao truyền, nhưng còn thêm một điều nữa. Làm thế nào mà lại không có thêm một điều nữa? Thực sự là ta có thể nói là lúc nào cũng có thêm một điều nữa. Khi nào thì chấm dứt? Ấy, với thày thì không bao giờ chấm dứt. Nhưng với các con, đang sống trong không gian và thời gian, thì có giới hạn. Do đó, thày sẽ giới hạn vào một điều nữa mà thôi.

9.11. Vì sao El Morya đổi tên

Vì sao thày đổi tên từ El Morya sang Chân sư MORE? À, có nhiều lý do mà thày đã trình bày trước đây, nhưng lý do vi tế là những ai trong các con biết lịch sử các phong trào chân sư thăng thiên thì biết là thày Saint Germain đã bảo trợ Phong trào TA LÀ (I AM Movement). Sau khi đã rõ ràng là Phong trào TA LÀ không thể tiếp tục hoạt động với một người sứ giả được bảo trợ, thì thày Saint Germain nhận ra là thày đã đưa Phong trào TA LÀ và việc trao truyền giáo lý qua phong trào này tới điểm xa nhất có thể thực hiện trong hoàn cảnh trái đất lúc đó. Thày Saint Germain xin gặp Hội đồng Nghiệp quả để xin bảo trợ một phong trào khác, là tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (The Summit Lighthouse). Hội đồng Nghiệp quả không chấp nhận đề nghị này vì thày Saint Germain đã đầu tư quá nhiều ánh sáng của thày vào Phong trào TA LÀ và Hội đồng không muốn thày tốn thêm ánh sáng vào một phong trào khác, vì như vậy thày sẽ không còn đủ ánh sáng để làm công việc chủ tể Thời đại Bảo bình.

Câu chuyện được kể trong tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh là lúc đó thày đứng ra nhận lãnh trách nhiệm và thày có một viên kim cương trên trán tượng trưng cho thành đạt của thày, và thày phải đưa viên kim cương đó cho Hội đồng Nghiệp quả làm vật bảo đảm cho việc đứng ra bảo trợ tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh. Tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh đã kể câu chuyện này để tạo cảm giác khẩn thiết nơi các thành viên, cảm giác họ rất quan trọng, tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh rất quan trọng, chuyện họ vượt qua mọi thử thách rất quan trọng, như câu châm ngôn lúc đó là: “Chúc bạn vượt qua mọi thử thách.” Ý tưởng đưa ra là thày, El Morya, lúc nào cũng có mặt để thử thách các thành viên.

Giờ đây, như Mẹ Mary đã nói lúc đầu hội nghị, mọi chuyện có thể xem như một biểu tượng có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Ý nghĩa thâm sâu hơn là tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh được bảo trợ chính yếu để giúp những người chưa vượt qua các khai ngộ của thời Song Ngư, và cho họ một cơ hội cuối. Một số đông quả thực đã vượt qua khai ngộ này và đã tiến xa hơn, và một số khác thì không. Mọi chuyện luôn là như thế. Đến một lúc thì các thày không thể duy trì một người sứ giả được bảo trợ tại tổ chức Ngọn hải đăng trên Đỉnh và những người được trao cơ hội tiến lên nhận lãnh vai trò đó đã không muốn làm công việc đó. Do đó, chuyện các thày phải rút lui trở nên rõ ràng.

Thày chắc chắn phải rút lui khỏi phong trào Ngọn Hải đăng trên Đỉnh, và sau khi bỏ chút thì giờ suy ngẫm, thày quyết định là sẽ hiệu quả hơn nếu thày đổi tên, như một tín hiệu cho những ai muốn nghe là thày không những đã bỏ đi làm chuyện khác, mà thày đã trở nên HƠN NỮA. Như dự trù, cũng có những người đã nói: “Ồ, một chân sư thăng thiên không bao giờ thay đổi tên, do đó đây phải là một chân sư giả.” Hãy chấp nhận nó là thế. Vinh quang của thế gian rồi cũng qua đi. Vì khi con đạt quả vị Ki-tô, thì con cho mọi vinh quang của thế gian qua đi và bước vào sự huy hoàng của thế giới kế tiếp, như thày đã làm.

Một cái tên có nghĩa gì? Quả thực chỉ là như thế này: không ai có thể quy định Chân sư MORE. Trong tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh, họ nghĩ họ đã quy định thày. Thày là một người kỷ luật khắt khe. Thày là người luôn luôn thử thách đệ tử, và với hầu hết đệ tử điều này có nghĩa họ không thể thấy tình thương vô điều kiện mà thày tỏa rạng. Điều gì đã đưa người sứ giả này vào con đường trở thành sứ giả? Đó là khi ông, trong một tình huống đặc thù mà ông đã kể lại, quyết định với lên hơn nữa, không bào chữa cho tự ngã, không tìm cách xác chứng nó và chứng minh mình đúng người khác sai, chỉ giản dị bỏ tất cả lại đằng sau và đi theo Ki-tô. Khi ông làm vậy thì ông trải nghiệm tình thương vô điều kiện mà thày trao cho tất cả đệ tử, nhưng họ không thể trải nghiệm khi chưa với lên cái cao hơn tâm vỏ ngoài, là tâm muốn nó đúng trong thế gian này. Do đó, có thể nói là vai trò sứ giả của vị sứ giả này chỉ dựa trên một điều, đó là với lên cái hơn nữa. Nếu con đang theo học giáo lý được trao truyền trong đợt truyền giáo này thì hiểu điều này sẽ mang lại lợi ích cho con, vì lẽ tất nhiên nó cũng áp dụng cho con. Nếu con muốn nhận lãnh trọn vẹn cơ hội mà giáo lý này cống hiến thì chìa khóa giản dị là: luôn luôn với lên cái hơn nữa.

Thày lúc nào cũng hơn nữa, nhưng điều này không có nghĩa là thày ngoài tầm với của các con. Các con có thể tiếp cận thày bất cứ lúc nào. Con thấy chăng, không phải là thày trên này và con ở dưới kia, và con chỉ có thể tiếp cận thày khi con vượt qua được khoảng cách. Không đâu, thày lúc nào cũng hơn nữa. Điều này không có nghĩa là thày lúc nào cũng đi lên cao hơn. Thày cũng đi xuống thấp hơn. Thày có khả năng tiếp cận càng ngày càng nhiều người, nhưng chỉ khi họ với lên cái gì hơn trạng thái tâm thức hiện hành của họ.

Có thể thày đã nói nhiều hơn là thêm một chuyện nữa, tuy nhiên thày hy vọng là con có thể nắm bắt thêm một chút cái hơn nữa mà thày là. Tới đây thì thày niêm các con trong tình thương vô điều kiện mà thày là, và với một tia sáng trong ánh mắt, thày nói: “Chúc con vượt mọi thử thách”. Làm sao con vượt qua thử thách? Giản dị lắm: luôn luôn với lên cái HƠN NỮA.

7 | Ki-tô sẽ không thắng mọi tranh luận

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Quan Âm qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Quan Âm. Điều thày muốn giảng hôm nay là một khía cạnh khác của cách mà tự ngã dùng quả vị Ki-tô để đạt một mục tiêu khác của tự ngã. Trong nhiều thập niên vừa qua khi các thày trao truyền trực tiếp giáo lý qua những đợt truyền giáo khác nhau, đã có nhiều, rất nhiều đệ tử tiếp cận khái niệm quả vị Ki-tô. Một cách vô ý thức, họ đã cho phép tự ngã phóng chiếu một hình ảnh vào tâm họ là khi họ có quả vị Ki-tô thì điều ấy có nghĩa là họ sẽ luôn luôn đúng. Con lúc nào cũng có thể thắng một cuộc tranh cãi bởi vì chắc chắn quả vị Ki-tô phải là sự thật tối hậu, thực tại tối hậu, và khi con có sự thật tối hậu, chắc chắn con sẽ luôn luôn đúng.

Đây là lối lý luận không đặc biệt đến từ đệ tử chân sư thăng thiên hay thậm chí đệ tử tâm linh. Nó quả thật đến từ sa nhân và tư duy rắn. Để hiểu điều này, chúng ta cần bước lùi lại và nhìn vào tư duy rắn.

7.1. Tự ngã tìm cách để mình đúng như thế nào

Như các thày đã giải thích rất cẩn thận, tự ngã tìm cầu điều bất khả thi là đạt được một trạng thái tối hậu bằng cách dùng những thứ của thế gian này. Khi thày nói những thứ của thế gian này, điều này có nghĩa gì trong bối cảnh đặc thù này? À nó thực sự có nghĩa tâm thức nhị nguyên. Tự ngã tìm cách đạt bất kỳ mục tiêu tối hậu nào mà nó đặt ra bằng cách dùng tâm thức nhị nguyên. Như các thày đã giải thích nhiều lần và người sứ giả này đã giải thích nhiều lần trong nhiều video YouTube của ông, tâm thức nhị nguyên có đặc tính này: luôn luôn có hai cực đối chọi nhau. Có nghĩa là khi tự ngã muốn nó đúng tối hậu thì nó đi về một đối cực. Nó thấy cực này là cực tối hậu và cực đối ngược cũng tối hậu nhưng tối hậu sai. Một cực đúng tối hậu: nó là sự thật. Cực kia sai tối hậu: nó là gian dối. Tuy thế, như các thày đã giải thích, trong tâm thức nhị nguyên, con quả thực có thể chứng minh cả hai đối cực đều đúng bởi vì con làm gì trong tâm thức nhị nguyên? Con thêm vào một phán xét giá trị và khi con thêm phán xét giá trị, thì có nghĩa là giờ đây con tạo một phin lọc. Con nói: “Cái này đúng tối hậu,” đấy là phán xét giá trị. Phin lọc con tạo ra là: bất kỳ luận cứ nào hỗ trợ quan điểm này đều có giá trị. Bất kỳ luận cứ nào chất vấn nó đều không giá trị.

Con thấy đấy, không thể tránh là sẽ có những người hành xử y như vậy với cực nhị nguyên kia và nói cực nhị nguyên kia đúng. Họ chỉ đơn giản thêm vào một phán xét giá trị và họ tạo ra phin lọc đối ngược cho rằng bất cứ gì xác chứng cực nhị nguyên này của họ đều đúng, bất cứ gì chất vấn nó đều sai. Một ví dụ lịch sử các thày đã từng dùng trước đây là: một số người nói chủ nghĩa tư bản là hệ thống kinh tế tối hậu. Mọi luận cứ hỗ trợ chủ nghĩa tư bản đều có giá trị, mọi luận cứ chất vấn nó đều không giá trị. Người khác nói chủ nghĩa cộng sản là hệ thống kinh tế tối hậu, là phán xét giá trị, do đó mọi luận cứ xác nhận nó là đúng, mọi luận cứ đến từ phe bên kia, từ phe tư bản, đều sai và do đó, bạn không cần để ý tới.

Khi con hiểu cách vận hành đó, thì con thấy được chăng chuyện gì xảy ra khi tự ngã của một người đang kẹt trong tư duy này nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô? Tự ngã người đó tin rằng: “À, khi tôi đạt quả vị Ki-tô, tôi sẽ đúng tối hậu.” Nghĩa là tự ngã tin Ki-tô sẽ xác chứng cực nhị nguyên mà tự ngã đã chọn là cái tối hậu. Do đó, Ki-tô sẽ không xác chứng hay sẽ loại trừ khỏi trái đất cực đối ngược và những người tin vào cực đối ngược đó.

7.2. Điểm trớ trêu của cách tự ngã nhìn Ki-tô

Con có bắt đầu thấy sự trớ trêu chăng? Tự ngã mắc kẹt trong tư duy nhị nguyên. Chức năng của Ki-tô là gì? Đó là giải thoát con người khỏi tư duy nhị nguyên, khỏi tách biệt. Bây giờ con người nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô nhưng họ cho phép tự ngã phóng chiếu vào tâm họ là khi họ đạt quả vị Ki-tô, thì điều ấy có nghĩa là đối cực nhị nguyên của họ sẽ được tâm Ki-tô xác chứng là sự thật tối hậu.

Con hãy nhìn những tín đồ Cơ đốc chẳng hạn. Lẽ tất nhiên hầu hết người Cơ đốc không tin họ có thể đạt quả vị Ki-tô nhưng con sẽ thấy một số người đã mở tâm đón nhận ý tưởng những người không phải là Giê-su có thể đạt một trạng thái tâm thức cao. Họ nghĩ điều này có nghĩa là khi họ đạt quả vị Ki-tô thì Cơ đốc giáo sẽ được tâm Ki-tô xác chứng như tôn giáo tối hậu và mọi tôn giáo khác sẽ bị bác bỏ và bị tâm Ki-tô coi rẻ. Con có bắt đầu thấy được tại sao điều này không bao giờ có thể xảy ra?

Các con yêu dấu, con bắt đầu thấy được điều này không? Có hay không? Thày chỉ muốn con trả lời để giúp con tỉnh ngủ. Nếu con ngủ trở lại, thày sẽ hỏi nữa. Nhân tiện, đây là cách biểu hiện Ki-tô thích nghi với thực tại của bát cung vật lý. Con có thể thấy cách vận hành này trải bày như thế nào qua các thời đại trong nhiều bối cảnh khác nhau, trong nhiều truyền thống tâm linh khác nhau, khi con người gia nhập một truyền thống tâm linh. Có thể trước đó họ không thuộc một truyền thống tâm linh nào hay họ đã lớn lên trong một truyền thống tâm linh khác, nhưng bây giờ họ trải qua một tiến trình thức tỉnh hay cải đạo và họ tin chắc là lúc này họ đã tìm được giáo lý hay truyền thống tâm linh tối hậu.

Chúng ta thấy nhiều người bên phương Đông chợt thức tỉnh đến với Phật giáo, một trong những hình thức Phật giáo, một trong những truyền thống Phật giáo và họ tin đấy là hình thức tối hậu. Sau đó họ nghe đến ý tưởng có những trạng thái tâm thức cao và có con đường tâm linh, và bây giờ họ nghĩ nếu họ đạt được một trạng thái tâm thức cao thì có nghĩa là truyền thống tâm linh vỏ ngoài của họ sẽ được xác chứng. Họ tìm về một vị đạo sư đã xác chứng truyền thống tâm linh vỏ ngoài của họ và họ xem đây là chứng minh truyền thống của họ là truyền thống tối hậu.

