Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Hilarion qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.
TA LÀ Chân sư Thăng thiên Hilarion và nhiều người khi nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô và khái niệm quả vị Ki-tô đem lại phân biện thì họ nghĩ: “À, khi tôi có quả vị Ki-tô, tôi sẽ biết sự thật tối hậu và do đó, tôi có thể đi các nơi trên Trái đất và cho mọi người sự thật tối hậu.” Tự ngã thì thầm thêm: “Đúng vậy và khi chúng ta có sự thật tối hậu, chúng ta có thể ép người khác phục tùng chúng ta vì họ phải quy phục sự thật tối hậu này.”
Thày chỉ xin con nhìn lại lịch sử và thấy xem đã có bao nhiêu lần có những nhóm người, tổ chức, quốc gia, ý thức hệ đã tuyên bố họ nắm sự thật tối hậu và họ tìm cách ép tất cả mọi người khác phục tùng họ. Những người kia không chịu bị ép buộc phải phục tùng nên họ tấn công ngược lại và bỗng nhiên con có một bãi chiến trường. Con nhìn xem có bao nhiêu bãi chiến trường như thế được gây ra trong lịch sử và bao nhiêu được gây ra bởi một nhóm người tin rằng họ nắm sự thật tối hậu.
19.1. Tìm sự thật một cách khác
Con có thực sự nghĩ các thày là chân sư thăng thiên muốn đệ tử tiếp tục cuộc chiến cố chứng minh ai có sự thật tối hậu, hay có thể là các thày muốn các con tìm cách nào khác? Cách khác này là gì? Ấy, nó không thực sự là một phương cách khác, nó là hòa điệu với tâm Ki-tô. Con thấy đấy, những người tin tâm Ki-tô sẽ cho mình sự thật tối hậu, đấy là tự ngã đã phóng chiếu động lực của tự ngã lên tâm Ki-tô, lên khái niệm quả vị Ki-tô và khái niệm phân biện.
Các thày đã bao nhiêu lần tìm cách giải thích cho con điều gì về tâm thức nhị nguyên? Lúc nào cũng có hai cực nhị nguyên, chúng liên quan tới nhau, chúng dựa trên tách biệt. Không có cực nhị nguyên nào đại diện cho sự thật tối hậu, chẳng có cực nào nắm sự thật. Chủ nghĩa tư bản có là sự thật tối hậu chăng? Chủ nghĩa cộng sản có là sự thật tối hậu chăng? Không đâu, không bao giờ có sự thật tối hậu trong nhị nguyên, quả thực là không có sự thật nào trong nhị nguyên nhưng con chỉ có thể trải nghiệm điều này khi con kết nối với tâm Ki-tô. À, đúng, con có thể hiểu bằng trí năng nhưng sau đó con sẽ có khuynh hướng lấy hiểu biết trí năng và phóng chiếu nó lên khái niệm quả vị Ki-tô, và con nghĩ: “Đúng, có thể là nhị nguyên không thể cho tôi sự thật tối hậu nhưng chắc chắn quả vị Ki-tô, tâm thức Ki-tô có thể cho tôi sự thật tối hậu.” Chẳng phải là Giê-su đã nói: “Ta là con đường, sự thật và sự sống?”
19.2. Sự thật luôn luôn nằm trong một bối cảnh
Quả vị Ki-tô, tâm thức Ki-tô có phải là sự thật hay không? À, con yêu dấu, điều này tùy thuộc con hiểu sự thật là gì. Các thày đã mô tả điều gì rất nhiều lần, điều mà các thày không thể trao truyền trong các đợt truyền giáo trước và hầu như không có giáo lý tâm linh nào trên Trái đất nói tới? Các thày đã mô tả là con có tiềm năng bắt đầu với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm và mở rộng ý niệm bản ngã của con cho tới khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo. Vậy thì sự thật tối hậu là gì? À, con chỉ có thể trả lời câu hỏi này trong một bối cảnh vậy chúng ta hãy dùng khái niệm thế giới hình tướng này mà đấng Sáng tạo đã tạo ra.
Sự thật tối hậu trong thế giới hình tướng của chúng ta là gì? Đó là con hiểu đấng Sáng tạo, con nắm bắt, con trải nghiệm viễn kiến của đấng Sáng tạo, các quyết định của đấng Sáng tạo, những nguyên lý mà đấng Sáng tạo đã chọn để làm nền tảng cho công trình sáng tạo của ngài. Đó là sự thật tối hậu trong thế giới hình tướng của chúng ta. Lẽ tất nhiên, có vô số công trình sáng tạo khác dựa trên những nguyên lý và những quyết định hơi khác của các đấng Sáng tạo khác và cũng có cái Tất cả là một cấp độ hoàn toàn khác. Vậy thì có một sự thật tối hậu, tối hậu không? Thày không biết có một sự thật tối hậu với tầng tâm thức chân sư thăng thiên của thày. Do đó, có thể điều thận trọng là con nhận ra rằng con như một sinh thể chưa thăng thiên không thể thấu hiểu một sự thật tối hậu. Do đó, khái niệm sự thật tối hậu không có ý nghĩa trong một bầu cõi chưa thăng thiên và đặc biệt trên một hành tinh phi tự nhiên.
