17 | Gia tốc ý định của con

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Serapis Bey qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Serapis Bey, như các con đã có thể đoán qua sự tuần tự tiếp nối của các bài giảng, tuy các thày đang nói ở đây về nhưng chuyện không theo đường thẳng. Đây là một trong những bí ẩn của con đường tâm linh. Đó là nó có một số khía cạnh đường thẳng, nhưng cũng có những khía cạnh không đường thẳng. Thách đố của tình trạng này, như các con đã thấy qua các thời đại, là có một số người đã chú tâm vào các khía cạnh đường thẳng mà quên đi các phần không đường thẳng. Trong khi một số người khác chú tâm vào các khía cạnh không đường thẳng mà quên đi các phần đường thẳng. Thách đố là tìm ra sự quân bằng giữa hai bên.

Các thày có nói trước đây là có tâm đường thẳng và có tâm khái niệm. Con dùng tâm khái niệm để đồng-sáng tạo vì tâm khái niệm cho phép con tạo một khái niệm về một cái gì chưa được thể hiện vật lý. Con có thể hình dung một hình tướng chưa thể hiện và qua đó tạo ra một cái gì mới. Trong khi đó, tâm đường thẳng dựa trên cái gì đã có mặt, đã được thể hiện. Khi con hiểu điều này thì con có thể nói: “Phải chăng con chỉ dùng tâm khái niệm để đồng-sáng tạo?”

17.1. Tâm nào được dùng để đồng-sáng tạo?

À, điều này tùy thuộc con đang ở trong giai đoạn nào. Con thấy chăng, khi con là một người đồng-sáng tạo mới tới một môi trường cũng rất mới, thì con dùng tâm khái niệm nhiều hơn. Khi con đã tăng trưởng nhận biết, khi con đã đồng-sáng tạo, trong môi trường vật lý cũng như trong bốn thể của con, một cái gì tinh vi hơn thì con bắt đầu dùng thêm tâm đường thẳng. Con thực sự tìm ra một sự quân bằng giữa tâm khái niệm và tâm đường thẳng.

Lẽ tất nhiên, để việc đồng-sáng tạo thành công trên một hành tinh đã có nhiều người, đã có một nền văn minh lâu đời (ở đây thày muốn nói tới một hành tinh tự nhiên), thì con không thể hình dung một cái gì với tâm khái niệm hoàn toàn không dính dáng gì đến những gì đã được thể hiện rồi. Con thấy là con có thể khởi sự hình dung hình tướng mới bằng tâm khái niệm vì chưa có nhiều hình tướng được thể hiện. Sau đó, khi con thể hiện càng ngày càng thêm hình tướng, thì con cần sử dụng tâm đường thẳng để con có thể thấy sự tiến triển từ những gì đã có sẵn tới cái con muốn đồng-sáng tạo, để con xây dựng trên những gì đã có sẵn và tạo ra sự liên tục.

Con thấy là tuy các thày hay nói tới tâm đường thẳng như là một vấn đề, nhưng trên một hành tinh tự nhiên trong trạng thái nguyên thủy thì tâm đường thẳng không là vấn đề. Tâm đường thẳng rõ ràng phụ thuộc so với tâm khái niệm. Có thể nói nó là người tôi tớ của tâm khái niệm. Chuyện xảy ra trên một hành tinh phi tự nhiên là khi đa số con người mất nối kết với cái ta cao của họ, thì họ không còn thể thấy họ là người đồng-sáng tạo nữa. Do đó, họ rất khó dùng tâm khái niệm để hình dung một cái gì chưa thể hiện.

17.2. Bị lạc trong tâm đường thẳng

Tâm khái niệm dùng cái gì để hình dung một hình tướng mới? Đó là tâm Ki-tô. Giờ đây, khi con có một hành tinh phi tự nhiên nơi con người đã đi vào tách biệt, thì họ có khuynh hướng tập trung vào tâm đường thẳng, nhìn những gì đã có sẵn, phân loại những gì đã có sẵn, dán nhãn những gì đã có sẵn, và áp dụng vào đó phán xét giá trị của tâm nhị nguyên. Lúc đó họ trở nên rất lệ thuộc vào những gì đã có hình tướng trong cõi vật lý. Họ có khuynh hướng nghĩ họ không thể đi xa hơn, vì hoặc Thượng đế đã tạo ra thế giới như vậy hoặc các định luật thiên nhiên đã quy định như vậy.