Con có thể thấy những người bên Ấn độ tin chắc rằng vị đạo sư Ấn độ này hay vị kia đã giác ngộ hay đã đạt được một quy định nào khác về một trạng thái tâm thức tối hậu. Họ cảm thấy bởi vì vị đạo sư đó đến từ truyền thống Ấn độ giáo, do đó Ấn độ giáo được xác chứng là tôn giáo tối hậu. Cũng như thế với Phật giáo, Lão giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo – khắp mọi nơi.

Điều con thấy ở đây là hầu hết mọi người theo tôn giáo vỏ ngoài nhưng trong mọi tôn giáo hay truyền thống tâm linh đều có những người đã bắt đầu thức tỉnh đi theo con đường thần bí. Họ bắt đầu trở thành những nhà thần bí nhưng nay họ lại bị tự ngã lừa dối khiến họ nghĩ rằng khi họ đạt một trạng thái tâm thức cao, bất kỳ họ quy định nó như thế nào, thì có nghĩa là truyền thống của họ sẽ được xác chứng và chính họ sẽ được xác chứng là những đệ tử cao cấp nhất. Con thấy được điều này không, con yêu dấu? Nếu con thấy, thày sẽ tiếp tục.

7.3. Học trò chân sư thăng thiên bị tự ngã làm mù lòa

Con thấy đấy, khi con nhìn các đệ tử chân sư thăng thiên, con sẽ thấy cùng một hiện tượng. Con trở ngược về thập niên 1930 khi các thày bắt đầu tự biểu hiện qua phong trào TA LÀ. Hiện nay không còn nhiều học trò nguyên thủy của phong trào TA LÀ còn hiện thân, nhưng vẫn còn một số người tin chắc rằng phong trào của họ là tiết lộ tuần tự tối hậu từ chân sư thăng thiên. Họ không cần để ý tới bất cứ phong trào nào khác hiện ra sau này vì phong trào của họ là phong trào tối hậu.

Với phong trào Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (the Summit Lighhouse) cũng vậy, và các thày hy vọng là trong đợt truyền giáo này các con sẽ không rơi vào bẫy đó hay ít nhất có thể thoát ra khỏi bẫy đó nhanh chóng. Bởi vì các thày không hề mong muốn các con tìm cầu sự xác chứng tối hậu của giáo lý vỏ ngoài, người sứ giả vỏ ngoài hay thông điệp vỏ ngoài. Các thày mong muốn thấy các con đạt quả vị Ki-tô cá nhân nhưng muốn đạt được, con phải từ bỏ ham muốn mình đúng. Điều này không chỉ áp dụng với giáo lý tâm linh của con, nó cũng áp dụng vào đời sống hàng ngày.

Con hãy nhìn chính mình, nhìn những người con quen biết và thấy biết bao nhiêu lần con ở trong hoàn cảnh con muốn mình đúng hay người khác muốn họ đúng. Trong mọi phong trào tâm linh con có thể tìm thấy trên mặt hành tinh này, con sẽ thấy những người rơi vào xung đột cá nhân với nhau. Giờ đây, trong nhiều trường hợp, những xung đột này không khác những xung đột ngoài kia trên thế gian giữa những người không tâm linh. Chúng giản dị là khác biệt quan điểm vì con xuất thân trong một hoàn cảnh khác, con có tâm lý khác, con nhìn mọi chuyện từ một góc độ khác.

7.4. Xung đột không sao giải quyết được trong các phong trào tâm linh

Trong một phong trào tâm linh xung đột thường bị thổi phồng quá tải vì con nghĩ chuyện chứng minh con đúng và chứng minh bên kia sai cực kỳ hệ trọng. Lúc đó con có một xung đột đen trắng giữa những người tâm linh và thông thường xung đột như thế không có giải pháp. Chúng ta đã thấy có người nổi giận và rời bỏ phong trào tâm linh, chúng ta đã thấy những phong trào tâm linh tan vỡ từ bên trong vì họ không giải quyết được xung đột này.

Con thấy chăng, điều gì tạo ra xung đột đen trắng trong các phong trào tâm linh? Đó là ý tưởng con đã đạt một trình độ quả vị Ki-tô nào đó và bởi vậy, con đúng. Người kia chưa đạt tới mức quả vị Ki-tô này và do đó người kia sai. Con có thể thấy điều này vì con có quả vị Ki-tô, người kia không thấy được vì họ chưa đạt mức quả vị Ki-tô của con. Cho nên hoàn cảnh kẹt cứng và không có cách giải quyết.

Không thể có cách gì giải quyết khi cả hai bên đều nghĩ biểu hiện Ki-tô của họ không bị tự ngã pha màu. Con thấy khi có xung đột, cả hai bên đều bị tự ngã pha màu vì nếu không thì xung đột đâu có xảy ra. Cách giải quyết là gì? Cách giải quyết là những đệ tử chân thành thực sự muốn đạt quả vị Ki-tô cần nhận ra rằng tất cả các con, tất cả chúng ta khi hiện thân trên Trái đất, chúng ta đều có những ngã được tạo ra trong các kiếp trước muốn mình đúng trên Trái đất bằng cách chứng minh điều gì đó trên Trái đất.  

Cho nên con nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô, tâm Ki-tô qua con sẽ chứng minh điều gì đó trên Trái đất, sẽ chứng minh điều gì đó trong vật chất. Chuyện này không đúng, đây là con hiểu lầm Ki-tô là gì. Bởi vì chức năng của tâm Ki-tô là gì? Đó là tạo hợp nhất giữa con và cái ta cao của con, với các chân sư thăng thiên và tạo hợp nhất giữa con người theo chiều ngang. Hợp nhất chiều dọc dẫn tới hợp nhất chiều ngang. Nếu không có hợp nhất chiều ngang, có thể lý do là cả hai bên chưa hợp nhất chiều dọc đủ.

Điều này có thể bị hiểu lầm nhưng con hãy kiên nhẫn, thày sẽ giải thích. Chức năng của tâm Ki-tô là tạo hợp nhất, hợp nhất với cái ta cao của con, hợp nhất theo chiều ngang. Tự ngã, tâm nhị nguyên sẽ không bao giờ thấu hiểu điều này – không bao giờ. Nó không sao hiểu nổi. Tự ngã sẽ luôn luôn tìm cách chứng minh nó đúng bằng cách chứng minh điều gì đó trên Trái đất. Câu hỏi con cần tự hỏi mình là: “Con muốn mình đúng ở đâu? Con muốn mình đúng với con người hay đúng với Thượng đế?”

7.5. Con muốn đúng với con người hay đúng với Thượng đế?

Nếu con muốn đúng với Thượng đế thì trước tiên con đi tìm vương quốc Thượng đế và sự công chính của ngài, là cách chân chính dùng khả năng phân biện của con. Sau đó, mọi sự khác sẽ được thêm vào cho con, nhưng chỉ khi nào con đi tìm trước tiên vương quốc Thượng đế bằng cách buông bỏ mọi thứ của vật chất. Một lần nữa con có thể chiêm nghiệm một phiên bản của câu hỏi của Padmasambhava: “Tại sao những điều quan trọng với con lại quan trọng với con?” Tại sao đúng với con người quan trọng với con?

Thông thường con sẽ thấy câu trả lời bắt nguồn từ chấn thương nhập đời. Sa nhân tìm cách tạo ra một tình huống khiến con bị chứng minh con sai một cách tối hậu. Kể từ ngày đó, tự ngã của con đã luôn luôn tìm cách bù đắp bằng cách chứng minh con đúng, hay rốt cuộc con vẫn đúng. Một lần nữa, đây là một tìm cầu vô bổ, một tìm cầu bất khả thi của tự ngã. Tại sao? Thày đã nói gì trước đây? Với tâm thức nhị nguyên, con có thể chứng minh hay bác bỏ bất cứ gì. Không có điều gì đúng tối hậu. Con sẽ không bao giờ chứng minh được với những người mang tâm thức sa ngã là con đúng lúc đó. Con sẽ không bao giờ thuyết phục được những người vẫn còn ở trong tư duy thế phàm là con đúng.

Hãy đem điều này ứng dụng thực tiễn vào đời sống hàng ngày. Con ở trong hoàn cảnh con không đồng ý với một người khác. Chuyện xảy ra trong một phong trào tâm linh hay trong gia đình hay nơi làm việc không quan trọng. Con bất đồng ý kiến với người khác. Tự ngã sẽ luôn luôn tìm cách chứng minh con đúng bằng cách chứng minh người kia sai. Đây không phải là cách Ki-tô ứng xử. Cách ứng xử của những người đi tìm quả vị Ki-tô là trước tiên đi tìm vương quốc Thượng đế. Nghĩa là gì? Đó là đi tìm hợp nhất với cái ta cao của con.

Làm sao hợp nhất với cái ta cao của con? Bằng cách loại bỏ những ngã tiềm thức kéo con rơi vào tách biệt. Con hãy thành thật, con hãy sẵn lòng nhìn vào chính mình và nói: “Tôi có chăng một ngã tiềm thức đang ảnh hưởng cách tôi nhìn hoàn cảnh này, cách tôi tiếp cận người kia? Có phải là tôi, cái Ta Biết, có nhu cầu ám ảnh cưỡng chế là mình đúng? Hay đấy là một ngã tiềm thức có nhu cầu này?” Lẽ tất nhiên câu trả lời hiển nhiên là: đó là một ngã tiềm thức. Con nhìn nó, con cho ngã tan rã, con buông bỏ nó. Đấy là tìm trước tiên vương quốc Thượng đế.

Khi con tìm vương quốc Thượng đế, mọi thứ khác sẽ được thêm vào cho con. Điều gì được thêm vào cho con? À, nhiều thứ sẽ được thêm vào cho con, nhưng trước hết là con thấy rõ, con có một tầm nhìn khác. Trong một số trường hợp, hãy ví dụ đây là một thành viên gia đình mà mối quan hệ của con với người đó sẽ lâu dài, con có thể nhận được xung lực: “Điều gì quan trọng hơn với tôi? Tôi đúng? Chứng minh người thân tôi sai? Hay tôi có mối quan hệ tốt đẹp hơn với người này?”

Con cũng có thể nhận xung lực, nội giác là người đó quan trọng hơn tranh cãi vỏ ngoài, người đó quan trọng hơn sự việc con đúng. Điều quan trọng hơn là con xem xét điều này thay vì muốn mình đúng: “Làm sao con giúp được người kia?” Hay đúng hơn: “Có thể nào tâm Ki-tô qua tôi giúp người kia thay vì tâm tự ngã chứng minh người kia sai và dìm họ xuống?”

7.6. Nhìn mọi sự với tâm trung hòa

Có nhiều nội giác con có thể nhận được trong những hoàn cảnh này nhưng nó đòi hỏi con phải trước tiên đi tìm Vương quốc Thượng đế bên trong con bằng cách đi vào trạng thái tâm cho phép con nhìn hoàn cảnh một cách trung hòa. Điều này đòi hỏi con trau dồi một khả năng mà tất cả các con đều có và đó là khả năng đọc rung động. Tại sao con đang ngồi đây lắng nghe một người dường như đang cho phép một chân sư thăng thiên nói qua ông? Phải chăng là vì một luận cứ vĩ đại nào đã thuyết phục con?

Không đâu, đó là vì con có thể đọc rung động tuôn chảy qua con người vỏ ngoài của ông nhưng không thể đến từ ông. Rung động phát xuất từ một tầng cao hơn và do đó, điều ông nói đáng được nghe. Nếu đây chỉ là một con người thường phát biểu một quan điểm của con người thường thì con đâu màng? Những quan điểm đó đầy rẫy. Bởi vì con cảm nhận có một rung động cao tuôn chảy qua ông, con cảm nhận có điều gì khác ở đây.

Con có khả năng đọc rung động, nhưng nhiều khi con không áp dụng cho chính mình để đọc rung động trong con, để đọc rung động của các ngã tiềm thức của con. Khi con đi tìm trước tiên Vương quốc Thượng đế, con sẵn lòng nhìn chính mình và đọc rung động của con khi con đi vào hoàn cảnh xung đột với người khác. Nếu con áp dụng khả năng đọc rung động, con có thể rất mau chóng học cách đọc: “Ồ, rung động của tôi thấp. Nó không ở mức cao nhất. Nó không hài hòa.”

Trước tiên, con có thể học cách đọc: “Nó có ám ảnh cưỡng chế không? Đây có phải là một điều mà tôi cảm thấy tôi làm? Tôi phải thuyết phục người kia, và nếu không thuyết phục được người kia thì tôi phải chứng minh người ấy sai và tôi phải chứng minh với những người khác là người ấy sai. Bởi vì chúng ta nhất định phải giải quyết vấn đề.” Trạng thái ám ảnh cưỡng chế này chỉ có thể đến từ tâm thức nhị nguyên, từ các ngã tách biệt. Nó không đến từ tâm Ki-tô, vì tâm Ki-tô tìm sự hợp nhất.

7.7. Ki-tô luôn luôn tìm sự hợp nhất

Làm sao con hợp nhất? Chỉ có một cách là qua chọn lựa tự do của con người. Không thể ép uổng con người hợp nhất. Bất hòa và tách biệt có thể ép uổng. Xung đột có thể ép uổng. Không thể ép uổng hợp nhất. Có thể có những tình huống con nhìn vào tâm thái ám ảnh cưỡng chế trong con, con thỉnh các thày tiêu trừ năng lượng, con đi tìm ngã tiềm thức, con thấy được ngã đó và con cho nó chết đi. Con giản dị cho nó chết đi. Con nói như Giê-su đã nói: “Nó chẳng là gì với con, con hãy theo ta.” Con theo Ki-tô đi vào vương quốc, để lại đằng sau những gì trên Trái đất, để lại đằng sau những gì quan trọng với ngã vỏ ngoài. Con để cho kẻ chết chôn người chết của họ.

Khi con buông bỏ ngã, con có thể thấy: À người kia vẫn còn trong một trạng thái tâm nào đó. Họ có một ngã tiềm thức nào đó. Họ không thấy được ngã của họ. Họ không thấy được sự ám ảnh cưỡng chế của họ. Trong một số trường hợp, con có thể chỉ giản dị quyết định: “Hãy cho người đó thêm thời gian. Chúng ta hãy tìm một giải pháp khả dĩ, nhưng tôi sẽ không chứng minh họ sai.” Thày không nói lúc nào cũng tới kết quả này nhưng trong một số trường hợp sẽ như thế.