Nhưng Giê-su đã nói: “Ta là sự thật” hay đúng hơn tâm Ki-tô đã nói qua Giê-su: “Ta, tâm thức Ki-tô, là sự thật.” Đúng, nó là sự thật theo nghĩa nó là thuốc giải độc cho nhị nguyên bởi vì nó là con đường đưa ra khỏi nhị nguyên. Điều mà con người có khuynh hướng nghĩ, đặc biệt với tâm đường thẳng, là nếu Ki-tô là sự thật thì Ki-tô phải có khả năng trả lời được, giải thích được, định nghĩa được bất cứ câu hỏi nào, xung đột nào, vấn đề nào và giải quyết chúng bằng cách nói: “Đây là sự thật trong sự việc này.”
19.3. Không có sự thật tối hậu trong ngôn từ
Con thấy đấy, như các thày đã giải thích, tâm đường thẳng có thể đặt câu hỏi mà không có câu trả lời đường thẳng. Tâm nhị nguyên có thể đưa ra câu hỏi, vấn đề, mâu thuẫn không thể giải quyết được bằng ngôn từ. Con thấy đấy, tâm nhị nguyên luôn luôn sử dụng ngôn từ một cách vi tế. Con chỉ cần xem câu truyện Adam và Eve bị sa ngã. Họ được dạy là nếu họ ăn trái cấm, chắc chắn họ sẽ chết. Rắn bẻ quẹo chữ “chắc chắn” và như thế là đủ để tâm họ bị bối rối. Điều này chỉ cho con thấy điều gì? Không có sự thật trong nhị nguyên cho nên một khi chúng ta dùng ngôn từ, diễn đạt bằng ngôn từ, thì tâm Ki-tô không có một sự thật có thể biểu đạt bằng ngôn từ có thể chống phá được một “sự thật” nhị nguyên. Một khi điều gì được diễn đạt bằng ngôn từ thì nó chỉ là ngôn từ và ngôn từ có thể được diễn giải nhiều cách.
Con chỉ cần nhìn thấy có biết bao nhiêu giáo phái Cơ đốc đã diễn giải khác nhau cùng một thánh kinh. Con chỉ cần nhìn thấy có biết bao nhiêu tông phái Phật giáo diễn giải khác nhau cùng một kinh điển. Một khi một điều nào đó được diễn đạt bằng ngôn từ thì nó không còn là sự thật nữa và do đó câu nói “Ta là sự thật” không thể hiểu theo nghĩa đen. Ta không thể hiểu câu này theo nghĩa tâm Ki-tô có thể dùng một diễn đạt bằng ngôn từ để đưa ra sự thật. Con cần vượt quá ngôn từ. Con cần vượt quá tâm vỏ ngoài. Con cần trải nghiệm tâm Ki-tô. Khi ấy con sẽ trải nghiệm sự thật vượt quá nhị nguyên. Nó không là sự thật tối hậu, như thày nói, bởi vì sự thật tối hậu trong thế giới hình tướng của chúng ta là tâm thức đấng Sáng tạo. Sự thật đó vượt lên trên nhị nguyên vì nó là sự thật kết hợp con với đấng Sáng tạo và hợp nhất tất cả mọi người theo chiều ngang.
Tự ngã, tâm nhị nguyên, tâm rắn, tâm sa ngã làm gì? Nó chia rẽ con người theo chiều ngang và chỉ khi nào con với lên tâm Ki-tô và người láng giềng của con cũng với lên tâm Ki-tô, thì hai con mới có thể hợp nhất chiều ngang qua sự hợp nhất chiều dọc của mỗi con với tâm Ki-tô. Không thể đạt hợp nhất chiều ngang. Chỉ có sự rập khuôn chiều ngang do kiểm soát, vũ lực, quyền lực, sợ hãi, lừa dối.