Họ cũng sử dụng tâm đường thẳng một cách không được dự trù khi trong trạng thái nguyên thủy, trạng thái tự nhiên. Bởi vì lúc đó họ muốn nói: “Nếu ta dùng tâm đường thẳng và nhìn vào những gì đang hiện có, thì đây phải là hậu quả của những nguyên do mà ta không thấy, và nếu ta cứ tiếp tục đi ngược trở về các nguyên do trước đó, thì ta phải tới nguyên do nguyên thủy.” Và nguyên do nguyên thủy đó có thể là Thượng đế, hay các định luật thiên nhiên, hay vụ Nổ Lớn, hay Người Bí ngô Vĩ đại, hay bất cứ gì khác mà họ hình dung. Sau đó, họ muốn lấy tâm đường thẳng và kéo dài nó về hướng đối nghịch, hướng về kết quả tối hậu.

Đây không phải là công dụng tự nhiên của tâm đường thẳng. Như thày có nói, nó chỉ là người tôi tớ của tâm khái niệm. Con nhìn vào các hình tướng đã được thể hiện, con nhìn trở ngược một khoảng thời gian để xem tại sao, tỷ dụ, xã hội lại cấu trúc như vậy, những ý tưởng đằng sau cách cấu trúc này là gì, con người đã học được bài học gì. Sau đó, con dùng các nhận xét đó để điều khiển tâm khái niệm và tạo ra một cái gì được xây đắp trên nền tảng đó. Lẽ tất nhiên, con cũng xem xét các Elohim đã tạo ra những gì trên một hành tinh đặc thù, ý tưởng của họ là gì, họ đã dùng những nguyên lý nào để hướng dẫn công trình sáng tạo của họ, và sau đó con dùng các nhận xét này để tạo thành khái niệm mới, nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của các Elohim.

17.3. Tâm sùng bái và quả vị Ki-tô

Khi con mất nối kết với tâm khái niệm, tâm trực giác, thì tư duy con người trở nên rất đường thẳng. Đó là lý do vì sao đa số con người nghĩ là họ có thể dùng suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô. Lẽ tất nhiên, điều này không làm được, như các thày đã giảng. Cũng có những người hòa điệu hơn với khía cạnh trực giác của tâm, và thường khi họ có khuynh hướng đi theo con đường mà bên Đông phương gọi là con đường sùng bái. Họ trở nên rất sùng kính, rất thương yêu, thương yêu một thần nhân, thương yêu một chân sư, và cảm thấy họ làm như vậy là đủ. Cách tu này có thể dẫn tới tiến bộ nhưng nó cũng có giới hạn, vì tương tự như không thể suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô, con cũng không thể dùng tình thương để đạt quả vị Ki-tô.

Điều cần có là một sự quân bằng trong đó ngay cả những người sùng bái cũng có một hiểu biết nào đó về những khái niệm tâm linh, mục đích cuộc sống, thậm chí tại sao vũ trụ hiện hữu – vũ trụ là một môi trường để con người học hỏi – có một con đường tâm linh, và đó là một con đường tuần tự. Vì những người đã trở nên rất sùng bái thường cảm thấy họ đã vượt quá những chuyện như thời gian, tiến triển, con đường tâm linh theo đường thẳng, nên đôi khi họ bị kẹt trong một vòng luẩn quẩn mà ta có thể gọi là vòng luẩn quẩn của thời gian, và nghĩ sùng bái là đủ. Họ không nhận ra là trong tâm lý của họ có những vấn đề chưa giải quyết đã được tạo ra từ nhiều kiếp trước, và những vấn đề tâm lý này cần được giải quyết. Việc này đòi hỏi một tiến trình có đôi chút tính cách đường thẳng, bởi vì con không thể làm việc một cách vô trật tự, con cần khởi đầu ở nơi nào đó và tìm ngược trở về quá khứ cho tới khi con tìm ra chấn thương nhập đời.

17.4. Ý định của con khi đi trên con đường tâm linh

Từ tầm nhìn của Tia thứ Tư, lẽ tất nhiên tất cả các điều thày nói ở trên đều xoay quanh ý định của con. Ý định của con là gì khi con quyết định đi trên con đường tâm linh? Con có thể nói đến ý định ở một tầng thấp khi, như các thày đã nói, con lần đầu nghe nói tới con đường dẫn tới quả vị Ki-tô và tự ngã của con thiết lập một hình ảnh về con đường này. Tự ngã làm việc này dựa trên những gì nó có thể thấy, và lẽ tất nhiên đó là thấy nó như một sinh thể tách biệt, đi trên con đường tâm linh như một sinh thể tách biệt, đạt được một kết quả tối hậu nào đó như một sinh thể tách biệt – một mức đến mà tự ngã quy định trong thế gian, theo những gì đang hiện hữu trong thế gian. Lẽ tất nhiên, vấn đề của tự ngã là nó không thể thăng vượt cái gì đang hiện hữu trong hình tướng, vì nó không thể dùng tâm khái niệm để hình dung cái gì quá hình tướng. Tự ngã không thể nào dùng tâm khái niệm để hình dung quả vị Ki-tô thực sự nghĩa là gì. Tự ngã không thể dùng tâm khái niệm để hình dung cõi tâm linh thật sự như thế nào. Nó có thể tạo hình ảnh về cõi tâm linh dựa trên những gì nó thấy trong cõi vật chất, nhưng lẽ tất nhiên, hình ảnh này không thỏa đáng.  