7.8. Ki-tô không phải lúc nào cũng đúng

Có nhiều người, nhiều đệ tử chân sư thăng thiên có thể nói là bị ám ảnh bởi ý tưởng Ki-tô luôn luôn đúng, và lúc nào cũng phải có cái đúng và sai. Do đó, bất cứ tranh cãi nào cũng có thể được giải quyết bằng cách có sự thật đúng, sự thật cao nhất từ tâm Ki-tô. Khi con bắt đầu hiểu sự tương phản giữa tâm thức nhị nguyên và tâm thức Ki-tô, thì con thấy là ngay cả tâm thức Ki-tô cũng không thể giải quyết những tranh cãi do nhị nguyên tạo ra.

Thày đã nói gì? Luôn luôn có hai đối cực ngược nhau. Con có thể biện hộ cho đối cực này, hay đối cực kia và nếu con thiên lệch về một đối cực thì con sẽ thấy những luận cứ bên đó có giá trị, nếu con thiên lệch về đối cực kia thì con sẽ thấy những luận cứ bên kia cũng hoàn toàn có giá trị. Không cách chi hòa giải hai bên bằng luận cứ hay bằng cách chứng minh điều gì đó đúng. Con thấy chăng, con không có nhiệm vụ thuyết phục người kia, nhiệm vụ của con là tăng triển, tiến gần quả vị Ki-tô hơn để dù kết quả tình huống vỏ ngoài là gì chăng nữa, con vẫn tăng triển, con vẫn tiến gần hơn quả vị Ki-tô. Còn người kia ra sao thì tùy vào chọn lựa tự do của họ.

Khi con cố gắng giữ thái độ này, thì con sẽ nhận ra và con sẽ hoàn toàn chấp nhận là có những hoàn cảnh và xung đột không có cách giải quyết. Con có nghe thấy điều thày nói chăng? Tâm thức nhị nguyên có thể tạo ra những xung đột không có cách giải quyết. Con không thể tìm ra một luận cứ. Con hãy nghe kỹ, ngay cả tâm Ki-tô cũng không thể đưa ra một luận cứ sẽ giải quyết những tranh cãi giữa con người. 

Con có thể lấy bất kỳ hoàn cảnh nào, con lấy ngay bây giờ hoàn cảnh giữa nước Do thái và người Palestine, hay tình trạng giữa Bắc và Nam hàn. Ngay cả tâm Ki-tô cũng không có cách chi giải quyết các hoàn cảnh này ở cấp độ mà xung đột được hình thành. Ở cấp độ tâm thức, tâm thức nhị nguyên nơi xung đột được quy định, ngay cả tâm Ki-tô cũng không thể giải quyết. Không có cách nào giải quyết được.

Đây là tình trạng mà chúng ta đã thấy lặp đi lặp lại nhiều lần, mà con người rất khó chấp nhận. Các con có tiềm năng chấp nhận vì các thày đã chuẩn bị các con với rất nhiều giáo lý về tâm thức nhị nguyên và quả vị Ki-tô. Nhưng điều này không có nghĩa con bị kẹt trong một hoàn cảnh vì như thày đã nói, trước tiên con tìm Vương quốc Thượng đế, con tìm cách tiến gần hơn và gần hơn quả vị Ki-tô và bỗng nhiên chuyện hoàn cảnh bên ngoài có được giải quyết hay không không còn quan trọng nữa.

Con hãy lấy tình trạng giữa người dân nước Do thái và nước Palestine, người Do thái và người Ả rập. Ở chiều ngang không có cách giải quyết. Cách giải quyết duy nhất là cả hai bên gia tăng sự nối kết chiều dọc với tâm Ki-tô để họ nhận ra: Tôi không phải người Do thái hay người Ả rập, tôi  hơn những quy định trong vật chất này. Những đặc tính vật chất không quan trọng bằng sự hợp nhất của tôi với tâm Ki-tô. Cho nên, khi con nối kết với tâm Ki-tô, con thấy tất cả những người khác, những người ở phe bên kia đều bắt nguồn từ tâm Ki-tô.

Cho nên, con có thể tìm một cấp độ hợp nhất cao hơn để thay vì tìm cách giải quyết xung đột ở chiều ngang, con bỏ xung đột lại sau lưng. Không có cách gì giải quyết xung đột nhưng con có thể vượt thăng nó. Các con là những học trò trực tiếp của các thày, các thày chờ đợi các con tiên phong làm việc này trong đời sống cá nhân của mình, khi con tương tác với nhau, ngay cả khi con tương tác với nhau trong một cộng đồng tâm linh. Hãy luôn luôn tìm sự hợp nhất cao, hãy tìm Vương quốc Thượng đế bên trong và nói: “Điều này đáng gì với tôi? Tôi sẽ theo Ki-tô đi vào cõi cao hơn.”

7.9. Biểu đạt Ki-tô trong đời sống hàng ngày

Đấy là cách con có thể đưa ra một ví dụ hùng hồn về thế nào là biểu hiện quả vị Ki-tô trong đời sống hàng ngày. Một số trong các con đã làm việc này rồi. Một số trong các con đã gần kề. Đôi khi chỉ cần xoay chuyển tâm một chút khi con thấy: “Ồ, trước kia tôi chưa bao giờ thấy điều này nhưng bây giờ nó quá hiển nhiên. Với tôi, đúng với Thượng đế quan trọng hơn đúng với con người.”

Nói cho cùng, cái ta nào muốn nó đúng? Không phải là cái Ta Biết. Cái Ta Biết trong trạng thái thuần khiết của nó là gì? Nó trung hòa. Nghĩa là gì? À, có nghĩa là nó không bị cuốn hút vào hai cực nhị nguyên. Nó cũng không ở điểm giữa hai cực. Nó vượt lên trên thang nhị nguyên. Nó ở bên ngoài nhị nguyên. Nó chỉ quan sát thôi. Thày nói gì về đọc rung động? Con có thể học cách đọc rung động để biết khi rung động của con không ở cấp độ của Ki-tô vì con bị cuốn hút vào ý nghĩ có gì đó thật sự quan trọng. Có gì đó trong vật chất thật sự quan trọng. Lúc đó con có thể kéo mình lùi lại, đi vào nội tâm và nối kết lại, đạt trạng thái trung hòa trong đó con có thể thấy: “À, điều tôi nghĩ quan trọng không thật sự quan trọng. Nó không quan trọng bằng tôi hợp nhất với tâm Ki-tô.” Cuối cùng thì con tới điểm thấy, như Padmasambhava nói: “Không có gì trong vật chất quan trọng.” Đây chỉ là vấn đề xoay chuyển quan điểm của con về vật chất, về điều gì quan trọng.

Với bài này thày đã cho con những gì thày muốn cho con. Thày biết ơn đã có cơ hội này. Con có thể nói những gì thày trao cho con ở đây là một biểu hiện của từ bi. Vì lòng từ bi tối hậu là gì? Một số người nghĩ là tha thứ nhưng cái gì tha thứ? Tâm nhị nguyên có bao giờ tha thứ được chăng? Tự ngã có bao giờ tha thứ được chăng? Không đâu, chỉ tâm Ki-tô mới có thể tha thứ, nhưng tại sao tâm Ki-tô tha thứ được? Bởi vì với tâm Ki-tô không gì trong vật chất quan trọng. Mọi chuyện đều tha thứ được. Mọi tội lỗi đều có thể được tẩy trắng như tuyết. Với điều này thày niêm con trong Ngọn lửa Từ bi mà thày cầm giữ cho Trái đất. Mong con chấp nhận Ngọn lửa Từ bi cho chính con để con có thể trước tiên tha thứ chính mình và chấp nhận tha thứ vô điều kiện của tâm Ki-tô.

5 | Đấng Cha làm gì cho Ki-tô

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Saint Germain qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Saint Germain. Chúng ta hãy nhắc tới câu truyện trong Kinh thánh về Saint Joseph là cha của Giê-su và trong các đợt truyền giáo trước đã đề cập thày là sinh thể đã hiện thân như Joseph. Một lần nữa, như Mẹ Mary đã giải thích, đây toàn là biểu tượng và con có thể xem biểu tượng ở nhiều tầng cấp khác nhau. Chắc chắn con có thể thấy sự kiện em bé Ki-tô được mẹ nuôi dưỡng nhưng bé cũng có một người đóng vai trò người cha. Người cha làm gì cho Ki-tô khi Ki-tô lớn lên, khi em bé Ki-tô trưởng thành?

Ấy, trước tiên, người cha dạy em bé Ki-tô một ngành nghề, một kỹ năng. Lẽ tất nhiên điều này áp dụng cho con theo nghĩa con là cha của Ki-tô trong con. Con đóng vai trò người cha và người mẹ cho sự biểu hiện Ki-tô cá nhân của con. Con cần dạy Ki-tô một kỹ năng nào đó, một kiến thức nào đó. Điều này không nhất thiết nghĩa là một ngành nghề như thợ mộc hay khoa học gia hay bất cứ gì khác. Có thể là con chọn một chủ đề gần gũi với con, một chủ đề mà con ưa thích và con nghiên cứu chủ đề đó.

Con không nhất thiết phải theo một khóa học chính thức. Có thể là con tự học về chủ đề đó. Con trở thành một chuyên gia về chủ đề theo nghĩa con biết chủ đề đó qua nhiều góc độ, nhiều tầm nhìn. Việc này có kết quả gì? Nó tạo một cấu trúc qua đó tâm Ki-tô có thể biểu đạt qua tâm của con, để có một chén thánh mà tâm Ki-tô chảy vào được. Lẽ tất nhiên con có một biểu tượng khác từ Kinh thánh là chiếc chén thánh mà Ki-tô dùng trong bữa ăn tối cuối cùng, mà người đời thường gọi là chiếc Chén thánh (Holy Grail). Biểu tượng này là khi con đạt được một kỹ năng nào đó, một kiến thức nào đó, thì con tạo ra trong bốn thể phàm của con một chiếc chén để khi con trưởng thành trong quả vị Ki-tô, thì có một chiếc chén thánh, một cấu trúc, để rượu của tâm thức Ki-tô có thể rót vào. Bởi vì Ki-tô không thể chảy vào chỗ trống không, không thể chảy vào cái bình rỗng và bị đổ vãi xuống đất.

5.1. Tâm Ki-tô cần một cấu trúc để biểu đạt

Một lần nữa, như Padmasambhava đã chỉ ra, tâm vỏ ngoài, tâm thuần lý có thể lấy bất cứ gì các thày nói và bẻ quẹo và nói: “Đây chẳng phải là một mâu thuẫn sao, vì chẳng phải là Padmasambhava đã nói là con cần thấy tất cả những ngã dính mắc vào quá khứ, dính mắc vào tương lai? Chúng ta có thể suy diễn chăng là nếu ta dọn sạch tâm khỏi tất cả những ngã này thì tâm sẽ thông thoáng và ánh sáng Ki-tô có thể tuôn chảy.”

Ngay đây, thày đang nói chuyện con trở thành một chuyên gia về một chủ đề nào đó, con tạo dựng một cấu trúc trong tâm. Thày không nói tới việc dựng lên một cấu trúc qua các ngã tiềm thức tách biệt. Thày nói tới việc dựng lên một cấu trúc kiến thức, hiểu biết, kỹ năng để tâm Ki-tô có một cái gì qua đó nó có thể được biểu đạt. Con có thể nói: “Đây là một sứ giả đang truyền đạt một thông điệp từ một chân sư thăng thiên tuôn chảy tự nhiên từ tâm Ki-tô, và đúng vậy, người sứ giả, như ông đã giải thích, tìm cách ở trong tâm thái trung hòa.” Nếu ông tuyệt đối không biết gì về chủ đề thì thày không thể trao bài truyền đọc qua ông. Qua người sứ giả này, thày không thể trao một bài truyền đọc có chất lượng trong lãnh vực vật lý thiên văn hay vật lý hạt nhân hay giải phẫu não bộ. Vì trong tâm người sứ giả không có cấu trúc có thể đón nhận những khái niệm mà thày có trong tâm thày.

Đây là điều thày muốn nói khi thày nói tới việc con dấy lên một chén thánh, con tạo một chén thánh. Chén thánh không được cấu tạo với những ngã tách biệt. Nó gồm những khái niệm, ý tưởng, ngôn ngữ để con có thể đón nhận những xung lực đến từ tâm Ki-tô. Lẽ tất nhiên, rõ ràng đây không phải là chuyện đơn giản. Không phải là con chỉ cần thu thập tất cả sách con có thể tìm được về một chủ đề và nghiên cứu các sách này và viết xuống những ghi chú, và thế là xong, con biết hết mọi chuyện. Bởi vì thách đố là cung cấp một cấu trúc để Ki-tô có thể chảy vào nhưng cùng lúc hạn chế càng ít càng tốt sự biểu đạt của tâm Ki-tô.

5.2. Kiến thức thế gian có thể hạn chế Ki-tô

Ý thày muốn nói là gì? À, điều thày muốn nói là nếu con lấy ví dụ một nhà khoa học lớn lên trong một xã hội Tây phương hay một xã hội hiện đại, đi học, lên đại học, học một số năm, tốt nghiệp, tìm được một việc làm, tiếp tục thử nghiệm và học hỏi, nhà khoa học đó trong khung cảnh hiện hành trên Trái đất sẽ bị lập trình, bị nhồi sọ, bị tẩy não bởi triết lý, ý thức hệ, tôn giáo gọi là chủ thuyết khoa học duy vật. Có nghĩa là nếu nhà khoa học ấy hấp thụ những ý tưởng đã được đặt để trong tâm, thì y sẽ không dám đón nhận bất cứ gì từ tâm Ki-tô chất vấn, thách thức, vượt lên trên thế giới quan duy vật. Lẽ dĩ nhiên điều này sẽ giới hạn sự biểu đạt của tâm Ki-tô.

