35 | Quả vị Ki-tô là đi vào cộng hưởng

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Phật Gautama qua trung gian Kim Michaels, ngày 8 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Phật Gautama. Nếu các tín đồ Cơ đốc giáo trên thế gian này nghe câu này thì họ sẽ nói: “Phật dính dáng gì tới Ki-tô và con đường quả vị Ki-tô?” À, chúng ta sẽ thấy, phải không các con? Con đường quả vị Ki-tô và Bát chánh đạo khác nhau thế nào? Bây giờ thày sẽ nói cho các con nghe.

[Im lặng]

Đúng, chẳng có khác biệt gì cả. Chỉ khác hình tướng bên ngoài. Hình tướng bên ngoài quan trọng hay kết quả cuối cùng quan trọng? À, bây giờ chúng ta thấy sự phân chia giữa những ai đã thăng thiên và những ai chưa thăng thiên. Những ai chưa thăng thiên dính mắc vào hình tướng bên ngoài. Những ai đã thăng thiên đã vượt quá dính mắc đó và nhận ra chỉ có kết quả cuối cùng là quan trọng.

35.1. Lời dối trá chủ yếu của rắn

Những người dính mắc vào hình tướng vỏ ngoài của giáo lý, dù họ là Phật tử, tín đồ Cơ đốc, tín đồ Ấn giáo, tín đồ Hồi giáo hay tôn giáo này tôn giáo kia, họ tin gì? Họ tin lời dối trá của rắn rằng một giáo lý có một hình tướng đặc thù trên Trái đất có thể dẫn họ lên thiên đàng và chỉ có giáo lý duy nhất đó có thể đưa con người lên thiên đàng. Đây là một lời dối trá, thậm chí còn không là một lời dối trá khôn khéo. Nó chỉ có vẻ thật đối với tự ngã mà thôi, tự ngã đang tìm cách đảm bảo sự cứu rỗi của nó bằng cách dùng những thứ của thế gian.

Con đường quả vị Ki-tô, con đường quả vị Phật, con đường dẫn tới bất kỳ nhận biết cao hơn nào, con đường vượt quá Trái đất, các con đường này là gì? Đó là thăng vượt tất cả các hình tướng trên Trái đất để con nối kết lại với sự thật là con không đến từ Trái đất. Con không là sản phẩm của Trái đất. Con là một sinh thể tâm linh đi xuống Trái đất và mang vào hình tướng của thân vật lý của con, bốn thể phàm của con. Con đã không trở thành tấm áo vỏ ngoài đó. Chính vì con đã không trở thành hình tướng nên con có thể thoát khỏi hình tướng. Nếu con đã không trở thành hình tướng mà con đã khoác vào ở đây trên Trái đất, và nếu cách duy nhất để con đi vào cõi cao hơn là con thăng vượt hình tướng trên Trái đất, thì có lý chăng là hình tướng mà con có trên Trái đất cần một giáo lý vỏ ngoài có một hình tướng đặc thù để con có thể thoát khỏi hình tướng?

Con thấy đó, con đang tìm cách thoát khỏi hình tướng của bốn thể phàm của con bằng cách dùng một hình tướng khác trong bốn tầng của vũ trụ vật chất. Con không thấy chăng là điều này sẽ không bao giờ thành công? Lẽ dĩ nhiên thày đang nói vào tâm thức tập thể. Giờ đây, con có thể nói: “Ấy, thày nói điều này vào tâm thức tập thể có phải là vô bổ không, vì thày luôn luôn nói tâm thức tập thể rất thấp?” Đúng, đấy là sự cám dỗ mà thày phải đối mặt khi thày nhập Niết bàn và quyết định trở về Trái đất để giáo huấn: “Thày đã đạt một tầng tâm thức cao tới độ không ai trên Trái đất có thể hiểu.” Câu trả lời của thày lúc đó là: “Sẽ có một số người hiểu,” hay đúng hơn sẽ có một số người cộng hưởng với giáo lý của thày.