Con thấy là suốt dòng lịch sử sa nhân đã tìm cách khiến tất cả mọi người chấp nhận cùng một hệ thống tin tưởng vì họ nghĩ họ có thể tạo thống nhất bằng cách đó. Họ biện minh là họ có thể tạo thống nhất bằng cách khiến mọi người cùng tin giống nhau. Họ đã có bao giờ thành công không? Không. Tại sao vậy? Vì như Abraham Lincoln đã có cảm hứng nói ra: “Bạn có thể lừa một số người hoài hoài và lừa tất cả mọi người một đôi lúc nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người hoài hoài.” Con không thể khiến tất cả mọi người tin rằng một hệ thống tin tưởng chiều ngang do con người tạo ra sẽ thống nhất được mọi người và giải quyết mọi vấn đề. Tại sao không? Tại vì tâm thức nhị nguyên. Một số người sẽ theo một cực đoan nhị nguyên này, một số người khác sẽ thích cực đoan kia. Một khi con tạo ra một hệ thống tin tưởng nhị nguyên gọi là Cơ đốc giáo thì nó sẽ thu hút một đối ngược nhị nguyên gọi là Hồi giáo và sau đó con có các Thánh chiến.
19.4. Giải quyết xung đột cá nhân
Các điều trên ứng dụng ra sao vào đời sống hàng ngày? Ấy, rất nhiều lần, các thày đã thấy đệ tử chân sư thăng thiên xung đột với nhau vì hai người đều nghĩ họ có sự thật Ki-tô. Cả hai đều nghĩ họ đúng vì họ đã hòa điệu với tâm Ki-tô. Họ tin rằng qua tâm Ki-tô họ đã nhận được nội giác đấy là sự thật và đấy là điều cần xảy ra trong tổ chức tâm linh. Bằng không mọi chuyện sẽ đổ vỡ và việc các chân sư thăng thiên muốn sẽ đổ vỡ nếu người kia không đồng ý với họ. Đây không phải là tâm Ki-tô. Khi hai người xung đột với nhau và cùng tin họ có tâm Ki-tô nhưng vẫn không đồng ý với nhau, thì không người nào có tâm Ki-tô. Phải chăng điều này có nghĩa là ta không thể có hoàn cảnh một người có tâm Ki-tô và người kia không có tâm Ki-tô. Lẽ tất nhiên là không. Điều này có thể xảy ra. Khi đó, người có kết nối với tâm Ki-tô sẽ không đối xử với người kia như kẻ địch và tìm cách chứng minh người đó sai, tiêu diệt người đó hay khiến người đó phải ra đi.
Con dùng phương cách khác như các thày đã nói và con tìm cách nâng người kia lên. Nếu điều này không thể làm được, thì có khi một tổ chức tâm linh cần loại trừ một số người. Con không làm vậy từ tầng mức của tự ngã có nhu cầu xem người đó là kẻ xấu ác và làm như thể người đó thật sai lầm vì đã làm những gì người đó làm. Con nhận ra người đó có viễn quan giới hạn, con nhận ra người đó gây xáo trộn trong nhóm và lúc ấy con yêu cầu người đó rời khỏi nhóm. Con không hành động từ trạng thái tâm dựa trên sợ hãi, bởi vì tâm Ki-tô có thể sợ điều gì?
Con thấy đấy, rất nhiều lần có những người phóng chiếu sợ hãi vào một phong trào hay tổ chức tâm linh. Họ phóng chiếu là một số chuyện phải như thế này vì các chân sư thăng thiên muốn như vậy, và nếu không làm vậy thì sẽ có những hậu quả khủng khiếp. Mọi chuyện không trắng đen như vậy. Khi con thấy có xung đột và một số người phản ứng theo tư duy cuồng đại, theo lối suy nghĩ trắng đen, lối suy nghĩ dựa trên sợ hãi, thì con cần bước lui lại và nhìn vào tâm lý. Trước tiên, con nhìn vào tâm lý chính mình, nhìn vào các khuôn nếp phản ứng của chính mình. Con giải quyết các ngã khiến con phản ứng như vậy. Sau đó con nói chuyện với những người kia. Con tìm cách giúp họ nhận ra họ có những ngã mà họ chưa giải quyết và nếu họ sẵn lòng giải quyết chúng, thì các con có thể tới một mức hiểu nhau cao hơn, một mức hợp nhất cao hơn.
Con cũng có thể nhận ra là không phải chỉ có một cách duy nhất giải quyết việc ở đây trên Trái đất và do đó, đôi khi con cần thỏa hiệp và làm điều gì thực tế có thể làm được trong hoàn cảnh đó. Các thày đã nói gì về lý duyên khởi? Con có một nhóm người họp thành một tổ chức tâm linh. Đấy là những duyên phụ thuộc nhau trong đó các con đều là thành phần của một tổng thể địa phương đặc thù. Những tương tác của tất cả các con, tất cả tâm thức của các con tạo nên một kết quả nào đó. Nếu con có thể bước ra ngoài phản ứng dựa trên tự ngã đã tạo ra xung đột, thì con có thể nói: “Buổi họp của chúng ta, tổ chức của chúng ta, có mục đích tạo nên một kết quả bên ngoài nào đó không? Hay mục đích là giúp chúng ta tăng trưởng và đạt được một trình độ hợp nhất và hài hòa cao hơn? Có thể nào sự hài hòa quan trọng hơn những kết quả bên ngoài đặc thù? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tất cả chúng ta đều chú tâm đạt hài hòa và xem kết quả bên ngoài là phụ thuộc?”