Lúc ban đầu con có thể có, đúng ra là con chắc chắn có, một ý định đi trên con đường tâm linh một phần dựa trên tự ngã và những gì tự ngã có thể thấy. Con sẽ tới một điểm con cần bước lui lại và xem xét lại ý định của mình: Có một hình thức ý định cao hơn khi đi trên con đường tâm linh chăng? Lẽ tất nhiên là có. Con, cái Ta Biết, có thể thấy nó nhưng tự ngã thì không. Con cần sẵn lòng nhận ra những giới hạn của tự ngã và ý định, viễn quan, cách suy nghĩ của tự ngã liên quan đến con đường tâm linh. Con sẵn lòng đi vào trạng thái tâm trung hòa của cái Ta Biết và với lên ý định cao hơn từ tâm Ki-tô, từ các chân sư thăng thiên, từ Hiện diện TA LÀ của con.

Trong lọc ý định là một việc tối quan trọng. Một lần nữa, lẽ tất nhiên mỗi thày trong nhóm Thượng sư đều chú tâm vào một hướng riêng. Các thày có khuynh hướng nghĩ tia sáng của mình là bước quan trọng nhất. Lẽ tất nhiên, tất cả các Thượng sư đều công nhận là con cần phối hợp cả bảy tia để có thể hội đủ điều kiện thăng thiên. Vai trò của thày giản dị là giúp con nhận ra là con sẽ tới một điểm khi con không thể tiến hơn nữa nếu con không sẵn lòng bước lui lại và xem xét ý định của con: “Ý định của tôi khi đi trên con đường tâm linh có bao phần bị pha màu bởi tự ngã? Tôi có sẵn lòng bước lên, gia tốc ý định của mình lên một trình độ cao hơn không dựa trên tự ngã chăng? Tôi có thực sự sẵn lòng tiếp tục làm như vậy cho tới khi tôi rời cõi đời này chăng?”

Con cần phải tiếp tục làm như vậy cho tới khi con rời cõi đời này, bởi vì con có thể nói là tỷ dụ ở tầng 65, con thấy một trình độ ý định cao hơn là ở tầng 48. Nhưng ở tầng 96, con lại thấy một trình độ cao hơn, và ở tầng 124 con lại thấy một trình độ cao hơn nữa mà con không thể nắm bắt ở các tầng thấp hơn. Con không thể nắm bắt ý định của mình một cách tối hậu, không thể có ý định tối hậu ngoại trừ luôn luôn thăng vượt chính mình và sẵn lòng bước lên một bước cao hơn và luôn luôn bước thêm bước nữa.

17.5. Những giới hạn của truyền thống đạo sư

Khi con nhìn chung chung vào những người đã tìm ra một giáo lý tâm linh nào đó thì con có thể thấy là con đương tâm linh có một số giai đoạn. Một trong những giai đoạn này là con tới điểm nhận ra là có thể có một trạng thái tâm thức cao hơn. Con nhận ra điều này khi con thấy một người khác đã đạt được một trạng thái tâm thức cao hơn trạng thái tâm thức của con. Đây là toàn bộ mục đích của khái niệm đạo sư. Đây là một đạo sư đã đạt được một trạng thái tâm thức cao hơn, và do đó vị ấy đủ tư cách để giảng huấn người khác và giúp các người này đạt tới cùng trạng thái tâm thức của mình.

Quan niệm này không phải là không có giá trị. Có một truyền thống đạo sư lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới và quan niệm này có giá trị. Các thày không tìm cách nói nó không có giá trị, nhưng điều thày muốn chỉ ra ở đây là với nhiều người nó có thể trở thành một ngõ bí sau một thời gian. Đó là vì các người đó bị rơi vào một cạm bẫy của một ảo tưởng rất vi tế mà tâm rắn đã phóng chiếu vào tâm thức tập thể trên trái đất. Ảo tưởng này cho rằng vị đạo sư của mình là đạo sư chân chính duy nhất và đã đạt được một trạng thái tâm thức tối hậu cao hơn tất cả mọi người khác. Họ tin rằng vị đạo sư đã thật sự đạt một trạng thái tâm thức mà chính họ cũng sẽ không bao giờ đạt được, dù có cố gắng cho đến đâu. Do đó, họ tùy thuộc vào vị đạo sư để tiến triển. Họ sẽ chỉ tiến bộ xuyên qua vị đạo sư bên ngoài.