Con thấy thách đố là con trở thành một chuyên gia trong một lãnh vực nào đó mà không lấy vào những tin tưởng giới hạn hiện có trong lãnh vực đó. Có thể đó không phải là chủ nghĩa duy vật, mà là những ý tưởng khác. Đó có thể là những ý tưởng vi tế không thuộc bất kỳ ý thức hệ hay tôn giáo nào. Trong bất kỳ lãnh vực nào cũng có một số giới hạn và tại sao thày nói thế? Bởi vì nếu con nhìn vào bất kỳ lãnh vực nào của xã hội, thì con thấy có một lối suy nghĩ, một hệ thuyết nào đó thống trị lãnh vực đó. Cho dù nó tạo nền móng cho lãnh vực đó, nhưng nó cũng giới hạn khả năng con người đón nhận ý tưởng mới từ cõi thăng thiên. Lẽ tất nhiên, đây là một thách đố cho con, nhưng nó không lớn bằng thách đố cho những người ở thế giới ngoài kia không hay biết gì về quả vị Ki-tô.

Khi con có kiến thức mà các thày đã cho con về quả vị Ki-tô, thì con có thể thấy là con có thể nghiên cứu một lãnh vực, biết những gì được đưa ra trong lãnh vực đó cho tới ngày nay mà không giới hạn tư duy của mình bằng cách suy nghĩ: “À, đây là kiến thức tối hậu.” Một khi con có tầm nhìn tâm linh về cuộc đời, giả dụ con biết chủ thuyết khoa học duy vật không phải là thế giới quan tối hậu hay thế giới quan Công giáo không phải là cái nhìn tối hậu. Do đó, con có thể tránh không để tâm mình bị giới hạn bởi những hộp tư duy đã được tạo ra trong thế gian, như vậy kiến thức của con không giới hạn khả năng của thày hay một chân sư thăng thiên khác gửi cho con những ý tưởng mới có thể đẩy lãnh vực này tiến lên, và con có thể nói về lãnh vực đó một cách mới, khác lạ, đưa ra một tầm nhìn khác có thể giúp người khác suy nghĩ.

5.3. Kỷ luật tâm Ki-tô

Giờ đây có một khía cạnh khác của yếu tố cha là em bé Ki-tô, vì vẫn còn là một em bé, nên cần có người đặt giới hạn cho nó. Có những câu chuyện kể rằng khi Giê-su còn nhỏ, thày thử nghiệm dùng quyền năng của thày, tỷ dụ như thày nặn những hình tượng đất sét và thổi sự sống vào chúng. Giờ đây, mặc dù những câu chuyện này hư cấu, đây là một ví dụ về những mơ tưởng của con người khi nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô. Họ nghĩ họ có thể làm những phép lạ như thế, biểu hiện đủ loại phép lạ, đủ loại dấu hiệu và điều kỳ diệu. Đây là điểm cần kỷ luật tâm Ki-tô để nó có thể hòa điệu với thời đại và xã hội nó đang sống.

Như các thày đã nói trước đây, tâm thức tập thể vào thời Giê-su dày đặc đến độ Giê-su cần làm một số chuyện có vẻ như phép lạ để lôi kéo sự chú ý của con người. Giờ đây con có thể nhìn tất cả những phép lạ được mô tả trong kinh thánh theo nghĩa biểu tượng và thấy được ý nghĩa biểu tượng sâu xa đằng sau thay vì hiểu chúng theo nghĩa đen, nhưng đây là một câu chuyện mà chúng ta sẽ thảo luận một lúc khác. Điều thày muốn chỉ ra ở đây là vì nhiệt tâm muốn biểu hiện, tâm Ki-tô có thể biểu hiện một số điều không nhất thiết xây dựng trong một hoàn cảnh đặc thù.

Con cần phải kỷ luật tâm con bằng cách nhận ra con sẽ có những ngã trong tiềm thức muốn biểu hiện một chuyện gì không thể bác bỏ để con có thể chứng minh có cái gì vượt lên trên những gì con người tin. Điều này đặc biệt áp dụng cho các avatar vì con có một viễn quan nào đó, con có một mong muốn nào đó trước khi tới Trái đất mà con muốn thực hiện. Sau đó con gánh chịu chấn thương nhập đời, cảm thấy bị xua đuổi, con bắt đầu hoài nghi mình có thể hoàn tất ước muốn của mình. Khi con bắt đầu biết khái niệm quả vị Ki-tô và mở lòng đón nhận khả năng có thể có Ki-tô sinh ra trong con, thì con có thể dễ dàng chuyển động cơ này vào và nghĩ: “À, khi tôi đạt quả vị Ki-tô thì tôi có thể làm điều tôi muốn làm trước khi tới đây, tôi có thể biểu hiện điều mà họ không thể bác bỏ, họ không thể coi khinh.” Đây không phải là một biểu hiện quả vị Ki-tô thích đáng trong đa số trường hợp và do đó yếu tố cha cần can thiệp và kỷ luật em bé Ki-tô. Yếu tố cha trong bản thể của con là gì?  Nó không phải là cái Ta Biết, nó là Hiện diện TA LÀ. Khi cái Ta Biết hòa điệu với Hiện diện TA LÀ, con có thể học cách biểu đạt quả vị Ki-tô một cách thận trọng hơn.

Giờ đây, như PadmaSambhava đã chỉ ra, một lần nữa có vẻ như các thày mâu thuẫn với nhau vì các thày đã từng nói, ngay cả trong kinh thánh, là Thánh linh thổi nơi nó muốn. Ý này hòa hợp thế nào với ý con phải hạn chế sự biểu hiện quả vị Ki-tô của con? À, thày không nói là tâm vỏ ngoài của con phải hạn chế biểu hiện quả vị Ki-tô của con. Thày nói Hiện diện TA LÀ của con làm việc này. Tâm vỏ ngoài sẽ hạn chế quả vị Ki-tô dựa trên nền văn hóa, ví dụ như nền văn hóa của quốc gia hay gia đình nơi con sống, và nền văn hóa này quy định cái gì là điều thích đáng. Hiện diện TA LÀ không bị các trói buộc này. Nó có viễn quan cao hơn về cách xây dựng nhất để biểu đạt quả vị Ki-tô.

5.4. Để cho tự ngã quy định quả vị Ki-tô

Điều này dẫn thày tới một đề tài mà không phải chỉ có thày sẽ bình luận trong hội nghị này. Đây là một đề tài mà một lần nữa, quả thực chỉ có Hiện diện TA LÀ mới giúp được con có viễn kiến về điều thày sắp nói tới. Con thấy ở đây, chúng ta hãy bước lùi lại và nhìn hoàn cảnh một người tìm ra giáo lý chân sư thăng thiên, nghe thấy khái niệm quả vị Ki-tô cá nhân và quyết định: “Tôi muốn biết thêm về đề tài này.” Hoàn cảnh một người tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên là gì? Hoàn cảnh của tất cả các con khi tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên là gì? À, con đã lớn lên trong một nền văn hóa nào đó, con có một tâm lý nào đó dựa trên các kiếp trước và kiếp này, con có một số ngã tiềm thức, những ngã này cùng nhau họp thành một tập hợp mà chúng ta gọi là tự ngã. Khuôn tư duy của con, cách con nhìn thế gian, cách con nhìn chính mình, toàn bộ cách con tiếp cận cuộc sống đều bị pha màu tới một mức nào đó bởi tự ngã.

Chúng ta có thể nói đây là bí ẩn chủ yếu trên con đường tâm linh. Nó là một thách đố cho con, nó là một thách đố cho các thày, các chân sư thăng thiên. Bởi vì khi con nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô, con vẫn còn bị tự ngã pha màu nhiều đến độ con sẽ pha màu tất cả những gì các thày nói về quả vị Ki-tô.

Các thày thấy hiện tượng này trong các tổ chức Phong trào TA LÀ (I AM Movement), Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse) và đợt truyền giáo này khi những học trò mới, và ngay cả những người đã đi khá lâu trên con đường tâm linh, nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô (hay trạng thái tâm thức cao hơn). Trong tâm họ, họ tạo ra một hình ảnh về ý nghĩa quả vị Ki-tô và hình ảnh này bị pha màu một mức nào đó bởi tự ngã, bởi các ngã tiềm thức. Một lần nữa, thày không nói những điều này để trách cứ con. Chuyện này không tránh được. Không thể có cách nào khác. Tất cả những người đã thăng thiên từ Trái đất đều trải qua tình trạng tương tự. Khi chúng tôi lần đầu tiên nghe tới các khái niệm này, thì trong tâm chúng tôi pha màu các ý tưởng, các khái niệm đó với các quan điểm, tầm nhìn của tự ngã.

Một lần nữa, yếu tố cha trong tâm con, Hiện diện TA LÀ, sẽ có thể gửi cho con những xung lực vi tế có thể giúp con thấy khi nào nỗ lực biểu đạt quả vị Ki-tô của con bị pha màu bởi tự ngã. Điều này có một số hệ quả mà các thày sẽ nói tới sau nhưng điều thày muốn tập trung ở đây là ý tưởng tự ngã sẽ luôn luôn nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô, uy lực của tâm Ki-tô sẽ có thể thực hiện những mong muốn của tự ngã.

5.5. Tìm cầu bất khả thi của tự ngã

Các con hãy lắng nghe điều thày sắp nói. Tự ngã có một số ham muốn. Tự ngã thấy những ham muốn của nó chưa được hoàn thành. Do đó tự ngã lúc nào cũng bực bội. Như các thày đã giải thích, những ham muốn sâu thẳm của tự ngã không thể nào hoàn thành. Tại sao thế? Bởi vì tự ngã, ít nhất trong biểu hiện thấp của nó, được sinh ra khi con bước xuống dưới tầng 48 của tâm thức, khi con bước vào ảo tưởng tách biệt, ngừng không thấy mình là một sinh thể kết nối.

Đây là một mất mát bởi vì khi con thấy mình là một sinh thể kết nối thì con có cảm nhận con có thể hoàn thành tối hậu các mong muốn của con bằng cách gia tăng kết nối với Hiện diện TA LÀ. Mong muốn tối hậu của cái Ta Biết là hợp nhất với Hiện diện. Mãn nguyện tối hậu của cái Ta Biết là hợp nhất với Hiện diện. Khao khát tối hậu của cái Ta Biết là trở về hợp nhất với Hiện diện.

Khi con thấy mình là một sinh thể kết nối, thì con chưa cảm thấy hoàn toàn là một với Hiện diện, con chưa cảm thấy hoàn toàn mãn nguyện, nhưng con biết là nếu con gia tăng cảm nhận kết nối, gia tăng cảm nhận hợp nhất, thì con có thể càng ngày càng tiến gần hơn điểm thành tựu tối hậu của mọi ước muốn. Ngay lúc con bước vào tách biệt và tạo ra tự ngã, con không thể thỏa mãn ước muốn là một với Hiện diện qua tự ngã. Lẽ tất nhiên con có thể đạt điều này bằng cách trở về là một sinh thể kết nối, nhưng khi con còn nhìn mình qua pha màu của tự ngã, phin lọc nhận thức của tự ngã, thì con không thể nào thực hiện ước muốn tối hậu của con. Cho nên, ngay từ đầu cuộc tìm cầu của tự ngã không thể thực hiện, nhưng tự ngã lẽ tất nhiên sẽ không bao giờ có thể thấy điều này, không bao giờ. Nó còn không thể hiểu điều này bằng trí năng.

Tự ngã luôn luôn tìm cái gì đó có thể bù đắp cho sự thiếu nối kết cơ bản của nó với Hiện diện. Thoạt tiên, tự ngã tìm cái gì đó trong thế giới vật chất, cái gì đó trong vật chất có thể thỏa mãn con. Nếu con có đủ tiền, nếu con có đủ quyền lực, nếu con có đủ cái này, có đủ cái kia trong thế giới vật chất thì con sẽ toại nguyện.

Rất nhiều người, trải qua nhiều thời đại, đã đi tìm thỏa nguyện qua vật chất nhưng dù họ làm gì chăng nữa, họ không được thỏa nguyện. Các sa nhân đã qua nhiều bầu cõi tìm thỏa nguyện qua cái gì đó trong thế giới vật chất và họ đã không tìm ra. Một sinh thể có thể rốt cuộc tới điểm chán ngán sự tìm cầu bất khả thi đó. Y thấy tìm cầu này vô ích, thấy nó phù phiếm, vô nghĩa, trống rỗng. Lúc ấy, y có thể sẵn sàng mở tâm ra với một con đường tâm linh chỉ đến một cái gì vượt lên trên thế gian này.

Con thấy đấy, tự ngã vẫn tìm cách làm việc bất khả thi. Khi con nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô, tự ngã nghĩ gì? Nó nghĩ: “À! Quả vị Ki-tô là cách để làm được cái bất khả thi. Chắc chắn là tâm Ki-tô… Kìa! hãy nhìn những phép lạ của Giê-su! Chắc chắn khi tôi đạt quả vị Ki-tô, tôi có thể làm được cái bất khả thi.” Nhưng con không làm được. Thánh linh thổi nơi nó muốn, quả vị Ki-tô biểu hiện chính nó theo một viễn quan rộng lớn, không theo viễn quan của tự ngã.

5.6. Tầm nhìn của tự ngã về quả vị Ki-tô

Con thấy đấy, một trong những yếu tố chính có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô nơi bất cứ ai chính là việc con có trong tâm vỏ ngoài một ý tưởng nào đó, một viễn quan nào đó là khi con là Ki-tô, khi con đạt quả vị Ki-tô, con có thể làm phép lạ này, làm điều siêu nhiên kia, con có thể làm cái bất khả thi. Ngày nào con còn mang niềm tin này thì con có thể tới gần quả vị Ki-tô nhưng con sẽ không bao giờ vượt qua mức đến.

Con sẽ giống như người chạy một cuộc đua dài, một ma-ra-tông, y thấy mức tới nhưng y không nhận ra có sợi dây toòng teng sau lưng y buộc vào một cột gỗ. Ngay trước khi chạm mức đến, sợi dây đã kéo dãn đến mức tối đa. Người chạy đua vẫn tiếp tục chạy, hai chân giơ cao, hai cánh tay vung vẩy, buồng phổi hít thở và y nghĩ: “Tôi rất gần mức đến, tôi ngay sát mức đến,” nhưng y không nhận ra sợi dây không cho phép y tiến xa hơn.

Các thày đã thấy đệ tử chân sư thăng thiên, các thày đã thấy đệ tử tâm linh thuộc các truyền thống khác kẹt ở chỗ đó. Họ chạy đua, họ thực tập, họ đọc bài chú, họ làm điều này nọ, họ học hỏi và họ nghĩ: “Tại sao tôi chưa tới? Tại sao tôi chưa tới?” Bởi vì họ bị buộc vào tự ngã qua ham muốn đạt cái gì tối hậu.