Con sẽ thấy là trong một số trường hợp khi cả nhóm làm được điều này, thì có thể có một người không sẵn lòng làm như vậy, không sẵn lòng buông bỏ ý tưởng mình đúng. Nếu những người khác trong nhóm sẵn lòng chú tâm vào hài hòa, thì con có quyền khiến người kia nhận ra rằng: “Bạn không chịu bước lên một bước cao hơn và như vậy có nghĩa là bạn không đến từ tầng cấp Ki-tô. Bạn không tìm hợp nhất cao hơn. Bạn không tìm cách vượt quá sự tập trung vào cái ta của mình.” Và cuối cùng có thể tới điểm người đó không còn chỗ đứng trong nhóm vì nhóm đã nâng tâm thức lên mức cao hơn. Người đó ở mức thấp hơn và do đó, con có quyền nói: “Đã tới lúc bạn ra đi, vì chúng tôi đã gia tốc quá tầng tâm thức muốn mình đúng.”
19.5. Một cách giải quyết xung đột theo phương cách Ki-tô
Con có thể mang phương cách này vào mọi hoàn cảnh con gặp trong đời sống: trong gia đình, nơi làm việc, trong quan hệ bạn bè. Con có thể nhìn mình và thấy: Tôi có khuôn nếp phản ứng nào không? Tôi có muốn mình đúng không? Nghĩ mình nắm sự thật và khiến người khác thấy sự thật mà tôi thấy có quan trọng đến như vậy cho tôi không? Lúc ấy, con có thể nhận ra là những chuyện đó đến từ một ngã tiềm thức. Thậm chí chúng có thể bắt nguồn từ chấn thương nhập đời của con khi con cảm thấy bị sa nhân bác bỏ và miệt thị và con muốn bù đắp bằng cách nghĩ: “Ồ, nếu tôi có thể tìm ra sự thật cao nhất thì họ sẽ phải chấp nhận điều tôi nói.”
Như các thày đã nói, sa nhân sẽ không bao giờ chấp nhận điều con nói vì họ có sự thật nhị nguyên của họ mà họ tin là sự thật tối hậu. Khi một người tin y có sự thật tối hậu thì làm sao con thuyết phục y nghĩ khác được? Tại sao họ cần nghe bất kỳ ai không có sự thật mà họ nghĩ họ có, và họ nghĩ đó là sự thật tối hậu? Thày đang nói gì ở đây? Thày đang nói là trong bất cứ hoàn cảnh nào, câu hỏi của con là: “Tôi có muốn với tới một sự thật cao hơn không, một viễn kiến cao hơn không, cao hơn cái tôi đang hiện có?” Nếu con sẵn lòng với lên cái cao hơn thì con có thể tăng trưởng trong bất cứ hoàn cảnh nào và con không cần quan tâm người kia có tăng trưởng hay không. À, con có thể quan tâm nếu người đó là một người thân của con, như người trong cùng nhóm hay gia đình, tuy nhiên nếu con tiếp tục với lên sự thật cao hơn thì trong nhiều trường hợp hoàn cảnh sẽ dần dần thay đổi.
Tại sao thế? Vì khi con tương tác với người khác, ngay khi chỉ có hai người cũng tạo nên một vòng duyên khởi phụ thuộc nhau. Khi con gia tốc chính mình thì con sẽ gia tốc mối quan hệ, và có thể người kia sẽ hòa điệu với gia tốc đó và sẵn lòng thay đổi hay cũng có thể họ không chịu thay đổi. Nhưng con cũng đã tiến lên hướng khác và phản ứng của con với người kia sẽ thay đổi do đó con đã được lợi lạc.
Nếu con lấy những gì Serapis Bey có nói là con tới điểm trên con đường tâm linh bắt đầu phụng sự điều gì khác hơn chính con, thì con có thể nói: “Tôi chú tâm vào việc phụng sự một mục đích cao hơn, và mục đích này không xoay quanh một cá nhân nào. Nó không xoay quanh cá nhân tôi, nhưng nó cũng không xoay quanh các người chung quanh tôi, tỷ dụ như quan hệ cá nhân, quan hệ gia đình, tình bạn bè hay quyền lợi một nhóm. Tôi không phụng sự tự ngã của tôi, tôi cũng không phụng sự tự ngã của người khác và do đó, tôi cố gắng bỏ đi tính chất cá nhân trong các quan hệ này để tôi không tìm cách ép uổng người khác phải thay đổi để tôi thay đổi trạng thái tâm của chính tôi. Tôi sẵn lòng chú tâm vào việc thay đổi trạng thái tâm của chính mình và để những người kia tùy họ quyết định có muốn thay đổi hay không.” Nếu con làm thế thì mỗi hoàn cảnh đều trở thành một cơ hổi trăng triển.