35.2. Tâm thức Ki-tô có hình tướng không?

Tâm thức Ki-tô là gì? Tâm thức Ki-tô thực sự là gì? Các thày đã giải thích gì ở đây? Khi lần đầu tiên con người nghe tới khái niệm tâm thức Ki-tô thì họ phóng chiếu lên đó những hình ảnh dựa trên những gì họ thấy trên Trái đất, dựa trên chính tự ngã của họ và sự pha màu và những giáo lý giả mà họ tin. Họ đang làm gì khi họ phóng chiếu những hình ảnh này lên tâm thức Ki-tô? Họ phóng chiếu một hình tướng lên tâm thức Ki-tô. Tâm thức Ki-tô có hình tướng chăng? Phật Tánh có hình tướng chăng? Không đâu. Phải, mọi hình tướng được làm ra từ tâm thức Ki-tô hay từ Phật Tánh, nhưng chính tâm thức Ki-tô có hình tướng chăng? Không. Nó vượt quá hình tướng – và đó là lý do tại sao nó là cái duy nhất có thể dẫn con vượt quá hình tướng.

Giờ đây do cơ chế vận hành của vũ trụ vật chất, tâm thức Ki-tô không thể biểu hiện dưới dạng thuần khiết của nó trên một hành tinh phi tự nhiên như Trái đất. Quả thực là nó không thể biểu hiện được dưới dạng thuần khiết của nó ở bất cứ đâu. Nó phải được cá nhân hóa. Nó phải khoác vào hình tướng. Đó là cốt lõi của ý tưởng về sự hiện thân của Ki-tô. Điều này có nghĩa là nếu Ki-tô không hiện thân, thì những người bị kẹt trong nhị nguyên và tách biệt sẽ không có cơ hội thấy rằng con người có thể thăng vượt tâm thức tách biệt, tâm thức chết, tâm thức nhị nguyên.

Việc Ki-tô hiện thân, việc Phật hiện thân là để cống hiến cơ hội đó. Hầu hết con người không sẵn lòng thay đổi và do đó, họ sẽ làm gì? À, họ có thể theo một tôn giáo hay phong trào dựa trên một hiện thân thật, nhưng họ lại chú tâm vào hình tướng bên ngoài thay vì thấy được là hình tướng bên ngoài không quan trọng. Chính cái bên trong được biểu lộ qua hình tướng bên ngoài mới quan trọng. Con đường dẫn tới thăng vượt, tới sự sống, sự sống trường cửu là phải nhìn vượt quá hình tướng. Hãy nhìn cái bên trong được biểu lộ, cái vô hình tướng được biểu lộ qua hình tướng và hãy đi theo cái vô hình tướng đó để tới tâm thức Ki-tô, hay Phật tánh, hay bất cứ chữ nào con muốn dùng để gọi nó.

35.3. Diễn giải hình tướng bên ngoài của giáo lý

Thay vào đó, những người không sẵn lòng thăng vượt chính họ, họ tập trung vào hình tướng bên ngoài. Giờ đây, họ bắt đầu diễn giải giáo lý. Chao ôi, ho có bao nhiêu cách để diễn giải giáo lý! Giê-su đã thách thức các thày thông giáo và Pha-si-si. Thày đã gặp những người Bà là môn Ấn giáo – và chao ôi, họ có bao nhiêu cách để diễn giải! Giờ đây, con nhìn xem chuyện gì đã xảy ra cho Phật giáo, đã chia ra thành nhiều tông phái khác nhau. Tại sao thế? Vì họ diễn giải và diễn giải và diễn giải, họ tranh cãi bất tận về chữ này hay chữ kia. Có phải chữ đó nghĩa là thế này? Hay nó nghĩa là thế kia? Phật muốn nói gì khi chối bỏ là có một ngã trường tồn? Có phải ý Phật là không có ngã? Và vân vân và vân vân.

Con có thể nói: “Ấy, đó chỉ là trò chơi mà con người chơi trên Trái đất để trì hoãn cái ngày mà họ phải chọn lựa giữa thăng vượt hình tướng hay chết vĩnh viễn.” Tuy nhiên, con người có hiểu chăng họ đang làm gì khi chơi trò chơi này? Không đâu, vì trò chơi chính nó che mờ thực tại là không có sự sống bên ngoài tâm thức Ki-tô. Trò chơi muốn ta nghĩ nó có thể tiếp tục vô tận, nhưng không phải vậy đâu. Tự ngã, sa nhân có ngày hết hạn, hạn kỳ này có thể được kéo dài qua quyền tự quyết của con người nhưng nó không thể kéo dài mãi mãi. Họ có thể có bao nhiêu kiếp hiện thân trên Trái đất trước khi cơ hội hết hạn? À, đây là một câu hỏi không có giải đáp nhất định, nhưng con đừng nghĩ đó là con số vô tận.