Đây là điều con thấy nơi ít nhất là một phần của truyền thống đạo sư trong Ấn độ giáo. Đây cơ bản là điều con thấy nơi Thiên chúa giáo sau khi nó bị tha hóa và nâng Giê-su lên địa vị tối hậu của người con duy nhất của Thượng đế. Con thấy nơi một số khía cạnh của Phật giáo khi tín đồ hầu như tôn đức Phật thành Thượng đế. Con cũng thấy nơi nhiều truyền thống tâm linh khác. Vấn đề là: Vì sao con người nhận ra là một vị đạo sư đã đạt được một trạng thái tâm thức cao? Đó là vì, như được mô tả qua câu chuyện Peter nhận ra Ki-tô trong Giê-su, tất cả mọi người đều có khả năng nhận diện Ki-tô, Ki-tô Hằng sống, tâm Ki-tô. Với đa số con người, họ nhìn thấy điều đó nơi một người khác.

Họ thấy điều đó nơi một đạo sư đã đạt được một phần quả vị Ki-tô. Mục đích của việc này không phải để thần thánh hóa vị đạo sư, thần thánh hóa Ki-tô nơi người khác. Mục đích là để giúp con tiến triển tới điểm con có thể bắt đầu nhận diện Ki-tô trong chính mình. Con có thể bắt đầu chấp nhận vai trò của vị đạo sư chỉ là làm tấm gương chứng minh sự kiện “điều một người đã làm được thì tất cả đều làm được.” Do đó, chính con cũng có thể trở thành Ki-tô, trở thành cánh cửa mở cho ánh sáng Ki-tô. Nếu con không nắm bắt điều này, nếu vị đạo sư không giảng dạy điều này, thì con có thể đi vào ngõ bí trong đó con thần thánh hóa vị đạo sư. Con có thể có xúc cảm mạnh liên quan tới vị đạo sư hay con có thể có một niềm tin đường thẳng về sự cao trội của vị đạo sư. Điều này sẽ khiến con, với thời gian, chối bỏ Ki-tô nơi chính mình.

Chuyện xảy ra trong những phong trào đó, là dần dần hình thành một văn hóa tôn thờ vị đạo sư. Tinh thần tôn thờ cần thiết vì mọi người có ý niệm là có chuyện gì không ổn khi chỉ thấy Ki-tô nơi một người. Đó là lý do vì sao họ có thể nhận ra Ki-tô nơi vị đạo sư khi họ gặp vị này. Nền văn hóa tôn thờ vị đạo sư phải giải thích vì sao họ không thực sự chối bỏ Ki-tô nơi chính họ.  

Một số người có thể bị kẹt trong tâm trạng này một thời gian dài, thậm chí có thể cho đến hết kiếp sống này. Nhiều người sẽ dần dần cảm thấy một sự căng thẳng dâng lên trong họ, và chuyện cần thiết phải xảy ra cho một số là họ xoay chuyển từ tâm trạng tôn thờ vị đạo sư sang nhìn vị  này một cách tiêu cực, có thể gọi vị ấy là đạo sư giả – hoặc hạ bệ vị đạo sư bằng nhiều cách khác. Bởi vì họ cần hạ bệ thần tượng của Ki-tô bên ngoài họ trước khi họ có thể bắt đầu nhận diện Ki-tô trong chính họ.

Một lần nữa, con có thể nói là một số người cần có trải nghiệm này. Nhưng thật sự có cần thiết chăng? Phải chăng trải nghiệm này có thể tránh bằng cách giản dị hiểu điều mà các thày đang trao truyền cho các con? Qua đó, con không cần phải tôn thờ một đạo sư bên ngoài. Con chắc chắn không cần phải tôn thờ vị sứ giả này, các con thấy các thày đã không bao giờ khuyến khích các con làm như vậy, và vị sứ giả này cũng không bao giờ khuyến khích các con làm như vậy. Quả thực là ông đã làm hầu như tất cả những việc có thể làm để tránh tinh thần tôn thờ ông.    

17.6. Tự ngã đằng sau tinh thần tôn thờ

Cái gì đằng sau hình thức tôn thờ này? À, đó chính là ý định dựa trên tự ngã, khiến con người nghĩ họ có thể đi trên con đường tâm linh mà không cần nhìn vào bên trong mình. Lẽ tất nhiên, đây là giấc mơ của tự ngã: đó là khiến con nghĩ con đang tiến bộ trên con đường tâm linh mà không cần nhìn vào tự ngã, để như vậy nó có thể tiếp tục trốn tránh khỏi mắt con. Khi con còn tinh thần tôn thờ vị đạo sư thì tự ngã cảm thấy an toàn.