Mẹ Mary đã giải thích tận tường điều gì? Con không thể xoay chuyển tức khắc từ không là Ki-tô sang là Ki-tô. Đây là một tiến trình đòi hỏi nhiều bước tuần tự nhưng tự ngã thì không có thời gian bước tuần tự. Nó muốn quả vị Ki-tô ngay bây giờ, nó muốn toại nguyện tối hậu ngay bây giờ và cách nhìn đó có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô của con nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác. Lẽ tất nhiên có những yếu tố khác nhưng yếu tố này có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô của con nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác.

Cho nên, con cần bỏ thời giờ để quán chiếu điều này. Con hãy hỏi bất kỳ vị chân sư nào con cảm thấy gần gũi với con, xin thày giúp con thấy những yếu tố nào trong tâm con, trong tiềm thức con, trong bốn tầng của tâm con vẫn còn giấc mơ biểu hiện điều gì tối hậu. Một điều không thể bác bỏ, một điều mà con người ở đây trên Trái đất không thể bác bỏ và rốt cuộc họ sẽ lắng nghe con, họ sẽ công nhận con và họ sẽ nhìn con như một vị cứu tinh, như vị cứu thế mà con ao ước mình là trước khi con tới đây. Đây là điều mà tất cả chúng ta đều ao ước trước khi tới Trái đất, bởi vì tất cả chúng ta đều có một viễn kiến nào đó về điều chúng ta muốn hoàn thành trên Trái đất, bằng không chúng ta đâu đã tới đây, không một ai trong chúng ta đã tới đây.

Con thấy chăng, viễn kiến đó vẫn có thể có giá trị nhưng khi nó bị pha màu bởi tự ngã thì nó mất giá trị. Nó trở thành sợi dây kềm con lại không cho con vượt qua mức đến. Lẽ tất nhiên, không có mức đến vì như Mẹ Mary đã giảng, quả vị Ki-tô là một tiến trình liên tục không bao giờ dứt.

Khi nào thì con hoàn toàn là Ki-tô? Ngày nào con còn trên Trái đất thì chuyện đó sẽ không xảy ra. Ngay cả ngay lúc con thăng thiên con vẫn chưa hoàn toàn là Ki-tô. Khi con đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo, chúng ta có thể nói tới thế nào là Ki-tô toàn vẹn. Nhưng chuyện này còn xa xăm lắm với tất cả chúng ta, kể cả thày là một chân sư thăng thiên đang làm việc với Trái đất.

5.7. Giấc mơ đạt cái tối hậu

Con thấy đấy, con cần phải buông bỏ giấc mơ đạt cái gì đó tối hậu, để con muốn là Ki-tô từng bước một. Con biểu đạt quả vị Ki-tô từng bước một. Ngay cả một biểu đạt quả vị Ki-tô nhỏ nhất cũng quan trọng vì nó giúp con trải nghiệm tâm Ki-tô có thể chảy qua con và con có thêm tin tưởng tâm Ki-tô có thể biểu đạt qua con và sẽ biểu đạt chính nó qua con.

Chuyện đó cũng giúp con nhận ra tâm Ki-tô chỉ có thể biểu đạt chính nó qua con khi tự ngã của con không tìm cách kiểm soát Ki-tô, không ép uổng nó vào một hình tướng nào đó. Bởi vì nếu tâm Ki-tô biểu đạt chính nó qua hình ảnh mà tự ngã của con cầm giữ, thì tâm Ki-tô sẽ chứng nhận hình ảnh đó. Cái Ta Biết sẽ nghĩ cái nhìn của tự ngã về Ki-tô là cái nhìn tối hậu về Ki-tô và lẽ tất nhiên điều này có thể trở thành một khối đá khác buộc nặng vào cổ con.

Vì tự ngã sẽ không bao giờ nắm bắt được Ki-tô là gì. Thậm chí nó còn không hiểu được bằng trí năng bởi vì các thày đã nói gì nhiều lần? Ki-tô luôn luôn là hơn nữa. Ki-tô biểu hiện cái hơn nữa trong mỗi tình huống nhưng nó không phải là cái tối hậu, nó chỉ hơn một chút xíu và điều này giúp con người thấy được có nhiều điều mà họ có thể hiểu hơn, có thể nắm bắt hơn so với những gì họ đang hiểu ngay bây giờ. Ki-tô dẫn họ lên một bước cao hơn. Đó là Ki-tô.

Một lần nữa con thấy là giấc mơ biểu đạt Ki-tô tối hậu có thể phá hoại ngay cả một biểu đạt Ki-tô nhỏ nhất, do đó giấc mơ sẽ khiến con không bao giờ bắt đầu. Lẽ dĩ nhiên đây là mục tiêu lớn của tự ngã. Khi con nghe thấy con đường quả vị Ki-tô, tự ngã muốn con không bao giờ bắt đầu theo con đường đó. Nó muốn con theo con đường giả bắt Ki-tô chiều theo viễn kiến của tự ngã nhưng Ki-tô sẽ không bao giờ chiều theo. Cho nên, lúc ấy con làm gì? Con người làm gì khi họ đi con đường giả, con đường cánh tả? Họ dùng tự ngã để dựng một thần tượng về Ki-tô, quy định Ki-tô là gì và họ tìm cách sống theo thần tượng đó, khép mình theo thần tượng đó.

Có những ví dụ những người đạt được một số khả năng khuynh loát người khác, khuynh loát tâm, thậm chí điều khiển vật chất bằng cách đi theo con đường cánh tả. Đây không phải con đường mà các thày muốn giúp con đi. Các thày tìm cách giúp con đi con đường chân chính thật sự dẫn con tới quả vị Ki-tô.

5.8. Con đường chân chính tới quả vị Ki-tô

Cái gì có thể hướng dẫn con đi theo con đường chân chính? Đó là yếu tố cha trong bản thể con. Yếu tố cha là Hiện diện TA LÀ của con, nhưng cũng là tất cả các chân sư thăng thiên, những vị gần con nhất. Một nữ chân sư thăng thiên có thể đại diện cho yếu tố cha trong bản thể con nếu con sẵn lòng xin được hướng dẫn.

Chưa bao giờ có ai thăng thiên từ Trái đất bằng một bước nhảy vĩ đại, hay không có sự trợ giúp từ bên trên. Đây là toàn bộ ý tưởng về Ki-tô. Con hãy cẩn thận lắng nghe chỗ này. Một khi con đi vào tách biệt và nhị nguyên, con không thể tự mình thoát ra. Tâm con có thể lý luận để đi vào nhị nguyên và tách biệt. Nó không thể lý luận để thoát ra.

Chỉ có một con đường thoát duy nhất, đó là kết nối lại với tâm Ki-tô. Con không thể kết nối với tâm Ki-tô hoàn vũ, con chỉ có thể kết nối với một biểu hiện cá nhân của tâm Ki-tô, là một chân sư thăng thiên. Đấy là vai trò của các thày, vai trò mà các thày đã chọn. Đấy là vai trò các thày được giao phó. Các thày hoan hỉ hướng dẫn con nhưng các thày tôn trọng quyền tự quyết của con. Do đó, con phải hỏi, con phải hỏi với tâm cởi mở và càng trung hòa càng tốt.

Biết bao nhiêu đệ tử đã đến xin thày hướng dẫn nhưng họ nói trong tiềm thức: “Ôi Saint Germain, xin thày chứng nhận tự ngã của con! Con quả thực cảm thấy nếu thày chứng nhận tự ngã của con, đấy sẽ là chứng nhận cao nhất mà tự ngã của con có thể có được và con sẽ cảm thấy rất đỗi dũng mãnh và sung sướng.” Lẽ tất nhiên, thày không thể cho con điều con xin như thế vì làm như vậy sẽ giam con nặng hơn trong các ảo tưởng của tự ngã.

Đó là lý do tại sao yếu tố cha đôi khi phải phát mông em bé, nói một cách biểu tượng, phải mạnh tay kéo em bé ra khỏi niềm tin là nó đã hiểu hết mọi chuyện. Con có thể nghĩ, và nhiều người cũng nghĩ thế trải qua nhiều thời đại, là con đã hiểu hết mọi chuyện, nhưng họ chỉ làm được một chuyện là ngăn họ bước vào vương quốc Thượng đế. Bởi vì vương quốc Thượng đế ở đâu? Bên trong con. Không phải bên trong thể vật lý của con, không phải bên trong thể tình cảm của con, không phải bên trong thể lý trí của con, không phải bên trong thể bản sắc của con. Nó ở bên trong Con, bên trong cái Ta Biết. Cái gì ở bên trong cái Ta Biết? Hiện diện TA LÀ.

Tới đây thì thày đã cho con những gì thày muốn cho con, ngay cả nhiều hơn một chút. Thày cảm ơn các con đã chú ý, đã cho phép thày là vị cha như thày đã là cha cho Giê-su và như thày đã là cha cho Ki-tô sinh ra trong chính thày – hay ít ra Hiện diện TA LÀ của thày đã là cha. Tới đây, thày niêm con trong niềm vui của tim thày.

3 | Trong tâm Ki-tô có quá khứ hay tương lai chăng?

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên PadmaSambhava qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên PadmaSambhava. Một số người có thể nói: “Chẳng phải thày từ truyền thống Phật giáo mà ở đây lại là một hội nghị về quả vị Ki-tô?” Ấy, trước tiên, thày không phải từ truyền thống Phật giáo. Thày là một chân sư thăng thiên! Chẳng có chân sư thăng thiên nào từ bất kỳ truyền thống nào trên Trái đất. Bởi chưng làm sao con thăng thiên? Bằng cách con thăng vượt mọi truyền thống trên Trái đất – dù truyền thống này, truyền thống nọ, hay cái sắp tới. Chẳng có xiềng xích nào trên Trái đất có thể trói con khi con thăng thiên. Thăng thiên là toàn bộ tiến trình vứt quăng xiềng xích này trước tiên, rồi xiềng xích kế tiếp, rồi xiềng xích kế tiếp cho tới khi không còn xiềng xích nào nữa. Sau đó, con có thể bước vào cõi thăng thiên. Nếu con thấy thày đến từ một truyền thống nào đó thì con chưa hòa điệu với sinh thể thăng thiên mà THÀY LÀ.

3.1. Điều gì có thể hạn chế Ki-tô?

Sau đó, lẽ tất nhiên, là khái niệm quả vị Ki-tô. Đúng, có các từ quả vị Ki-tô, đấng Ki-tô, Ki-tô giáo. Quả vị Ki-tô có thể nào bị trói xích bởi bất kỳ truyền thống nào, tôn giáo nào trên Trái đất chăng? Có thể nào giới hạn nó trong học thuyết hay giáo điều, lễ nghi? Không đâu, quả vị Ki-tô là một trạng thái tâm thức cao hơn. Nó là Tâm Một, Tâm Một hợp nhất đấng Sáng tạo với tạo vật của ngài. Điều này cũng vượt lên trên bất cứ gì trên Trái đất. Con có thể chứng minh điều này khi đọc Phúc âm của John (Giăng). Ban đầu có Ngôi Lời. Ban đầu có tâm Ki-tô, Tâm Một. Trước khi bất cứ gì, bất cứ hình tướng nào xuất hiện thì có Tâm Một, tâm Ki-tô và chẳng vật chi được làm nên mà không bởi Nó. Trước tiên có tâm Ki-tô rồi sau đó có hình tướng.

Làm sao bất kỳ hình tướng nào có thể giới hạn cái đến trước nó? Đây là lời dối của sa nhân hay tâm phản-Ki-tô mà họ muốn con người trên Trái đất tin, rằng hình tướng có thể giới hạn nguồn gốc của nó mà nguồn gốc đó theo định nghĩa phải vượt lên trên hình tướng. Họ nói hình tướng có thể giới hạn cái vô tướng, cái vượt lên trên hình tướng. Nhìn ra lời dối này có khó chăng? À đây là thế bí, là bí ẩn. Con chỉ có thể thấy đó là lời dối khi con đã hòa điệu được phần nào với tâm Ki-tô. Hòa điệu này giúp con điều gì? À, nó cho con một khung tham chiếu vượt lên trên tranh luận, lý luận, suy nghĩ trí năng, giáo điều và học thuyết, thảo luận. Không điều gì trên Trái đất có thể trói xích tâm Ki-tô. Không hình tướng nào có thể trói buộc cái vô tướng. Nó chỉ có thể trói buộc chính nó và nó trói buộc con nếu con tin nó, nếu con tin hình tướng có thể giới hạn sự biểu hiện Ki-tô trong con.

Có phải điều thày nói mâu thuẫn với điều Mẹ Mary đã giảng giải cẩn thận chăng? Rằng sự biểu đạt quả vị Ki-tô cần thích ứng với hiện trạng trên Trái đất ngay bây giờ? Có phải chăng cốt lõi của điều Mẹ Mary nói là sự biểu hiện quả vị Ki-tô, là sự biểu hiện của cái vô tướng, phải bị giới hạn bởi, phải thích nghi với hình tướng đang có mặt ở đây ngay bây giờ? Có phải chăng thày đang nói ngược lại? Không đâu, một khi con nắm bắt là dù Ki-tô thích ứng với hình tướng như nó đang là ngay bây giờ, nhưng sự biểu hiện của Ki-tô luôn luôn vượt quá hình tướng. Đấy chính là toàn bộ mục tiêu. Mẹ Mary không nói là Ki-tô phải tuân theo hình tướng nhưng phải thích nghi với hình tướng. Tuy thế sự biểu hiện của Ki-tô vượt lên trên hình tướng như nó đang ở đó trong hiện tại, và bày tỏ cái gì vượt lên trên. Điều Mẹ Mary nói là biểu hiện Ki-tô không thể đi quá xa hình tướng khiến những ai vẫn còn đồng hóa với hình tướng không thể nắm bắt biểu hiện đó. Biểu hiện Ki-tô phải thích nghi với trình độ tâm thức của họ để họ thấy có cái gì hơn thế. Lúc đó họ có thể thấy gì khi trải nghiệm sự biểu hiện của tâm Ki-tô? À, họ có thể trải nghiệm có cái gì hơn hình tướng mà họ coi là quan trọng ngay lúc này.