35.4. Mục đích của việc Ki-tô hiện thân

Mục đích của việc Ki-tô hiện thân là gì? Phải chăng là khi thày sinh ra, thày đã ở trong một trạng thái tâm thức cao hơn rồi, thày đã ở trong tâm thức Phật rồi? Phải chăng là khi Giê-su sinh ra, thày đã ở trong tâm thức Ki-tô rồi? Như các thày đã giải thích nhiều lần, không phải như thế. Thày và Giê-su đều phải theo một tiến trình tu tập. Do đó, hiện thân của Ki-tô và hiện thân của Phật có ý nghĩa gì? Đó là một con người, hay đúng hơn một sinh thể tâm linh trong một thân thể con người, đạt tới mức tâm thức hội đủ điều kiện để Ki-tô có thể bắt đầu biểu hiện qua hình tướng bên ngoài đó. Khi con vượt qua sáng ngộ ở tầng 96, thì con trở nên hiện thân của Ki-tô. Con chưa có Ki-tô trọn vẹn nhưng con trở nên hiện thân.

Nói cách khác, hiện thân của Ki-tô không phải là một trạng thái mà con đã là trước khi con đầu thai. Đó là trạng thái mà con đạt được bằng cách nâng cao tâm thức của con. Mục đích của sự hiện thân đó là gì? À, lẽ dĩ nhiên, mục đích là cho con người một chọn lựa mà họ không có nếu họ không thấy được là một con người đang hiện thân có khả năng đạt được một tầng tâm thức có bản chất cao hơn tầng tâm thức mà họ đang có. Nếu họ không được thấy có cái gọi là tâm thức Ki-tô hay Phật tánh, thì họ đâu có chọn lựa, phải không con?

Để quyền tự quyết trải bày toàn vẹn thì con người phải được phép đi vào nhị nguyên. Như các thày đã giải thích, hậu quả của việc đi vào nhị nguyên là có một chiếc đồng hồ bắt đầu đếm giờ. Tới một điểm nào đó, chiếc đồng hồ sẽ báo là thời hạn chấm dứt. Trước khi đồng hồ báo thời hạn chấm dứt, thì con người phải được cơ hội thấy khả năng thoát khỏi trạng thái tâm thức tách biệt. Họ chỉ nhận được cơ hội đó khi gặp một sinh thể đã trở nên hiện thân Ki-tô, và qua đó chứng minh một trạng thái tâm thức cao hơn. Có thể nói đây là khía cạnh alpha của hiện thân Ki-tô.

Vậy thì khía cạnh omega của hiện thân Ki-tô là gì? À, đó là Ki-tô Hằng sống đi giáo huấn. Giáo huấn lẽ dĩ nhiên là một từ, như nhiều thày khác đã đề cập, đã bị con người trên Trái đất và các thày giả bóp méo. Bởi vì quả thực Ki-tô không tìm cách trao truyền một giáo lý vỏ ngoài sẽ thức tỉnh con người một cách tự động và máy móc. Đúng hơn là Ki-tô tìm cách trao một giáo lý hằng sống, và trải qua các thời đại ít người đã nhận ra điều này.

35.5. Ki-tô trao một giáo lý hằng sống

Con thấy đó, khi 2.500 năm trước đây thày ngồi trong thế kiết già – mà người sứ giả này không ngồi được – thày trao một giáo lý hằng sống. Thày dùng chữ để nói, đúng, nhưng các chữ này được thấm đẫm bởi dòng chảy của Tánh linh, dòng chảy của Phật Tánh, dòng chảy của tâm Ki-tô – giống như những chữ mà người sứ giả đang nói được thấm đẫm bởi Tánh linh hằng sống của thày. Sau đó, sau khi thày rời thân vật lý, những tông đồ mà thày thu hút đã tạo ra giáo lý khẩu truyền bằng cách học thuộc các chữ của thày.