Chuyện xảy ra cho một số đệ tử là họ bừng tỉnh khỏi tinh thần tôn thờ, và sau đó họ đi vào một ngõ bí khác. Diễn biến lý tưởng là khi con thoát khỏi tinh thần tôn thờ thì con thấy là sự tôn thờ không do vị đạo sư tạo ra, mà do một cái gì đó trong tâm lý của con, là các ngã tiềm thức mà con đã xây dựng trong nhiều kiếp sống trước. Nếu con sẵn lòng giải quyết các ngã tiềm thức đó thì con có thể làm hòa với vị đạo sư, và do đó con có thể tiếp tục trở lại theo vị đạo sư hay con tìm ra một vị đạo sư cao hơn, thường là các chân sư thăng thiên.

Có một số đi vào ngõ bí khác, tạo ra bởi ý nghĩ cho rằng vì họ đã thấy nhược điểm hay sự giả tạo của vị đạo sư, nên họ giỏi hơn vị đạo sư, và do đó họ đã đạt được một trạng thái phát triển tâm linh tối hậu. Lúc đó họ có thể lại bị kẹt trong đó cho đến hết kiếp sống. Con thấy là tự ngã luôn luôn có mặt, làm việc một cách vi tế để giăng bẫy con vào một ngõ bí. Các ngõ bí này luôn luôn đi cặp đôi. Một bên là theo vị đạo sư một cách mù quáng, bên kia là nghĩ mình giỏi hơn vị đạo sư.

17.7. Trong lọc ý định của con

Con thấy là khi con sẵn lòng bước lui lại thì con có thể trong lọc ý định của mình để nó không còn dựa trên tự ngã. Ý định trong sạch là gì? Con tới đâu khi con lên đến các tầng cao? À, một cách để giải thích điều này là khi con đi trên con đường tâm linh từ tầng 48 lên tầng 96, thì con cần chú tâm vào chính mình. Nhiều người trong các con nhận ra là trong đời họ, họ cần rất chú tâm vào con đường tâm linh, vào thực tập tâm linh. Nhiều khi họ cần bỏ ngoài tai những gì người khác nghĩ họ nên làm, để họ không bị chia trí khỏi mục đích và con đường tâm linh. Nhiều người trong các con đoạn tuyệt cuộc đời mình để đi sống trong một cộng đồng tâm linh, và một lần nữa con cần hành động như vậy vì con cần tập trung vào sự tăng trưởng của chính mình. Khi con tới gần và đi quá tầng 96, thì con có thể xoay chuyển ý định của con, và câu châm ngôn là: “Không phải vì tôi. Không phải vì tôi chút nào.”

Cách duy nhất để con thành công trong việc buông bỏ ngã tâm linh mà con đã xây dựng từ tầng 48 đến tầng 96 là con xoay chuyển sang một trạng thái tâm trong đó con phụng sự một cái gì cao hơn chính mình. Do đó, mọi chuyện không phải vì con, vì những gì con muốn hoàn thành như một con người tách biệt và dựa trên ý định của tự ngã. Không phải vì con muốn được gì đó cho mình từ con đường tâm linh. Không phải vì con muốn được người khác công nhận, được một khả năng nào đó, được một trạng thái tâm thức cao hơn cho con khả năng hay viễn quan đặc biệt. Mà là con phụng sự một cái gì khác. Có thể là người khác. Có thể là các chân sư thăng thiên. Có thể là xã hội. Con sẽ tới điểm con không thể tiến xa hơn nữa nếu con không xoay chuyển ý định và nhận ra là con không đi trên con đường tâm linh để cho mình, để hoàn thành một điều gì cho mình như một sinh thể tách biệt. Con đi trên con đường tâm linh để phụng sự một chính nghĩa cao cả hơn.

Làm sao con chuyển tiếp? À, việc chuyển tiếp sẽ dễ hơn nếu con có thể tìm ra là con thương yêu một chính nghĩa nào đó hơn là tuyên dương chính mình, tuyên dương tự ngã của mình. Bởi vì khi con thương yêu một cái gì nhiều hơn những mục đích của tự ngã, thì con có thể gia tốc mình ra khỏi tự ngã. Con có thể vứt bỏ các xích xiềng đã khiến cái Ta Biết nhìn con đường tâm linh qua phin lọc của các ngã tiềm thức lúc nào cũng muốn một cái gì: “Tôi sẽ được gì khi đi trên con đường tâm linh? Tôi sẽ được gì khi đọc chú? Tôi sẽ được gì khi đọc các bài thỉnh? Tôi sẽ được gì khi tham gia vào một cộng đồng tâm linh hay một tổ chức tâm linh? Tôi sẽ được gì?”