19.6. Tin là mình có sự thật tối hậu
Con biết hoàn cảnh chung quanh câu nói của Giê-su: “Ta là con đường, ta là sự thật và sự sống”. Đó là vì Pontius Pilate hỏi Giê-su và có thể con cũng nhớ câu hỏi của Pilate: “Sự thật là gì?”. Con có thể nói câu hỏi này đến từ một người chưa tiếp xúc với tâm Ki-tô trong họ cho nên họ bối rối và hoang mang. Con cũng có thể nói câu hỏi này cho thấy Pontius Pilate thực ra có một trình độ nhận biết cao hơn những người như các thày thông giáo và Pha-ri-si. Những người này tin họ có sự thật tối hậu và ít nhất Pontius Pilate sẵn lòng nhìn nhận là ông không cảm thấy ông có sự thật, và đấy là bước đầu về hướng thực sự tiếp xúc tâm Ki-tô. Nếu tâm con quá ư chú mục vào một biểu hiện đặc biệt của sự thật và nghĩ đó là sự thật tối hậu, thì con không mở tâm đón nhận tâm Ki-tô. Không có khe mở nào cho tâm Ki-tô gõ cửa tâm con và nói: “À, bạn có thể hiểu nhiều hơn những gì bạn đang hiểu ngay bây giờ, ta có thể chỉ cho bạn thấy một viễn kiến cao hơn không?” Hầu hết mọi người sẽ nói: “Ồ không, tôi đâu cần viễn kiến đó làm gì, tôi đã có sự thật tối hậu rồi.”
Những người sẵn lòng chịu hoang mang thì: “Hỏi thì sẽ được trả lời, gõ cửa thì cửa sẽ mở ra cho con.” Ai có tai sẽ nghe, ai có mắt sẽ thấy. Có nhiều người tâm linh, kể cả đệ tử chân sư thăng thiên nhận ra phần nào là có một trạng thái tâm thức cao hơn, dù họ gọi nó là tâm Ki-tô hay không, nhưng ở đây ta hãy chú tâm vào tâm Ki-tô. Con tới điểm nhận ra có tâm Ki-tô và khi con vẫn còn động lực dựa trên tự ngã, bị pha màu bởi tự ngã, thì con nghĩ: “ À, chắc chắn tâm Ki-tô sẽ xác chứng những tin tưởng của tôi vì chắn chắn chúng là sự thật.” Hầu hết những người tìm thấy con đường tâm linh trải qua một giai đoạn học hỏi giáo lý tâm linh, họ cũng có thể mở tâm đón nhận một số lóe sáng trực giác trực tiếp từ các thày, nhưng họ hy vọng một ngày kia giáo lý hay các chân sư sẽ xác chứng một cái nhìn đặc thù của họ về chính họ hay về cuộc đời. Nhiều người trong các con, nếu các con thành thật với chính mình, sẽ có thể nhận ra điều này.
Người sứ giả này chắc chắn đã thấy điều này nơi ông trong những năm đầu trên con đường tâm linh khi ông liên tục hy vọng nhận được sự xác chứng của cái chỉ là một ngã tách biệt của ông. Ông hy vọng các ngã tiềm thức mà ông đã tạo ra để đè nén chấn thương nhập đời được xác chứng. Ông tin tưởng một ngày kia tìm được một cách tăng trưởng tâm linh và thăng thiên mà không cần nhìn vào chấn thương nhập đời, và ông hy vọng tin tưởng nàđy được xác chứng. Rồi ông tới điểm sẵn lòng nhìn vào tin tưởng này và những tin tưởng khác khiến ông tin rằng một ngày kia sự thật Ki-tô sẽ xác chứng những tin tưởng dựa trên tự ngã của ông. Ông sẵn lòng đi vào tiến trình chất vấn những tin tưởng này cho tới khi ông buông bỏ tương đối đủ những tin tưởng này để các thày có thể bắt đầu làm việc trực tiếp với ông.