Lẽ tất nhiên sau này, các chữ này được viết ra, được dịch sang nhiều ngôn ngữ. Các chữ này không phải là lời hằng sống. Chúng không nhất thiết là chữ chết, vì con có thể lấy một giáo lý được viết thành văn và con nghiên cứu nó và con có thể dùng giáo lý vỏ ngoài để tìm cách kết nối với sinh thể tâm linh đằng sau giáo lý, sinh thể đã trao truyền giáo lý. Nhờ vậy, con có thể cảm thấy dòng chảy của Tánh linh khi học hỏi một giáo lý vỏ ngoài.

Con người rất dễ không làm như thế và thay vào đó họ chú tâm vào giáo lý vỏ ngoài, nghĩ rằng nếu họ hiểu giáo lý bằng trí năng, hay học thuộc lòng giáo lý, hay tìm ra một diễn giải mà họ nghĩ đó là ý của sinh thể hằng sống khi vị ấy trao truyền giáo lý, thì như vậy họ đã làm đủ. Lúc ấy, giáo lý vỏ ngoài trở thành phương tiện cho sự cứu rỗi của họ, sự giác ngộ của họ. Con chỉ cần học giáo lý của Phật đủ lâu và làm một số thực tập đủ lâu, thì con sẽ giác ngộ. Có thể không trong kiếp này, nhưng chắc chắn sau kiếp này. Cách tu này không bao giờ thành công được. Như các thày đã nói, không có con đường tâm linh bảo đảm thành công.

Chỉ khi nào con nhìn quá hình tướng của giáo lý vỏ ngoài và nối kết với Tánh linh Hằng sống của sinh thể đã trao truyền giáo lý, thì giáo lý đó mới dẫn con tới giác ngộ hay quả vị Ki-tô. Không hình tướng nào có thể giúp con thăng vượt hình tướng. Chỉ có Tánh linh mới có thể giúp con thăng vượt hình tướng. Tuy thế, với những người trong các con đã đạt được các tầng quả vị Ki-tô bắt đầu ở tầng 96 và cao hơn (với một số các con, không phải là tất cả các con nhưng một số các con), giảng dạy là một phần của Sứ vụ Thiêng liêng của con. À, có thể nói là tất cả các con đều có phần giảng dạy trong Sứ vụ Thiêng liêng của mình, nhưng giảng dạy không nhất thiết là giảng dạy theo nghĩa thông thường.

35.6. Sứ mệnh giảng dạy

Với một số các con, các con sẽ giảng dạy trong đời sống hàng ngày khi con tương tác với người khác trong những hoàn cảnh bình thường: tương tác với trẻ thơ, gia đình, người làm cùng sở, hay bất cứ ai khác. Đôi khi con sẽ có linh hứng nói một điều được thấm đẫm bởi Tánh linh Hằng sống. Đấy là giảng dạy dù con không giảng dạy họ một cách chính thức, dù con không đề cập tới giáo lý chân sư thăng thiên, thậm chí dù con không có ý định giảng dạy bất cứ gì. Khi có dòng chảy thì con đang dạy. Một số khác sẽ có trong Sứ vụ Thiêng liêng của họ công việc giảng dạy một cách bình thường hơn, chính thức hơn. Lúc ấy họ xuất hiện trong vai trò người giảng dạy và trình bày một giáo lý cho người khác dưới bất cứ dạng nào.

Giờ đây, trải qua các thời đại, các thày đã thấy nhiều đệ tử chân sư thăng thiên tìm được giáo lý, rồi họ nhận ra giảng dạy có thể là một phần của Sứ vụ Thiêng liêng của họ và sau đó tâm vỏ ngoài của họ ép họ bắt đầu giảng dạy. Có thể nói đó là một gánh nặng, một chiếc gông họ đeo vào cổ. Cho nên thày khuyến khích con nhìn vào chính mình. Con hãy nhìn phản ứng của con trước ý tưởng con có thể giảng dạy. Con hãy coi xem tâm vỏ ngoài có nhìn chuyện này rất hệ trọng không. Con hãy coi xem tâm vỏ ngoài có nhìn việc giảng dạy một cách cuồng đại không. Con hãy coi xem tâm vỏ ngoài có cảm nhận là con có thể thành công hay thất bại không.  