Con có thể cần trải qua một giai đoạn tích cực xem xét chính mình, giám sát tâm mình để nghe ra tiếng nói nội tâm muốn được cái gì. Con tìm cách mang nó ra nhận biết có ý thức để con thấy nó là một ngã và buông bỏ nó. Con sẽ được lợi lạc nếu con chú tâm vào: “Tôi có thể phụng sự bằng cách nào? Chuyện gì quan trọng hơn cho tôi? Các chân sư thăng thiên có quan trọng hơn tôi không?” Tôi ở đây thực sự có nghĩa là tự ngã. Khi con làm vậy thì con có thể tách cái Ta Biết ra khỏi sự đồng hóa với tự ngã đã khiến con chú tâm quá nhiều vào chính mình. Lẽ tất nhiên, để có thể chuyển tiếp, con cũng cần sử dụng giáo lý của các thày về ngã gốc, về chấn thương nhập đời hoàn vũ, vì khi con còn bị chấn thương bởi hoàn cảnh đó thì con không thể buông bỏ tự ngã.  

17.8. Tham dự khóa nhập thất của Serapis

Ta có thể nói ở đây là có hai động lực dựa trên tự ngã, hai loại động lực dựa trên tự ngã. Một là tự ngã muốn nâng nó lên một địa vị tối hậu nào đó trên Trái đất. Hai là tự ngã tìm cách bù đắp chấn thương mà con đã gánh chịu bằng cách nghĩ rằng một phép lạ hay đạo sư nào đó sẽ có thể chữa lành con. Một lần nữa, để con được chữa lành mà không cần nhìn vào chính mình. Cũng có thể có động lực muốn con nghĩ là con có thể tiến bộ mà không cần nhìn vào chấn thương. Một lần nữa, như các thày đã giảng, chuyện này không thể làm được. Chuyện này không thể xảy ra.

Trong các đợt truyền giáo trước, thày đã được mô tả như một người có tinh thần kỷ luật khe khắt. Thày có tu viện nhập thất ở Luxor, gọi là Đền Thăng thiên, và khi con tới đó thì con phải theo một chương trình rất nghiêm khắc và phải theo một con đường rất kỷ luật. Đây là một hình ảnh được trao truyền cho trạng thái tâm thức thấp. Như các thày khác, thày có nhiều trình độ ở khóa nhập thất của thày cho những trình độ tâm thức khác nhau.

Ở các cấp cao, thày rất chú tâm làm việc riêng với từng đệ tử, để con có thể thấy điều gì trong tâm lý đang kiềm giữ con lại. Thày làm việc với con để giúp con giải quyết tâm lý, giống như tất cả các Thượng sư khác. Như một sắc thái của Tia thứ Tư, thày cũng có Ngọn lửa Gia tốc. Quả thực là con sẽ tới một điểm trên con đường tâm linh khi con không thể dùng suy nghĩ để lên tầng kế tiếp, con không thể dùng uy lực để lên tầng kế tiếp, con không thể dùng ý chí để lên tầng kế tiếp, con không thể dùng tình thương để lên tầng kế tiếp. Con phải gia tốc. Con có thể nói là gia tốc nghe giống như uy lực nhưng nó quả thực vượt quá uy lực. Nó là một ngọn lửa khác. Nó không tốt hơn hay quan trọng hơn uy lực, nhưng nó là một ngọn lửa khác. Ở các tầng cao của khóa nhập thất của thày, thày giúp để tử nào sẵn lòng hòa điệu với Ngọn lửa Gia tốc.

Lẽ tất nhiên, con không cần biết một cách có ý thức là con đang tham dự khóa nhập thất của thày, nhưng con có thể cố gắng một cách có ý thức. Khi thày nói cố gắng, thày muốn nói là con chú tâm vào việc hòa điệu với Ngọn lửa Gia tốc. Bởi vì quả thực con sẽ tới một điểm khi con đã có hiểu biết, con đã phần nào giải quyết tâm lý, con có ý chí, con có nội giác, con có tình thương, nhưng để đi lên tầng kế tiếp con chỉ cần gia tốc. Vấn đề không phải là hiểu điều gì đó. Vấn đề là lấy một quyết định: “Tôi gia tốc ý định của tôi. Tôi gia tốc viễn quan của tôi về con đường tâm linh. Tôi gia tốc ý muốn phụng sự một chính nghĩa cao hơn riêng tôi.” Khi con trụ vững trong Ngọn lửa Gia tốc, thì con có thể lấy quyết định đó một cách có ý thức. Con không lấy quyết định đó bằng tâm vỏ ngoài, nhưng đó là một quyết định gia tốc.