Giờ đây, như các thày đã giải thích trong đợt truyền giáo này, mà các thày vì một số lý do đã không giải thích được trong các đợt truyền giáo trước, người sứ giả này hoàn toàn không có gì đặc biệt. Ông không có điều gì mà con không có. Tất cả các con đều có khả năng tiếp xúc trực tiếp với các chân sư thăng thiên xuyên qua tâm Ki-tô vì tất cả các con đều có tâm Ki-tô trong mình, tiềm năng Ki-tô trong mình. Tất cả các con đều là cái Ta Biết được sinh tạo từ tâm Ki-tô như các thày đã giải thích mới đây. Điều này không có nghĩa là tất cả các con sẽ đều trở thành sứ giả và nhận bài truyền đọc từ các chân sư thăng thiên, vì các con đều có kế hoạch trọn đời của riêng cá nhân mình, Sứ vụ Thiêng liêng của riêng mình.
Nhưng điều đó có nghĩa là tất cả các con đều có tiềm năng tới điểm không cần phải dùng giáo lý vỏ ngoài nữa để tiếp xúc trực tiếp với các thày bên trong các con. Không phải là con nhất thiết cần bỏ qua giáo lý vỏ ngoài. Con vẫn có thể hưởng lợi lạc từ giáo lý nhưng con không cần giáo lý để tiếp xúc với các thày vì con đã thiết lập được tiếp xúc trực tiếp với các thày. Đây là điều mà các thày mong muốn cho mỗi các con, cho tất cả các con. Con có để ý điều thày vừa nói chăng? Cho mỗi các con và cho tất cả các con, con và con và con và con và mỗi con, và tất cả các con, đều có tiềm năng thiết lập tiếp xúc trực tiếp với các thày. Điều này không có nghĩa là mọi câu hỏi của con đều được trả lời. Không có nghĩa là con sẽ biết hết mọi chuyện. Không có nghĩa là con lúc nào cũng đúng. Nhưng có nghĩa là con sẽ nhận được lóe sáng trực giác từ các thày khi con mở tâm, khi con sẵn lòng nhìn vào chính mình.
19.7. Buông bỏ mong muốn mình đặc biệt
Con hãy ghi nhận điều các thày nói. Các thày sẽ không xác chứng những tin tưởng dựa trên tự ngã của con, đặc biệt là tin tưởng của tự ngã là có lý do nào đó khiến con đặc biệt. Tại sao các thày lại nói người sứ giả không có điều gì mà con không có? Vì người sứ giả không đặc biệt và con cũng không đặc biệt. Không ai trong các con đặc biệt hơn người khác. Đó là lý do tại sao tất cả các con đều có cùng tiềm năng. Các thày sẽ không xác chứng tin tưởng của tự ngã của con là vì sao đó con đặc biệt. Các thày sẽ làm việc với con để con khắc phục những ngã dựa trên tự ngã này để con có thể tiến lên cao hơn vào quả vị Ki-tô.
Ki-tô là gì? Ấy, một khía cạnh của Ki-tô là Ki-tô là tạo bình đẳng tuyệt vời. Giê-su đã nói gì? Kẻ cao trội sẽ bị hạ xuống, kẻ thấp kém sẽ được tôn lên. Người nào nghĩ mình đặc biệt sẽ bị hạ xuống. Người nào nghĩ mình không giỏi đủ sẽ được nâng lên cho tới khi tất cả thấy được là chẳng có ai đặc biệt hay tất cả đều đặc biệt. Ta có thể nói tất cả các con đều độc đáo, không theo nghĩa độc đáo của tự ngã nhưng theo nhận biết của Ki-tô là tất cả các con đều có cá thể độc đáo quy định trong Hiện diện TA LÀ của các con. Điều đáng tiếc là trong các phong trào tâm linh, con thấy khuynh hướng có một số đệ tử bị mắc lừa tự ngã nên họ nghĩ: “À, chắc chắn tôi đặc biệt. Tôi đã nhận ra giáo lý này. Tôi đã làm tất cả những gì giáo lý này quy định. Tôi đã hy sinh đủ mọi thứ. Chắc chắn tôi phải đặc biệt.” Hoặc họ dùng những cách khác nhưng các thày không tìm cách xác chứng những điều này. Tại sao không?
Ấy, có những người nghĩ quả vị Ki-tô là một con đường tuần tự, và quả đúng như vậy. Con dần dần tiến lên quả vị Ki-tô, nhưng họ nghĩ càng lên cao thì càng trở nên đặc biệt và càng thấy mình đặc biệt hơn vì họ có sự sùng tín mà thày Serapis đã nói tới. Tỷ dụ, họ sùng bái Giê-su cho nên họ nghĩ một khi họ đạt quả vị Ki-tô, họ sẽ có thể làm tất cả những điều độc đáo mà Giê-su đã làm và người khác sẽ thấy họ độc đáo.