Nếu con cảm thấy như thế, thày cho phép con quyết định trì hoãn việc giảng dạy. Con không tìm cách giảng dạy từ tâm vỏ ngoài. Thay vào đó, con hãy dùng những dụng cụ để khám phá và phơi bày những ngã tiềm thức mà con có liên quan đến việc giảng dạy. Chỉ những ngã này mới khiến con rất nghiêm trọng về việc giảng dạy, cảm thấy ám ảnh-cưỡng chế về giảng dạy, cảm thấy đây là một chuyện mà con phải làm.

Người sứ giả này có những ngã như thế và ông đã bỏ ra một số năm để xem xét chúng, và dần dần buông bỏ chúng. Một vài năm trước đây, ông bắt đầu làm video trên YouTube vì ông cảm thấy ông phải làm chuyện đó. Ông tới điểm cảm thấy không muốn biểu hiện mình như vậy. Ông để nó qua bên, nghĩ rằng đây chỉ là một thời gian nghỉ ngắn. Rồi nhiều năm trôi qua và cho dù thỉnh thoảng ông có ý nghĩ làm video trở lại, nhưng ông không bao giờ đủ quyết tâm để làm điều đó. Rồi hai năm trước đây, ông cảm thấy từ bên trong: “À, bây giờ tới lúc tôi xuất hiện ra bên ngoài.” Ông làm điều này, và con thấy bây giờ ông thoải mái hơn nhiều. Ngay cả chỉ trong hai năm đó, ông đã trở nên thoải mái hơn, trong suốt hơn. Đó là vì ông đã làm việc với tâm lý mình cho tới khi ông không quyết định giảng dạy với tâm vỏ ngoài. Quyết định đơn giản phát xuất từ bên trong.

Thày cho phép con trải qua tiến trình này theo ý con. Nếu con cảm thấy lo âu về chuyện giảng dạy thì con hãy quyết định trì hoãn nó. Con hãy làm việc trên tâm lý mình. Con hãy cố gắng vươn lên cao hơn trong quả vị Ki-tô. Thậm chí con có thể nói, hãy để quyết định đến tự nhiên, tự phát từ bên trong. Giờ đây, khi nói điều này, thày không có ý nói con cần ngưng dòng chảy của Tánh linh chảy qua con. Bởi vì, một lần nữa, cho dù con quyết định không giảng dạy một cách chính quy, con vẫn gặp người khác trong nhiều hoàn cảnh của đời sống hàng ngày và lúc đó có điều gì đó bắt đầu tuôn chảy qua con. Thày không nói là khi con cảm được dòng chảy đó, con phải nói: “Ồ không đâu, tôi đang không giảng dạy. Phật Gautama nói tôi không phải giảng dạy. Hãy để tôi yên.” Điều thày muốn nói là khi con cảm được dòng chảy đó, con biểu lộ nó một cách tự nhiên. Bởi vì đấy không phải là tâm vỏ ngoài quyết định con phải giảng dạy. Đấy chỉ là dòng chảy.

35.7. Giảng dạy như một dòng chảy

Con luôn luôn cho phép dòng chảy chảy và con không tìm cách ép nó. Con thấy đó, con không tìm cách ép dòng chảy vào sự giảng dạy chính quy nhưng con không tìm cách ép dòng chảy không được chảy. Con cho phép nó chảy. Nếu con làm được điều này, nếu con gỡ bỏ được sự cưỡng chế phải giảng dạy hay sự sợ hãi giảng dạy, thì sẽ tới một điểm đối với nhiều người trong các con (không phải tất cả các con nhưng nhiều người trong các con) sự giảng dạy đơn giản sẽ bắt đầu tuôn chảy. Con sẽ cảm thấy có gì đó muốn được biểu hiện qua con. Lúc đó, con thấy con sẽ giảng dạy như thế nào, mỗi người mỗi khác (dựa trên quá trình lớn lên của con, việc làm của con, sự nghiệp của con, quá trình giáo dục của con). Một lần nữa, điều này không có nghĩa là con cần dạy giáo lý chân sư thăng thiên hay ngay cả một giáo lý tâm linh.

Nếu, tỷ dụ, con ở trong môi trường kinh doanh thì con có thể dùng một số ý tưởng chung chung mà các thày nói tới liên quan tới tâm lý và áp dụng chúng vào nhiều khía cạnh khác nhau của thế giới kinh doanh. Giống như một số người đã bắt đầu làm, họ có sẵn nền tảng về việc huấn luyện và họ viết sách và mở lớp về các đề tài này. Có nhiều cơ hội mở ra cho các con.