Đây là một niềm vui và một đặc ân của thày khi thày giúp đệ tử vượt qua lằn ranh cơ yếu khi họ biết vấn đề không phải là hiểu biết, mà vấn đề chỉ là lấy quyết định gia tốc. Không có lý do nào, không có lý do vỏ ngoài nào, con không cần giải quyết gì cả hay thấu hiểu gì cả. Con chỉ gia tốc. Thày rất vui mừng khi đệ tử nhận ra điều này. Bỗng nhiên, mắt họ sáng lên, và họ nhận ra: “Ồ, tôi không phải thấu hiểu tất cả các chuyện này, tôi có thể chỉ gia tốc quá chúng.” Sau đó, họ hòa điệu với ngọn lửa, và họ gia tốc.

Đây chủ yếu là chuyện xảy ra khi con thăng thiên. Đây là gia tốc tối hậu trên trái đất. Con có thể nói là ở mỗi tầng trên con đường tâm linh đều có một sự gia tốc. Nhưng có một điểm chung quanh tầng 96 khi con chỉ giản dị gia tốc, gia tốc quá sự chú tâm vào tâm vỏ ngoài và điều nó muốn gặt hái trên con đường tâm linh. Vấn đề không phải là đạt được điều gì. Vấn đề không phải là đạt được một trình độ tối hậu nào đó. Vấn đề là gia tốc quá tầng hiện thời của con.

Đây là niềm vui lớn của thày, và đây cũng là điều thày cống hiến các con, là Ngọn lửa Gia tốc, khi con cảm thấy sẵn sàng. Vì thày luôn luôn sẵn sàng đợi con. Tới đây thì thày cảm thấy niềm vui lớn khi thày niêm các con trong Ngọn lửa Gia tốc. TA LÀ Serapis Bey.

15 | Con có thể sở hữu bất cứ gì trên thế gian này không?

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Paul người Venice qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Paul người Venice. 2000 năm trước đây, Giê-su đã nói gì về tình thương? Thày nói: “Không có yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà bỏ sự sống mình.” À lẽ dĩ nhiên thày nói điều nay 2000 năm trước đây trong một xã hội hoàn toàn khác nơi dễ mất mạng sống so với nhiều quốc gia thời này, dù rằng không phải là tất cả.

Vì các thày chủ trương tiết lộ tuần tự, vậy các thày có thể nói gì ngày nay? À, các thày có thể nói: “Không có yêu thương nào hớn hơn là vì bạn hữu mà bỏ tự ngã mình.” Con sẽ tới một điểm trên con đường tâm linh khi con cần lấy một quyết định và con có thể nói: “Phải chăng có mâu thuẫn khi nói cần lấy một quyết định về yêu thương? Vì tình thương có phải là một quyết định không? Khi chúng ta yêu ai đó, đấy là một quyết định hay chuyện đó tự nhiên xảy ra?” Con thấy đấy, ở các tầng tâm thức thấp, dường như mọi chuyện tự nhiên xảy ra. Khi con phát triển tâm thức cao hơn, con nhận ra là trong lý duyên khởi không có gì tự nhiên xảy ra. Khi con có nhận biết nhiều hơn về con đường tâm linh thì con nhận ra con phải lấy một số chọn lựa.

15.1. Lấy một quyết định về tình thương

Ví dụ, như Lanto vừa giải thích và như các thày, lẽ tất nhiên, đã giải thích trước kia, giữa tầng tâm thức 48 và 96, con vươn lên khỏi lực hút của tâm thức tập thể. Điều này không tự nhiên xảy ra. Nếu con không nỗ lực để vươn lên trên thì con sẽ bị cuốn hút theo dòng chảy của tâm thức tập thể. Điều này luôn luôn xảy ra, nhưng khi con đi trên con đường tâm linh, con phải lấy một số quyết định và sẽ có một điểm trên con đường tâm linh khi con phải lấy một quyết định ý thức về tình thương. Con yêu cái gì nhiều hơn?

Con yêu tự ngã và những trò chơi kiểm soát của nó nhiều hơn Ki-tô, hay con yêu Ki-tô nhiều hơn tự ngã? Con không thể yêu cả hai. Chính thực, khi con quán chiếu điều này, con sẽ nhận ra là con không yêu tự ngã. Con không thể yêu tự ngã và tự ngã không thể yêu. Câu này có vẻ mâu thuẫn vì hầu hết con người sẽ nói họ yêu một người nào đó hay một chính nghĩa nào đó, hay một ý tưởng nào đó, hay một vị thày tâm linh nào đó. Cái mà tự ngã gọi là tình thương chỉ là ngụy trang cho một trò chơi kiểm soát.

Tự ngã tìm cách được cái gì đó qua tình thương. Khi tự ngã nói “Tôi yêu anh/em” với một người, nó cảm thấy nó đã tuyên bố có quyền trên người đó. Nó đã tuyên bố quyền sở hữu người đó và người đó phải sống và cư xử theo mong đợi của tự ngã, vì khi tự ngã nói “Tôi yêu em/anh” thì có nghĩa là người kia thuộc về tôi. Đây là điều mà tự ngã muốn làm với mọi thứ. Nó muốn sở hữu. Nó muốn kiểm soát.