Sự thực là khi con càng lên cao hơn trên con đường quả vị Ki-tô thì con càng trở nên khiêm tốn. Khi con hợp nhất với tâm Ki-tô trong con thì con khắc phục nhu cầu, nhu cầu của tự ngã, muốn cảm thấy mình đặc biệt và do đó, con không muốn cảm thấy mình hơn người khác. Con không muốn tôn mình lên một địa vị quan trọng hơn người khác. Serapis Bey đã nói gì? Thày nói đến chuyện xoay chuyển vào tư duy muốn phụng sự một chính nghĩa rộng lớn hơn tự ngã của mình. À, làm sao con làm điều này? Khi con phần nào đạt được hợp nhất với tâm Ki-tô thì con làm điều này bằng cách tìm cách nâng Ki-tô lên trong tất cả mọi người thay vì nâng mình cao hơn người khác. Không phải là con hạ mình xuống. Không thực sự là con trở nên khiêm tốn, tuy thày có dùng từ này vài phút trước đây. Sự thực là: Con trở nên bình đẳng và con không có nhu cầu nâng mình lên. Do đó, con chú tâm vào việc nâng Ki-tô lên trong người khác và đây là sự xoay chuyển mà con cần làm khi con tới gần tầng 96 hay đi một chút quá tầng này.
19.8. Những sáng ngộ trên tầng tâm thức 96
Giờ đây, có thể con nhận thấy là các thày, các Thượng sư, đang trao các con những giáo lý quả thực cao hơn những gì các thày cho các con trong khóa học Con đường Tự điều ngự. Khi con đi quá tầng 96 không có nghĩa là con không cần đến bảy tia nữa, nhưng có nghĩa là lúc đó con có thể nhìn bảy tia từ một tầm nhìn cao hơn và nắm bắt những khía cạnh cao hơn của mỗi tia. Một khi con vượt quá nhu cầu phụng sự tự ngã hay ngay cả phụng sự ngã tâm linh đã đưa con từ tầng 48 lên tầng 96, thì con đơn thuần là Ki-tô đang hành động. Ki-tô đang hành động tìm cách nâng tất cả mọi người lên, bất kể điều ấy có nghĩa là gì, trong mỗi hoàn cảnh cá biệt.
Để trở về khái niệm sự thật, có những người sẽ nói: “À, trong tâm Ki-tô phải có một sự thật duy nhất, không phân chia, bởi vì nếu có nhiều hơn là một sự thật thì tâm Ki-tô sẽ bị phân rẽ với chính nó. Vậy làm sao nó có thể là tâm hợp nhất được?” Phải, đây là một thí dụ lý luận lô gíc của rắn, nhưng đó chỉ là lô gíc, không phải là trải nghiệm của Ki-tô. Như thày có nói, không có biểu hiện bằng từ ngữ nào tránh được diễn giải. Sự thật Ki-tô là trải nghiệm Ki-tô trong con. Khi con có trải nghiệm này, con nhận ra là không có sự thật duy nhất nào có thể biểu hiện trên Trái đất bởi vì trong mỗi tình huống con gặp, mỗi người con gặp, Ki-tô có một cách tiếp cận riêng với người đó. Mục tiêu của Ki-tô không phải là cho người đó sự thật tối hậu mà là hòa điệu với tầng tâm thức hiện tại của người đó và cống hiến cái gì có thể nâng họ lên tầng kế tiếp.
Mục tiêu của Ki-tô là đưa con người vào con đường tâm linh và họ bước từ tầng này lên tầng kia và cứ tiếp tục tiến triển. Mục tiêu của Ki-tô không phải là phóng một người đang ở tầng 48 lên tầng 144 trong một bước nhảy vọt vĩ đại, mà là giúp họ neo trụ vào đường tu sẽ dẫn họ qua các tầng khác nhau cho tới tầng 144. Do đó, không có một sự thật duy nhất cho tất cả mọi người. Có một chén nước mát nhân danh Ki-tô cho mỗi người sẽ giúp được người đó bước lên tầng kế tiếp.
Có thể là không phải tất cả các con đều có cảm nhận này nhưng nhiều người trong các con có cảm nhận là từ ngày tìm ra con đường tâm linh, tâm thức con đã tăng trưởng nhiều tầng cao hơn. Do đó con phần nào có cảm nhận là có khác biệt vĩ đại giữa tầng 48 và tầng 144. Khi nhận ra điều này, con có thể nói: “À, ta thấy gì trong hệ thống giáo dục trên Trái đất? Ta thấy có một đại học kia với phân khoa toán học rất lừng lẫy trong đó có những giáo sư toán rất, rất điêu luyện trong việc dùng toán, phát triển những dạng toán học mới, những dạng toán học tiên tiến hơn. Bây giờ, tại sao ta không đón những giáo sư từ đại học này vào các trường mẫu giáo và dạy các em dạng toán học cao nhất đó? Tại sao ta để các học trò mẫu giáo bắt đầu với 1 cộng 1 và 2 cộng 2? Tại sao không cho các em sự thật tối hậu ngay từ đầu?”