Có thể là các thày cần nói: “Điều gì khiến nhiều đệ tử lo sợ chuyện giảng dạy?” Ấy, đó là vì họ đưa vào tâm họ ý tưởng là giờ đây họ đã tìm được giáo lý chân sư thăng thiên, thì họ cần truyền bá giáo lý này cho mọi người họ gặp. Các thày đã nói con không cần làm như vậy. Các thày đã nói điều này nhiều, nhiều lần. Tùy theo quá trình xuất thân của con, có thể con không cần giảng dạy bất kỳ điều gì tâm linh.

Con có thể không nói gì cả về chân sư thăng thiên cho dù con theo học giáo lý các thày. Nếu con là một kỹ sư giảng dạy ngành kỹ sư tại một đại học, có thể là con không có cơ hội thực tế để nói về các đề tài tâm linh. Tuy thế con có thể tới điểm khi con dạy môn kỹ sư, thì lời dạy của con được thấm đẫm bởi dòng chảy của Tánh linh tuôn chảy qua con. Con có thể dùng cùng những chữ con đã dùng nhiều năm trước đây, nhưng có cái gì đó tuôn chảy qua con thấm đẫm các chữ này. Nó có thể tạo cảm hứng cho các học trò của con và một số người sẽ nhận dòng chảy này, tự hỏi nó từ đâu tới và nó có thể đánh thức điều gì đó trong họ. Lẽ tất nhiên, điều này áp dụng vào mọi ngành, mọi lãnh vực trong xã hội: giáo dục, điều dưỡng, y khoa, bất kỳ lãnh vực nào, chính trị, kinh tế.

35.8. Dòng chảy của sự giảng dạy tự thân nó là kết quả

Khi con trở nên trung hòa, khi con trở thành cánh cửa mở, thì Tánh linh có thể được biểu lộ trong bất kỳ lãnh vực nào của sinh họat con người. À, không hẳn là mọi lãnh vực nhưng nhiều lãnh vực. Khi con tới điểm (mà các chân sư khác đã nói tới) con trở nên trung hòa, con trở nên trong suốt, thì con không giảng dạy với mục đích tạo một thay đổi đặc thù nơi người học trò hay trong xã hội. Quả thực con không giảng dạy theo cách con người thường xem việc giảng dạy. Con chỉ biểu lộ, cho phép Tánh linh tuôn chảy qua con và dòng chảy tự thân nó là kết quả. Con hãy nghe thày: Dòng chảy tự thân nó là kết quả! Tác dụng bên ngoài không quan trọng với con ở tầng mức này. Khi dòng chảy có mặt, khi nó được biểu hiện, thì công việc đã hoàn tất.

Thành quả của việc giảng dạy hay biểu hiện không phải là bất kỳ kết quả bên ngoài nào, bất kỳ thay đổi nào nơi người khác hay xã hội. Thành quả của việc biểu hiện là chính sự biểu hiện, là dòng chảy. Khi con xác nhận điều này, khi con nhận ra điều này, khi con làm việc với những ngã cực lực muốn con tin là con phải đạt được thành quả nào đó, thì lúc đó con sẽ trải nghiệm là dòng chảy tự thân nó là phần thưởng. Phần thưởng của việc giảng dạy là con đã giảng dạy. Phần thưởng của giảng dạy không phải là người khác đón nhận lời giảng. Đây không phải là trách nhiệm của người thày khi người thày mở tâm với dòng chảy của Tánh linh.

Khi con để cho Tánh linh biểu hiện chính nó qua con, con không cần lượng định, xét đoán hay phân tích hình tướng mà Tánh linh dùng. Con không phải là người làm. Tại sao con cần lượng định cách con hoàn thành công việc? Con có thể lượng định: “Tôi có mở đủ cánh cửa của tôi chưa? Tôi có phản ứng gì chăng? Tôi có ngã tiềm thức nào chăng?” Con có thể lượng định: “Tôi có biết đủ đề tài này chăng? Tôi có cần học thêm để có thể là dụng cụ tốt hơn cho Tánh linh chăng?” Người khác có đón nhận lời dạy hay không, người khác có thay đổi nhờ lời dạy hay không, con không cần lượng định các điều này. Các việc này tùy thuộc quyền tự quyết của họ. Con chỉ cần biết: Một số người sẽ hiểu, một số người sẽ cộng hưởng. 