3.2. Mẫu số chung cho tất cả mọi người

Con hãy nhìn chính mình, những người con quen biết, mọi người trên thế giới. Mẫu số chung của mọi người là gì? Có cái gì đó quan trọng với họ. Một cái gì trên Trái đất, một cái gì có hình tướng. Có cái gì trong vật chất quan trọng với họ. Khi con gặp Ki-tô, con có thể thấy là những điều trước kia rất quan trọng với con nay không còn quan trọng đến như vậy. Thày muốn cho các con ý tưởng này ở phần đầu hội nghị này. Con hãy quán chiếu nó khi con có chút thì giờ trong hội nghị hay sau hội nghị. Con có thể quán chiếu nó trước khi ngủ buổi tối. Con hãy quán chiếu: “Tại sao điều tôi coi là quan trọng lại quan trọng với tôi?” Tại sao điều con coi là quan trọng lại quan trọng với con? Con quán chiếu câu này.

Con sẽ thấy là có nhiều điều con coi là quan trọng. Các điều này không nhất thiết có hình tướng vật lý. Nó có thể là cách người khác nhìn con. Hay con nghĩ người khác đang nhìn con như thế nào. Hay con muốn người khác nhìn con như thế nào. Hay cách con thực sự nhìn chính mình, dựa trên cách người khác nhìn con – và vân vân và vân vân và vân vân. Khi con bắt đầu quán chiếu các điều này, con có thể thấy có nhiều điều mà con coi là quan trọng và có cái gì ẩn núp đằng sau mỗi điều mà con coi là quan trọng đó? À, lẽ dĩ nhiên là một ngã tiềm thức.

Đâu là chìa khóa thiết yếu để giải quyết bí ẩn tại sao điều con coi là quan trọng lại quan trọng với con? Đó là con tự hỏi: “Chúng quan trọng với cái ‘ta’ nào? Có phải là cái ta mà con thật sự là, cái Ta Biết? Hay đó là một cái ta vỏ ngoài?” Một cái ‘ta’ nào đó mà có thể con đã tạo ra nhiều kiếp trước, có thể do chấn thương nhập đời hoàn vũ, khiến con nghĩ cách thế gian nhìn con quan trọng với con. Cái ta này chỉ có thể nghĩ như vậy vì nó được tạo ra dựa trên tin tưởng, ảo tưởng là cách thế gian nhìn con quan trọng với con, cách hình tướng nhìn con quan trọng với con, cái Ta Biết.

Có bất cứ hình tướng nào quan trọng với cái Ta Biết chăng? Không, khi cái Ta Biết biết nó là nhận biết thuần khiết, là biểu hiện của Hiện diện TA LÀ. Khi nó biết nó là một sinh thể tâm linh đã đi xuống thế giới vật chất này và đang biểu hiện chính nó, đang tương tác với thế giới vật chất, qua nội dung của bốn thể phàm. Khi cái Ta Biết nhận ra rằng: “Tôi không phải là nội dung của bốn thể phàm này,” thì cái Ta Biết có thể tới điểm nhìn vào một điều đặc thù mà con coi là quan trọng, đã coi là quan trọng suốt đời này, suốt nhiều kiếp trước. Nó nhìn vào đó và trải nghiệm: “Ừ đúng rồi, nó quan trọng với cái ‘ta’ ngoài kia trong bốn thể phàm của tôi, nhưng nó không quan trọng với tôi.” Đó là lúc con được giải thoát, khi con thấy điều đó không quan trọng với con. Nó chỉ quan trọng với cái ta vỏ ngoài.

3.3. Cái ta thấy có chuyện quan trọng

Sau đó con có thể bắt đầu nhìn cái ta vỏ ngoài đó và con có thể bắt đầu thấy là có thể có một tình huống đặc thù, có thể có một tin tưởng đặc thù mà con đã chấp nhận, cho rằng cách thế gian nhìn con, cách thế gian phản ứng lại con, cách thế gian chấp nhận hay bác bỏ con, là điều quan trọng với con. Nhưng nó chỉ quan trọng với cái ngã đã được tạo ra và ngã này được tạo ra vì do một lý do nào đó con đã nghĩ cách thế gian phản ứng lại biểu hiện Ki-tô của con quan trọng với con, việc thế gian bác bỏ hay chấp nhận con quan trọng với con.

Điều này dễ hiểu. Như các thày đã nói, tất cả những người đã đầu thai trên Trái đất đều kinh qua cùng một tiến trình. Tất cả những người đã đầu thai trên Trái đất như những avatar, chúng ta đã tới đây vì muốn làm một điều gì. Chúng ta muốn thay đổi một điều gì. Bằng không chúng ta đã không tới đây. Khi con bắt đầu thấy một ngã và thấy là điều quan trọng với ngã không quan trọng với cái Ta Biết và con trải nghiệm con có thể thoát khỏi ngã đó – và khi con đã trải qua tiến trình này nhiều lần – thì con có thể tới điểm cái Ta Biết nhận ra thế gian chấp nhận hay bác bỏ biểu hiện Ki-tô của con chẳng quan trọng gì với con. Điều quan trọng là quả vị Ki-tô được biểu hiện. Hình thức của biểu hiện, phản ứng đối với biểu hiện không quan trọng, chính sự biểu hiện là quan trọng. Điều quan trọng là ánh sáng được cho phép tỏa sáng.

Đây có thể là điểm khởi đầu mà Mẹ Mary đã nói tới, khi con tới điểm Ki-tô trong con đã trưởng thành tới mức sẵn sàng biểu hiện trên thế gian. Lúc đó, con có thể biểu hiện Ki-tô với tâm thái không dính mắc: phản ứng của thế gian với biểu hiện Ki-tô trong con không quan trọng với cái Ta Biết. Nó không quan trọng với bất kỳ ngã nào, vì ngã đã được giải trừ. Con đã cho nó chết, như Ki-tô đã cho ngã cuối cùng chết trên thập tự để được tự do. Tất cả chúng ta đều đã phải làm cùng chuyện này để thăng thiên, nhưng con có thể làm mà chưa thăng thiên ngay lập tức. Con có thể đạt mức đó trong khi vẫn còn nhiều năm hay nhiều thập niên sống trong thân vật lý và do đó con có thể biểu hiện. Chuyện gì tới cứ tới, con vẫn biểu hiện. 

3.4. Tại sao có chuyện quan trọng?

Có điểm quan trọng cần quán xét để giải quyết bí ẩn của việc làm sao biểu hiện Ki-tô trên thế gian là xem xét: “À, tại sao tôi nghĩ có gì đó quan trọng?” Con có thể có một ngã đặc thù và có một hoàn cảnh đặc thù quan trọng với nó. Con có thể có nhiều ngã như thế. Đằng sau tất cả là con có cảm nhận con tới Trái đất với một ý định nào đó, như các thày đã đề cập tại hội nghị Hòa Lan. Vì vậy con có cảm nhận, ngay cả ở tầng cái Ta Biết, là cách người khác đón nhận hay bác bỏ con trên Trái đất quan trọng với con. Con nghĩ hình tướng quan trọng với con. Có một hình tướng đặc thù: “Tôi được chấp nhận hay tôi bị bác bỏ?” quan trọng với con, hình tướng này khác nhau với mỗi người trong chúng ta.

Trong dài hạn, con có thể quán xét điều sau: “Tại sao, như một sinh thể tâm linh, tôi nghĩ có điều gì đó trong vật chất quan trọng với tôi?” Sau đó con có thể xem xét: “Khi nào điều đó quan trọng với tôi? Khi nào trong thời gian điều đó quan trọng với tôi?” Con sẽ thấy có những ngã nhìn lại điều gì đó đã xảy ra trong quá khứ. Có thể năm phút trước. Có thể trước đây trong kiếp sống này. Có thể nhiều kiếp trước. Có thể trong kiếp đầu tiên của con đến Trái đất khi con gánh chịu chấn thương nhập đời hoàn vũ. Có một ngã nhìn về quá khứ và nghĩ: “Ồ, có chuyện gì đó đáng lẽ không được xảy ra nhưng lại xảy ra. Giờ đây tôi phải tìm cách bù đắp, giải thích, biện minh, phân tích, tìm hiểu nó.” Con có thể thay đổi chuyện xảy ra trong quá khứ chăng? Thậm chí điều xảy ra năm phút trước?

(Sứ giả thỉnh chuông)

Có bất kỳ uy lực nào trên Trái đất thay đổi được âm thanh từ cái chuông này chăng? Rút lại âm thanh đó chăng? Không đâu. Nhưng âm thanh đó bây giờ đâu rồi? Âm thanh đó ở đâu? Nó ở đây một phút trước, một lúc trước. Nó ở đâu bây giờ trong vật chất? Đúng âm thanh này ở trong vật chất. Con có thể nghe thấy nó bằng hai tai vật lý. Do đó, âm thanh có trong vật chất. Con có còn nghe thấy nó chăng? Âm thanh bây giờ ở đâu? Nó không còn ở đó nữa. Cái xảy ra trong quá khứ không còn có mặt trong vật chất. Nếu nó không còn trong vật chất nữa, thì tại sao nó lại quan trọng với con? Bởi vì con đã tạo ra một cấu trúc trong tâm con và với ngã đó, điều xảy ra trước kia trong vật chất vẫn quan trọng với nó trong lúc này. Nó có cần quan trọng trong lúc này chăng khi nó không còn nữa trong vật chất?

3.5. Điều đã xảy ra không còn nữa trong vật chất

Con thấy đấy, vấn đề là con thay đổi cách con nhìn vật chất và thời gian. Cái không còn nữa trong vật chất không có tác dụng vật lý trên con. Nó chỉ có thể có tác dụng mà con mang theo trong bốn thể phàm của con. Đó là một ngã, đó là năng lượng. Năng lượng có thể được chuyển hóa. Ngã có thể cho chết đi. Con có thể quán xét: “Tôi có những ngã nào nhìn về quá khứ, muốn giải quyết điều gì đó xảy ra xa xưa đến độ không ai ngoài tôi còn nhớ tới? Có lẽ không ai ngoài tôi chú ý tới?” Cái “tôi” ấy là một ngã, không phải là cái Ta Biết. Và khi cái Ta Biết bước ra ngoài ngã, nhìn ngã, thì nó có thể nói: “Tại sao điều không có mặt nữa trong vật chất lại quan trọng với tôi?”

Con có thể cho những ngã nhìn về quá khứ này chết đi, từng ngã một. Sau đó, con có thể nhìn những ngã khác đang nhìn tới tương lai và mong chờ điều gì phải xảy ra hay điều kia không được xảy ra. Những ngã này từ đâu tới? Ấy, một số được tạo ra trên Trái đất vì con từng trải nghiệm hành tinh Trái đất là một nơi rất khó sống. Con không thể kiểm soát điều gì xảy ra hay không xảy ra. Con không thể tiên đoán điều gì xảy ra hay không xảy ra. Nó chỉ xảy ra một cách bất ngờ. Con học cách tạo ra những ngã có thể tiên đoán chuyện có thể xảy ra vì con nghĩ: “Không gì tệ bằng bị chuyện bất ngờ mà không chuẩn bị. Nếu ít nhất tôi tiên đoán trước thì tôi sẽ không bị bất ngờ. Và khi ấy, tôi có thể đối phó tốt hơn.” Con nghĩ thế. 

Sau đó, con mang ngã này trong con từ kiếp này sang kiếp khác, lúc nào cũng canh chừng chuyện gì có thể xảy hay chuyện gì không được xảy ra. Nhưng tương lai có mặt chăng trong vật chất ngay bây giờ? Không. Tại sao điều không có mặt ở đây trong vật chất lại quan trọng với cái Ta Biết khi nó không ở trong vật chất vì nó là tâm linh. Con có cần biết chuyện gì sắp xảy ra chăng? Con có cần chuẩn bị cho mọi chuyện có thể xảy ra chăng? Không đâu, nếu con buông bỏ những ngã này và nhận ra: “Nếu tôi là cái Ta Biết, thì tôi không ở trong vật chất, cho nên bất kỳ gì xảy ra trong vật chất không quan trọng với tôi khi nó xảy ra. Cũng chẳng quan trọng với tôi nếu nó không xảy ra.” Một lần nữa chỉ là vấn đề tôi xoay chuyển tầm nhìn.

3.6. Ki-tô không có mặt trong quá khứ hay tương lai

Khi con dần dần buông bỏ những ngã này, thì con còn lại gì trong con? Hiện tại. Ki-tô có mặt trong quá khứ chăng? Ki-tô có mặt trong tương lai chăng? Không đâu. Ki-tô vượt lên trên vật chất. Thời gian là một chức năng của vật chất. Cho nên Ki-tô vượt lên trên thời gian. Có nghĩa là Ki-tô có mặt trong hiện tại. Không có quá khứ trong tâm Ki-tô. Không có tương lai trong tâm Ki-tô. Chỉ có hiện tại, nhưng hiện tại không đứng yên. Hiện tại là hiện tại vĩnh cửu tuôn chảy không ngừng: đó là Dòng sông sự Sống.

Giờ đây, tâm vỏ ngoài sẽ nói: “Nhưng thời gian cũng tuôn chảy. Thời gian tuôn chảy không ngừng. Tôi có thể nhìn đồng hồ. Có mũi kim đếm giây. Một giây, hai giây, ba giây. Nó không ngừng đếm. Nó không bao giờ ngừng.” Có thể khi con còn nhỏ con thường nhìn chiếc đồng hồ lớn của cha mẹ treo trên tường và con thấy kim đồng hồ cứ kêu tích tắc và tích tắc và tích tắc và cứ chuyển động. Tâm con bị thu hút bởi điều này. Con không thể rời mắt được và con tự hỏi: “Chuyện này có nghĩa là gì? Chuyện gì đang xảy ra? Làm sao thời gian có thể cứ tiến tới?”

Con thấy chăng, có khác biệt giữa thời gian trong vật chất và Dòng sông sự Sống. Vì thời gian trong vật chất dựa trên quá khứ và tương lai, nhưng Dòng sông sự Sống ở trong hiện tại miên viễn, hiện tại tuôn chảy. Khi con đạt quả vị Ki-tô con không còn kéo lê theo con một quá khứ. Con không còn trông chờ một tương lai mà con sẽ xây dựng với lòng mong ngóng hay niềm sợ hãi run sợ. Con chỉ tuôn chảy từ hiện tại tới hiện tại. Bất kỳ hiện tại đem tới gì, con biểu đạt Ki-tô trong hoàn cảnh đó.