À, lẽ tất nhiên con có thể thấy là cách này không thực sự đem lại kết quả. Làm sao các em có thể nắm bắt được loại toán đó khi các em còn chưa biết làm toán cộng, toán trừ? Cho nên, con thấy đấy, con có thể cho học trò mẫu giáo một sự thật mà các em có thể nắm bắt. Sự thật đó không sai nhưng nó không phải là cái trọn vẹn của toán học. Con có thể cho các em trung học những bài dạy cao hơn nhưng nó vẫn chưa là cái trọn vẹn của toán học. Ngay cả ở tầng đại học, nó vẫn chưa là cái trọn vẹn. Con đường tâm linh và sự biểu hiện sự thật Ki-tô cũng giống vậy. Sự thật phải được và sẽ được thích ứng, cho nên sẽ tới điểm ở gần tầng 96 khi con phải nắm bắt điều này. Con cần nhìn ra là có một ngã trong con muốn sự thật Ki-tô phải tối hậu vì nó muốn có sự thật tối hậu để dùng như vũ khí khiến người khác phải phục tùng.
19.9. Nhìn nhận những giới hạn của tâm mình
Con cần thấy ra ngã này và con cần quyết định một cách ý thức cho nó chết đi. Nếu con không làm vậy thì con sẽ không vượt quá tầng này và quả thực con có thể bắt đầu đi xuống các tầng tâm thức thấp hơn, khi con tìm cách dùng những thành đạt tâm linh của mình để quy định một sự thật tối hậu nào đó và tôn mình lên thành một đạo sự quảng bá sự thật này. Con cần tới điểm nhìn nhận là tâm con, tâm vỏ ngoài của con có giới hạn. Tâm con không thể nắm bắt sự thật tối hậu. Nó không thể tự nó hiểu đuợc sự thật tối hậu. Nó không thể quy định sự thật tối hậu. Do đó con cần một cái gì đó bên ngoài tâm con và cái đó là tâm Ki-tô, nhưng tâm Ki-tô được biểu hiện qua các chân sư thăng thiên là những vị thày được chỉ định giáo huấn Trái đất, và các thày không cho các con sự thật tối hậu.
Các thày cho con sự thật mà con cần để tiến lên cao hơn. Khi con buông bỏ tự ngã muốn đạt sự thật tối hậu vì nó muốn đạt một tầng tối hậu, thì con có thể neo mình vào các tầng cao hơn của con đường tâm linh. Con tiếp tục tăng triển, con khiêm nhường vươn lên một điều gì ở tầng thăng thiên ở mỗi bước trên đường tâm linh, thay vì bị phỉnh và nghĩ rằng con rất đặc biệt vì đã đạt tầng tâm thức này, sáng ngộ này, con đã tỉnh thức, con đã giác ngộ, con là thế này, con là thế kia. Đây là cách con tiếp tục đi trên con đường tu và thực sự là con trở nên càng ngày càng bình đẳng hơn trong cách con nhìn mình và người khác.
Điều thày vừa nói thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn vì chắc chắn là khi con ở tầng 134, con có thành đạt và nhận biết tâm linh cao hơn một người ở tầng 48. À, đúng như vậy nhưng trong tâm Ki-tô con không hơn hay có giá trị hơn người kia. Phán xét giá trị chỉ có trong tâm tự ngã. Con càng lên cao hơn trên con đường quả vị Ki-tô, thì phán xét giá trị càng phai mờ cho tới khi khái niệm đó còn không len lỏi vào tâm con nữa. Ở điểm đó, con cảm thấy một sự tự do khó có thể tưởng tượng khi con còn bị giam cầm trong những phán xét giá trị của tự ngã.
Với các lời này, thày đã cho các con phần của thày trong những gì các thày muốn cống hiến tại hội nghị này. Các thày rất cám ơn các con đã cho các thày cơ hội này. Các thày hy vọng là các con nhận ra vì chúng ta có ba ngày cho hội nghị này, nên các con sẽ nhận được nhiều bài truyền đọc trong một khoảng thời gian ngắn. Các thày hy vọng con hiểu được nhu cầu làm như vậy vì các thày có một số lượng giáo lý muốn truyền đạt. Có nghĩa là có ít giờ hơn để đọc chú và thỉnh và có thể ít giờ hơn để trả lời câu hỏi nhưng ta hãy nhìn xem thời gian và không gian có cho phép các thày cống hiến nhiều hơn chăng.
Với lời này, thày niêm phong các con trong Ngọn lửa Sự thật Ki-tô mà thày cầm giữ cho Trái đất. Hilarion, TA LÀ.