Tại sao thày nói khía cạnh quan trọng của giảng dạy không là hình tướng mà là sự biểu hiện của Tánh linh? À, như thày đã nói trước đây: Tâm thức Ki-tô là gì? Phật tánh là gì? Nó vô hình tướng theo nghĩa nó không có bất cứ hình tướng nào có thể nhận ra được trên Trái đất. Nó vẫn có năng lượng, rung động, cộng hưởng. Khi nó được cho phép biểu hiện, thì con người được cho cơ hội hòa điệu với nó để họ cộng hưởng với Tánh linh. Cái gì chuyển hóa con người nhiều hơn từ ngữ vỏ ngoài? Đó là khi họ cộng hưởng với Tánh linh.

35.9. Cộng hưởng với tâm thức Ki-tô

Điều gì sẽ tối hậu giúp con đạt được tâm thức Ki-tô, cho con khả năng và sức mạnh để đạt tâm thức Ki-tô? Con, cái Ta Biết, cần cộng hưởng với một chân sư thăng thiên đã là một với tâm thức Ki-tô. Là một với vị thày, là một với một chân sư thăng thiên nghĩa là gì? Nó nghĩa là con cộng hưởng với vị thày đó cho tới khi con cộng hưởng với sự rung động, tâm thức, bản thể của vị thày. Đây quả thực là mục tiêu cao nhất của một đệ tử chân sư thăng thiên: cộng hưởng với vị thày. Thày đã cho con cơ hội cộng hưởng với thày. Con đừng trách mình nếu con chưa cảm thấy được điều này. Con tiếp tục đi trên con đường tâm linh và sẽ có một ngày con có thể nghe một bài truyền đọc và con cảm thấy con cộng hưởng. Con cũng có thể đột nhiên cảm thấy con cộng hưởng trong khi đang làm một sinh hoạt thường ngày.

Kết quả tối hậu, kết quả cuối cùng của bầu cõi của con, bầu cõi chưa thăng thiên này là gì? Điều gì sẽ khiến một bầu cõi thăng thiên? Đó là khi đại đa số các sinh thể trong bầu cõi cộng hưởng với các chân sư thăng thiên đã sinh tạo bầu cõi và do đó là đại diện cho tâm thức Ki-tô cho bầu cõi đó. Đấy là ý nghĩa của câu “Trên sao dưới vậy.” Có sự cộng hưởng giữa Trên và dưới. Khi ấy bầu cõi thăng thiên. Một hành tinh cũng thế. Đa số những sinh thể trên một hành tinh đi vào cộng hưởng, và khi ấy hành tinh thăng thiên. Cá nhân con đi vào cộng hưởng và con có thể thăng thiên. Với lời này thày đã cho con cơ hội cộng hưởng với thày. Đây là điều thày muốn cho con.

Tất cả các thày cám ơn các con đã cung cấp diễn đàn này qua việc thực tiễn tổ chức hội nghị, và qua việc cac con hiện diện ở đây và sẵn lòng là cánh cửa mở. Chúng ta đã cùng nhau tạo một khuôn đúc mạnh mẽ hơn những gì các thày hy vọng cho buổi hội nghị này. Chúng ta đã phóng ra một xung lực mạnh mẽ không những vào tâm thức tập thể của Hàn Quốc mà còn của toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia mà các con đại diện. Điều này giúp cho những người sẵn lòng, có tâm cởi mở và nhạy cảm, được cơ hội cộng hưởng với tâm Ki-tô, với rung động cao mà giờ đây họ có cơ hội cảm nhận được, cho dù họ không ý thức điều đó.

Đây là một kết quả, nếu con muốn dùng từ này, vô giá cho sự tiến triển của hành tinh này. Vì vậy, các thày đều cám ơn các con. Cho nên, thày hân hạnh và đầy niềm vui khi niêm buổi hội nghị này, niêm các con trong Ngọn lửa mà THÀY LÀ. Chân sư Thăng thiên Phật Gautama, TA LÀ.