Đây là lý duyên khởi. Nó chuyển động không ngừng. Lúc ấy, con không có quá khứ trì kéo con, con không có tương lai xô đẩy con. Con chảy theo dòng chảy và con biểu đạt sự hơn nữa của tâm Ki-tô trong mọi hoàn cảnh. Con không có ý niệm điều gì đã xảy ra, điều gì đáng lẽ phải xảy ra, điều gì đáng lẽ không được xảy ra. Con không có ý niệm điều gì sắp xảy ra, điều gì phải tới hay không được tới. Cho nên con không có cấu trúc nói: “Tôi không thể biểu đạt Ki-tô trong hoàn cảnh này. Tôi cần hoàn cảnh thích hợp để có thể biểu đạt Ki-tô.” Khi con ở trong hiện tại, hoàn cảnh hiện tại luôn là hoàn cảnh thích hợp vì con đã thăng vượt đúng hay sai. Con chỉ đơn thuần biểu đạt trong hiện tại. Vì chỉ có hiện tại là quan trọng. Hiện tại nào? Hiện tại này. Này. Này. Này. Cái hiện tại có mặt ở đó.

Thày biết thày đã làm tâm đường thẳng của con bị rối loạn và đấy chính là ý định của thày vì con không thể dùng suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô. Con không thể hiểu nó. Con không thể nắm bắt nó. Con không thể quy định nó dựa trên vật chất và nói: “Quả vị Ki-tô phải được biểu đạt như thế này”.

Thày đã phát biểu những gì thày muốn phát biểu trong hiện tại này và thày cảm kích được có cơ hội này. Cho nên thày niêm các con trong tình thương của trái tim thày. TA LÀ PadmaSambhava và Ta vượt lên trên thời gian. Ta luôn luôn ở trong Hiện tại.

1 | Quả vị Ki-tô không xảy ra tức khắc

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Mẹ Mary qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary và thày cảm ơn tất cả các con đã có mặt hôm nay – các con hiện diện tại đây và các con hiện diện qua mạng Internet – và chào đón các thày, các chân sư thăng thiên, đến Hàn Quốc. Lẽ tự nhiên, khi thày nói “chào đón các thày” thì nghe như các thày ở rất xa và đến đây tham dự hội nghị này, nhưng như nhiều người trong các con đã trải nghiệm, các thày luôn luôn ở bên các con – vì các thày không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Giờ đây, nếu các con nhìn ngược lại năm 2002, khi các thày bắt đầu làm việc với vị sứ giả này, thì con thấy là các thày đã trao truyền một lượng giáo lý to lớn chung quanh chủ đề quả vị Ki-tô. Lẽ tất nhiên, các thày cũng đã trao truyền giáo lý về quả vị Ki-tô trong các đợt truyền giáo trước, với các tổ chức Phong trào TA LÀ (I AM Movement) lẫn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse). Con có thể nói là đã có rất nhiều giáo lý về quả vị Ki-tô. Còn có thể nói gì thêm nữa? À, chắc chắn chân sư MORE sẽ nói là lúc nào cũng có thể có điều gì hơn nữa mà ta có thể nói. Chắc chắn là thày cũng nói như vậy. Các thày cảm ơn các con ở Hàn Quốc đã có thể hòa điệu với chủ đề “Là Ki-tô trong đời sống hàng ngày” và lẽ tất nhiên đây là thách đố lớn nhất liên quan đến quả vị Ki-tô.

1.1. Thách thức lớn nhất liên quan đến quả vị Ki-tô

Khi chúng ta nhìn ngược về các thời đại trước, nhìn về các đợt truyền giáo trước và đợt truyền giáo này, thì ta thấy là nhiều người rất dễ đạt được một hiểu biết trí năng về quả vị Ki-tô – nó là gì, có thể định nghĩa nó ra sao. Thách thức luôn luôn là làm sao áp dụng nó, và đặc biệt là áp dụng nó vào đời sống hàng ngày. Khi con nhìn lại thiên niên kỷ vừa qua, con thấy là nhiều người đã tìm ra một giáo lý tâm linh, một con đường tâm linh đề cập đến những trạng thái tâm thức cao hơn. Họ đã cảm thấy cần phải rút lui khỏi thế gian, ở một nơi cách ly với thế gian, và sau đó tìm cách trau dồi trạng thái tâm thức cao hơn đó.

Rất ít đã có thể sau đó ra khỏi trạng thái thiền định đó để áp dụng và chứng minh trạng thái tâm thức cao hơn đó trong đời sống hàng ngày. Một số ít hơn nữa đã có thể biểu lộ, chứng đạt trạng thái tâm thức đó khi sống một cuộc sống bình thường, năng động. Như các thày đã giảng, đây chính thực là thách thức của Thời đại Bảo bình. Các con đã sẵn lòng chiêm nghiệm chủ đề này và là những người tiên phong trong cuộc xoay chuyển tâm thức này, sẽ trở nên, sẽ chắc chắn trở nên một hiện tượng toàn cầu trong hàng ngũ các người tâm linh. Họ sẽ nhận ra là đời sống tôn giáo và đời sống thế tục có thể cách biệt, nhưng quả thực không có phân cách giữa tâm linh và đời sống hàng ngày.

Thách thức của Thời đại Bảo bình chính là đem tâm linh vào mọi khía cạnh của đời sống. Đây là một chủ đề mà lẽ tất nhiên các thày sẽ giảng giải thêm trong suốt hội nghị này. Các thày sẽ trình bày một cách hơi khác cách mà các thày đã dùng trước kia. Các thày sẽ trình bày từ nhiều góc độ khác nhau. Cách các thày trình bày sẽ có thể khiến con cảm thấy bối rối – và, con yêu dấu, đây không những là các thày cố ý làm như vậy, nhưng nếu con cảm thấy bối rối thì con hãy ghi nhớ khái niệm bối rối tuyệt vời. Bị bối rối về quả vị Ki-tô là điều rất tốt, ít ra là trong một thời gian. Quả thực những người không bị bối rối về quả vị Ki-tô và nghĩ rằng họ đã biết hết mọi chuyện thường là những người xa cách nhất việc đạt và áp dụng quả vị Ki-tô, chắc chắn là áp dụng quả vị Ki-tô vào đời sống hàng ngày.

1.2. Giáo lý bên trong về quả vị Ki-tô

Vậy thày muốn nói gì để khai mạc hội nghị này? À, thày muốn nói về câu chuyện thụ thai và sinh ra Giê-su. Giờ đây, nếu con đọc kinh điển, Tân Ước kinh, thì có một câu mà rất ít người Cơ đốc giáo để ý, nhưng đó là một câu cơ yếu trong bộ kinh. Câu đó giản dị là: “Giê-su dùng ẩn dụ để giảng dạy cho đại chúng. Nhưng khi ở riêng với các đệ tử thì thày giảng giải cặn kẽ mọi thứ cho họ.” Ngay đây, con có câu nói không chối cãi được trong kinh điển về việc Giê-su giảng dạy hai trình độ khác nhau, một trình độ phổ quát cho giới đại chúng và một trình độ bí truyền, thần bí, trực tiếp hơn cho các tông đồ.   

Câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra là: sau hai ngàn năm, 17 thế kỷ sau khi giáo hội Công giáo được thành lập, tại sao có quá ít người tự gọi mình là tín đồ Cơ đốc giáo tìm hiểu giáo lý thần bí, bên trong mà Giê su trao truyền cho các tông đồ đó là gì? Vì sao họ lại chú tâm quá nhiều vào những gì ghi trong kinh điển thay vì suy ngẫm những điều mà chính kinh điển nói là không có trong kinh điển? Lúc đó, họ có thể nào góp ý này với câu sau đây của Giê-su: “Ta sẽ luôn luôn ở bên các con,” và “Ta sẽ gửi đến một đấng an ủi sẽ ở bên các con”. Họ có thể nào với vào trong tim để chạm được giáo lý thần bí trực tiếp từ chính Giê-su? Một ít người được gọi là Cơ đốc thần bí đã làm được điều này, nhưng chỉ có rất ít. Lẽ tất nhiên, thời nay có nhiều người hơn sẵn sàng làm điều này, trong đó có các con.

Giáo lý bên trong đó là gì? À, sau đây chắc chắn là một cách để định nghĩa nó. Giáo lý bên trong là giáo lý vượt quá giáo lý bên ngoài, nhưng giáo lý bên ngoài là gì? Ấy, con thấy gì nơi đa số người theo Cơ đốc giáo, những người không sẵn lòng với lên giáo lý thần bí? Họ nhìn giáo lý bên ngoài, họ nhìn kinh điển, họ muốn áp dụng kinh điển theo sát nghĩa đen. Họ muốn diễn giải kinh điển theo sát nghĩa đen, ít nhất là theo đúng học thuyết, của Giáo hội Chính thống Phương đông hay Giáo hội Công giáo, nhưng làm sao lại có thể có một lối diễn giải sát nghĩa đen? Ta có thể có một cái gì sát nghĩa đen hay một diễn giải, và không có diễn giải nào không phải là một cách diễn giải.

1.3. Tất cả là một biểu tượng mang một ý nghĩa thâm sâu hơn

Thày muốn nói gì qua câu trên? À, nếu con mở lòng đón nhận giáo lý thần bí của Ki-tô, thì con hãy suy ngẫm điều này: mọi chuyện trong kinh điển, mọi điều mà Giê-su giảng dạy cho đại chúng, đều là một biểu tượng. Dụng ý của Giê-su là không nên hiểu theo sát nghĩa đen. Chúng là các biểu tượng mang một ý nghĩa thâm sâu hơn khi nhìn quá hình dáng vỏ ngoài. Đây chính là cốt lõi của phương pháp thần bí. Con nhìn quá hình dáng vỏ ngoài, và con dùng trực giác để nắm bắt ý nghĩa thâm sâu hơn mà con không thể nắm bắt bằng tâm vỏ ngoài, trí năng, tâm phân tích. Điều thày muốn dẫn tới là khi con lấy câu chuyện Giê-su sinh ra và lớn lên, thì có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Lẽ tất nhiên, có nhiều lớp ý nghĩa thâm sâu, nhưng có một ý nghĩa mà thày muốn các con chú ý.

Con thấy chăng, con có thể đọc kinh điển và nói: “Có một cô thiếu nữ tên Mary. Cô đang sống cuộc đời của mình, nghĩ cuộc đời cô đang đi theo một hướng nào đó. Rồi một ngày có một vị thiên thần xuất hiện và cho cô biết là cô sẽ sinh ra hài nhi Ki-tô.” Nhiều người đọc câu chuyện này và nghĩ: “Ồ, chắc hẳn phải có một thiên thần có thể mắt thấy tai nghe đã hiện ra cho Mary.” Nhưng thực ra đây chỉ là một cách trình bày biểu tượng. Thày có một trải nghiệm nội tâm, trực giác, thần bí. Thày không cần thấy một hình ảnh vật lý xuất hiện, vì thày sẵn lòng nghe theo trực giác của thày, và đa số các con cũng vậy.

Đây là sự khác biệt giữa một người thần bí và một người chưa lên tới trình độ thần bí. Những người chưa đạt tới trình độ thần bí muốn những gì hấp dẫn tâm vỏ ngoài, tâm phân tích, tâm suy luận, một điều mà họ có thể hiểu, có thể nắm bắt, có thể dùng tâm trí để hiểu thấu sau nhiều nỗ lực và để vào một chiếc hộp tư duy nhỏ xinh xắn, và như vậy họ cảm thấy kiểm soát được nó và không bị nó làm xáo trộn. Chắc chắn là sự việc đó không đòi hỏi họ phải thay đổi cách sống, đình chỉ cuộc sống bình thường và bỗng nhiên đi theo một hướng khác.

1.4. Tâm linh là buông bỏ kiểm soát

Con thấy chăng, với những người chưa đạt tới trình độ thần bí thì cuộc đời cốt yếu là kiểm soát, tâm linh cốt yếu là kiểm soát. Nhưng khi con đạt trình độ thần bí thì con buông bỏ ý muốn kiểm soát. Con buông bỏ ý muốn làm chủ tình hình của tâm vỏ ngoài. Con sẵn lòng lắng nghe lời nói nhỏ, tĩnh lặng, thần bí đến từ bên trong và theo nó. Chẳng phải đó là lý do vì sao tất cả các con ở đây? Chắc chắn đây là lý do vì sao vị sứ giả này có mặt ở đây, vì ông không cần mắt thấy một hiện tượng vật lý để thay đổi cuộc đời theo một hướng hoàn toàn khác, và quả thực ông đã làm điều này nhiều lần. Con thấy chăng, khi con xem câu chuyện Giê-su giáng sinh, thì con thấy có một ý nghĩa biểu tượng thâm sâu hơn và đó là: Ki-tô có thể nảy sinh nơi tất cả mọi người, nhưng để Ki-tô có thể tăng triển và trưởng thành thì nó cần được nuôi dưỡng bởi yếu tố mẹ, Ngọn lửa Mẹ.

Điều này có nghĩa gì cho riêng cá nhân con? Nó có nghĩa là con phải bắt đầu nhìn nhận và chấp nhận là Ki-tô có thể nảy sinh trong con. Thêm nữa, con hãy ghi nhận là Ki-tô sẽ không nảy sinh như một người trưởng thành mà như một hài nhi cần được nuôi dưỡng. Con thấy có rất nhiều người, thậm chí những người đã tìm ra giáo lý tâm linh (và ngay cả giáo lý chân sư thăng thiên) và họ đến với giáo lý với ý muốn kiểm soát của tâm vỏ ngoài. Khi họ nghe nói tới quả vị Ki-tô thì họ nghĩ tất cả điều này phải xảy ra cùng một lúc. Cần phải có một xảo thuật thần diệu nào đó, một công thức bí mật nào đó, một hòn đá thần diệu có khả năng biến mọi thứ thành vàng, nhờ đó họ có thể búng ngón tay và ngay tức khắc họ là Ki-tô, trong sự trọn vẹn của Ki-tô. 

1.5. Quả vị Ki-tô không xảy ra tức khắc

Con thấy đấy, chuyện này không bắt đầu như thế cho bất cứ ai trong chúng ta. Quả vị Ki-tô bắt đầu như một hài nhi được sinh ra trong chúng ta. Lúc ban đầu, nó cần được bảo vệ, nó cần được nuôi dưỡng, nó cần được hướng dẫn vì nó chưa sẵn sàng giáp mặt thế gian và sự chống đối Ki-tô đến từ thế gian. Hình ảnh mà thày muốn đưa ra cho các con ở đây là quả vị Ki-tô không phải là một biểu hiện tức khắc. Trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ có một ai đã từ giây phút này sang giây phút sau xoay chuyển từ một trạng thái tâm thức bình thường sang trạng thái tâm thức cao nhất có thể có trên trái đất.

Con có thể nhìn trở về tất cả mọi truyền thống tâm linh, ít ra là các truyền thống đích đáng, và con sẽ thấy là họ đều nói cùng một chuyện tuy ngôn từ khác nhau. Họ có thể nói đến Niết bàn, giác ngộ, hay trạng thái tâm thức cao hơn, nhưng cốt yếu họ nói cùng một chuyện, đó là một trạng thái tâm thức cao hơn, là điều mà các thày ở đây gọi là quả vị Ki-tô. Nó phải bắt đầu như một hài nhi được sinh ra, dần dần lớn lên và trưởng thành cho tới khi nó sẵn sàng biểu lộ với thế gian. Đây là hình ảnh mà thày muốn đưa ra cho các con ở đây.

Một số trong các con đã theo đuổi con đường tâm linh từ lâu năm. Một số trong các con đã có Ki-tô nảy sinh trong mình trước đây khá lâu và nó đã tăng trưởng tới một tầm vóc nào đó. Tuy nhiên, con vẫn nên chiêm nghiệm là Ki-tô bắt đầu nảy sinh trong con như một hài nhi, sau đó dần dần lớn lên và trưởng thành. Tất cả các con sẽ đều được lợi lạc khi nhìn trở lại con đường tâm linh của mình từ khi tìm thấy giáo lý lần đầu, nghe thấy khái niệm Ki-tô và thấy: “Tôi đã có nuôi dưỡng đủ Ki-tô trong tôi chăng? Tôi đã có bảo vệ nó đủ khỏi các xàm xỡ của thế gian chăng? Tôi đã có thể chăng nuôi dưỡng nó hơn, hướng dẫn nó hơn, và cho nó thêm chút thời gian để lớn lên?”

Có những lúc con nghe các thày đề cập đến chuyện các con biểu lộ quả vị Ki-tô của mình, và con có thể quyết định với tâm vỏ ngoài là con sẽ làm chuyện này. Thày chỉ nói rằng có lẽ con nên bước lui lại và tự hỏi: “Em bé Ki-tô trong tôi có sẵn sàng giáp mặt thế gian chưa?” Nó có đã trưởng thành như lúc Joseph và thày dẫn Giê-su tới ngôi đền ở Jerusalem, là biểu tượng của việc em bé Ki-tô đã sẵn sàng giáp mặt thế gian? Hay có thể chăng là con cần được nuôi dưỡng thêm chút nữa trước khi con sẵn sàng? Con hãy nhìn chính mình. Con có trong tâm ý tưởng là Ki-tô sẽ đột nhiên phóng ra trong sự trọn vẹn của nó chăng? Từ lúc này sang lúc kế tiếp con sẽ xoay chuyển từ một người phàm thành Ki-tô trong sự trọn vẹn của Ki-tô. Nếu con thấy mình nghĩ như vậy thì các thày không nói điều này để trách cứ con nhưng muốn cho con biết đây là một hình ảnh rất xưa cũ mà con có thể tìm thấy nơi nhiều truyền thống tâm linh có đề cập đến các trạng thái tâm thức cao hơn – đó là khái niệm trạng thái tâm thức cao hơn biểu hiện tức khắc. Và như thày có nói, điều này không thiết thực.

1.6. Đạt quả vị Ki-tô tức khắc là một khái niệm của sa nhân

Đây chính thực là một hình ảnh mà sa nhân đã cài vào tâm thức tập thể vì, như các thày đã giải thích nhiều lần, họ làm tất cả mọi chuyện họ có thể làm để ngăn con người biểu lộ quả vị Ki-tô. Nếu con theo đuổi hũ vàng ở cuối cầu vồng là trạng thái tâm thức cao đột nhiên xuất hiện, thì con sẽ mãi mãi theo đuổi nó. Tại sao? Bởi vì hình ảnh đó là gì? Hình ảnh là: “Tôi đang không là Ki-tô, nhưng tôi có thể bỗng nhiên trở thành Ki-tô. Tôi chỉ không biết bằng cách nào. Nhưng một ngày kia chuyện đó sẽ xảy ra, nếu tôi cứ tiếp tục làm chuyện này hay làm chuyện nọ.” Con yêu dấu, quả vị Ki-tô sẽ không bao giờ xảy ra như vậy.

Nó sẽ xảy ra một cách từ lần giống như khi con nuôi dưỡng hài nhi Ki-tô, cho nó thời gian để trưởng thành cho tới khi nó sẵn sàng xuất hiện trước thế gian và biểu lộ chính nó qua con. Đây là cách duy nhất chuyện này đã xảy ra trong quá khứ, cách duy nhất chuyện này sẽ xảy ra trong tương lai. Tại sao? Bởi vì khi con quan sát em bé Ki-tô lớn lên trong con thì con giảm thiểu khoảng cách giữa con và Ki-tô. Con tăng trưởng cùng với nó. Bây giờ thày biết tâm vỏ ngoài của con có thể hỏi: “Vậy thì Ki-tô là gì? Chẳng phải nó là trạng thái tâm thức cao trội toàn hảo, biết hết mọi chuyện?” Con thấy chăng, ở đây chúng ta đang không nói tới Ki-tô trong trạng thái cao nhất của nó. Chúng ta đang nói tới việc thể hiện quả vị Ki-tô trong đời sống thường ngày.

Con có nắm bắt chăng biểu tượng đằng sau câu chuyện Giê-su sinh ra và lớn lên cho tới khi sẵn sàng khởi sự sứ vụ của mình? Lẽ tất nhiên, có nhiều tín đồ Cơ đốc giáo muốn nghĩ rằng Giê-su đã toàn hảo từ khi sinh ra, nhưng ngay cả kinh điển vỏ ngoài cũng không hỗ trợ quan điểm này, còn hiểu biết nội tâm thì chắc chắn không. Giê-su chứng minh một con đường tuần tự. Thày đồng ý là kinh điển không nói nhiều về điều này. Tuy nhiên, Giê-su đã chứng minh con đường tuần tự, ngay cả trong ba năm cuối của sứ vụ của thày.

Khi con xem xét câu chuyện – một lần nữa đây là một chuyện ngụ ngôn, một biểu tượng – bữa tiệc cưới ở Cana, thì tại sao thày, như nhân vật bà mẹ, đã phải can thiệp và bảo Giê-su phải tiến hành chương trình bằng cách ngưng than phiền và biến nước thành rượu?

1.7. Ki-tô cần được Mẹ nuôi dưỡng

Con thấy chăng, Ki-tô cần được mẹ nuôi dưỡng. Tại sao? Vì bà mẹ tiếp giáp với thế giới mẹ, thế giới Mẫu-Vật, như nó đang là ngay bây giờ – còn rất xa trạng thái toàn hảo. Con có thể nói là Ki-tô, tâm Ki-tô trong khía cạnh hoàn vũ, không biết những gì đang xảy ra trên một hành tinh như trái đất. Để Ki-tô có thể được biểu lộ trên trái đất dưới một hình thức có thể thực sự giúp những con người đang bị giam hãm trong tâm thức phản-Ki-tô, thì Ki-tô phải học cách thích nghi sự biểu lộ của mình theo các thực tại thực tế của đời sống trên trái đất. Ai có thể dạy em bé Ki-tô điều này hay hơn bà mẹ là người tiếp cận gần kề hơn cõi vật lý trong trạng thái hiện tại, rất bất toàn của nó trên trái đất.

Đó là vai trò của thày khi thày hướng dẫn Giê-su trong lúc khôn lớn: đó là giúp Giê-su nhận ra dù Giê-su có một viễn quan, có nhiệt huyết, nhưng có một thực tại thực tế trên trái đất. Để sứ vụ được thành công, Giê-su cần biết điểm này, cảm nhận được điều đó, trải nghiệm độ dày đặc của trái đất và thích ứng sự biểu lộ quả vị Ki-tô theo đó. Con có thể nói Giê-su đã có thể trở thành một đạo sư thiết lập một tu viện ở nơi nào đó xa xăm trong đồi núi và thu hút đệ tử tới ngồi dưới chân thày, tiếp nhận hào quang và lắng nghe các lời giảng hoa mỹ mà không ai hiểu được của thày. Nếu vậy thì Giê-su đã không hoàn thành được sứ vụ vào đầu thời đại Song ngư. Giê-su cần khoảng thời gian ba năm khi thày đi khắp các nẻo đưởng bụi bặm, nóng bức của vùng Palestine, gặp gỡ người dân, tiếp cận họ và trao truyền một giáo lý ít ra cũng một phần thích nghi với trình độ tâm thức của họ. Tuy có nhiều lúc nhiệt huyết của thày đi quá trớn và thày nói những lời vượt quá xa những gì con người sẵn sàng tiếp nhận vào thời đó – và ngay cả nhiều người thời nay vẫn chưa sẵn sàng tiếp nhận.  

Con thấy đấy, chúng ta không nói chuyện con là Ki-tô một cách cao xa nào đó, trao truyền một minh triết vô biên, vĩnh cửu mà không ai sẵn sàng đón nhận. Chúng ta đang nói chuyện là Ki-tô trong đời sống hàng ngày. Ấy vậy, con cần phải biết đời sống thường ngày như thế nào, phải không con? Vậy con nên điều chỉnh cách biểu lộ quả vị Ki-tô sao cho thích hợp với thực tại của đời sống thường ngày. Với tâm thức của con người khi họ tham gia ngay lúc này vào đời sống thường ngày trên hành tinh tăm tối này. Một lần nữa, con nên nhớ câu chuyện chén nước mát nhân danh Ki-tô. Con không giúp người đang sắp chết khát bằng cách cho họ những lời minh triết hoa mỹ khi điều họ thực sự cần là một chén nước mát. Giê-su đã có thể truyền một giáo lý thâm sâu hơn nhiều những gì thày dạy, nhưng thày đã rất mau chóng nhận ra là đa số con người không sẵn sàng đón nhận giáo lý đó.

1.8. Ki-tô thích ứng với hoàn cảnh hiện hữu

Bây giờ thì thày trở lại điều thày giảng lúc đầu bài này: “Khi Giê-su ở riêng với các đệ tử thì thày giảng cặn kẽ mọi chuyện cho họ.” À, “mọi chuyện” là nói hơi quá đáng, nhưng tuy thế khi ở riêng với các đệ tử (không phải chỉ có 12 tông đồ nhưng nhóm thân cận chung quanh Giê-su) thì thày đôi khi là một sứ giả trao truyền một thông điệp cao hơn, một thông điệp đến từ các chân sư thăng thiên. Ngay cả các đệ tử cũng không sẵn sàng đón nhận thông điệp đó và đa số đã không thấu hiểu. Những lúc đó Giê-su học bài học là vì các thực tại của thời đó, những gì có thể biểu lộ có giới hạn.

Vì lý do đó các thày, là những chân sư thăng thiên ngày nay có thể làm việc qua một sứ giả được bảo trợ trong cõi vật lý, rất biết ơn được cơ hội trao truyền một giáo lý cao hơn không thể trao truyền 2000 năm trước đây. Hay 2500 năm trước, khi đức Phật hiện thân trong cõi vật lý. Ngày nay, tâm thức con người cao hơn và các thày có thể trao truyền nhiều giáo lý hơn. Tuy thế, các con có thể xem xét tất cả các giáo lý mà các thày đã trao truyền trong 100 năm vừa qua và thấy là còn có thể trao truyền hơn rất nhiều nữa. Như các thày có nói trước đây, toàn bộ giáo lý có thể được trao truyền trong bầu cõi chưa thăng thiên này có thể ví như đại dương, và những gì các thày đã trao truyền cho tới nay chỉ là một muỗng. Đó là một muỗng không quá nhỏ, tuy thế, nếu so với đại dương thì, à, còn có thể có nhiều hơn nữa.

Thày không có ý định giảng một bài dài, vì còn có nhiều chân sư khác cũng muốn lên tiếng tại hội nghị này, và các thày sẽ trình bày từ nhiều tầm nhìn, nhiều góc độ khác nhau. Do đó, thày cảm ơn đã có cơ hội khai trương hội nghị này, và thày khuyến khích các con suy ngẫm hình ảnh Ki-tô đang được nảy sinh trong các con.

Nếu con là người mới tới với giáo lý này, thì có thể là Ki-tô hài đồng đang được sinh ra trong con ngay lúc này. Nếu con đã ở với giáo lý một thời gian rồi, thì có thể điều này đã xảy ra trước đây khá lâu. Tuy thế, em bé này ngày nay đã phát triển tới đâu rồi? Có thể chăng nó cần được nuôi dưỡng thêm? Có thể chăng nó cần vài lời khuyên răn, của mẹ hiền, từ con? Hay đôi lời tham vấn, một chút hướng dẫn? Phải chăng nó cần một chút giới hạn, để nó không bộc lộ với nhiệt tâm làm người khác kinh ngạc, và thay vào đó thông cảm hơn trình độ hiện tại của họ?

Ki-tô không cần đạt được một thành quả tối hậu. Đây lại là một lời gian dối khác mà sa nhân đã gieo vào tâm thức tập thể. Không có thành quả tối hậu nào trên một hành tinh như trái đất, cũng như thế trong một bầu cõi chưa thăng thiên, hay cũng như thế trong bầu cõi đã thăng thiên lên đến tận đấng Sáng tạo. Ngay cả tâm thức đấng Sáng tạo cũng không là một thành quả tối hậu, vì lúc nào cũng có sự tự thăng vượt. Ki-tô là gì? Đó là tiến trình tự thăng vượt. Tới đây  thì thày niêm các con trong tình thương của trái Tim Mẹ, và thày cảm ơn các con đã cho thày cơ hội có mặt ở đây với các con.