Tình thương, tình thương Ki-tô có muốn sở hữu và kiểm soát không? Tại sao chứ? Ki-tô là gì? Nó là yếu tố hợp nhất. Không có Ki-tô, chẳng gì được làm nên mà không từ nó mà ra. Ki-tô ở trong mọi sự. Làm sao nó có thể muốn bất cứ gì khi nó là tất cả? Chỉ có tự ngã mới có một cảm giác thiếu thốn có tính cách sống chết mà nó không bao giờ khắc phục được. Nó sẽ tìm cách dùng bất cứ đặc tính Thượng đế nào để bù đắp cho cảm giác thiếu thốn kể cả, như thày đã nói, dùng tình thương như một cách để tuyên bố quyền sở hữu một người khác. 

15.2. Bỏ  không tìm cách sở hữu người khác qua tình thương

Con hãy nhìn vào tình thương nhân thế và hãy ngẫm xem có bao nhiêu người thoát được cảm nhận họ phần nào sở hữu người mà họ tuyên bố thương yêu. Lúc ấy, con sẽ thấy thách đố mà con phải đối diện khi con leo lên cao hơn trên con đường tâm linh, trên con đường quả vị Ki-tô. Dần dần con phơi bày những ngã tách biệt dựa trên tình thương được định nghĩa như sở hữu, thứ tình thương giả, tình thương dựa trên sợ hãi, dựa trên cảm nhận thiếu thốn. Khi con nhận ra chúng và buông bỏ chúng thì chuyện gì xảy ra? Chuyện xảy ra là tình thương Ki-tô bắt đầu rọi sáng xuyên qua đám sương mù nơi bốn thể phàm thấp của con và lúc ấy con nhận ra tự ngã quả thật không yêu bất cứ gì và bất cứ ai. Con nhận ra khi con tuyên bố quyền sở hữu bất cứ gì trên thế gian vật chất, vật mà con nghĩ con sở hữu giờ đây sở hữu con.

Đây là một cách diễn giải ý tưởng bán linh hồn của con cho quỷ của người xưa, khi trên cơ bản con nói: “Tôi muốn sở hữu cái gì đó trên thế gian này. Tôi muốn trải nghiệm cảm giác khi tôi, như một sinh thể tách biệt, có thể sở hữu điều gì đó trên thế gian này.” Giờ đây, bán linh hồn mình cho quỷ nghe có vẻ lâm ly như khi con nói: “Quỷ ơi, nếu ngươi cho ta cái này trên thế gian mà ta muốn, ngươi có thể lấy linh hồn ta mãi mãi về sau.”

Lẽ tất nhiên, chuyện không xảy ra như thế. Trước tiên, có thật sự có một ác quỷ như được mô tả trong nhiều truyện thần thoại? Lẽ tất nhiên có những sa nhân nhưng họ không có quyền lực cho con được sở hữu điều gì và họ không có quyền lực lấy linh hồn con. Chuyện gì thật sự xảy ra khi con thỏa thuận như thế với ác quỷ? Tất cả đều nằm trong tâm lý của chính con vì con hãy nghĩ con đang nói gí. Con muốn trải nghiệm cảm giác sở hữu điều gì đó trong thế giới vật chất. Giờ đây, con có thể nào thật sự sở hữu bất cứ gì trên thế giới vật chất này chăng? À, con có thể sở hữu trong những xã hội có một mức độ luật trị và trật tự nào đó và họ sẽ nói: “ Đúng, bạn mua mảnh tài sản này và bạn được sở hữu nó. Đúng, bạn cưới người đó và bạn có một số quyền do xã hội hay tôn giáo quy định.”

Con có thể nào thật sự sở hữu bất cứ gì trên thế gian này không, nơi mà mọi chuyện có thể xảy ra bất cứ giây phút nào? Con có thể có một ngôi biệt thự đồ sộ nhưng nếu động đất phá nó sập trong vài giây thì sao? Tại sao con không thể như một sinh thể tách biệt thật sự sở hữu bất kỳ một vật tách biệt nào? Ấy đó là vì lý duyên khởi. Nếu không thật sự có vật nào tách biệt thì làm sao con có thể hoàn toàn sở hữu vật gì?

Điều thày nói là: Con không thật sự sở hữu bất cứ gì nhưng con có trải nghiệm sở hữu vật gì đó. Trải nghiệm xảy ra ở đâu? Trong tâm con. Tại sao vật mà con nghĩ con sở hữu lại sở hữu con? Bởi vì ngày nào con còn muốn có trải nghiệm đó, ngày nào con còn muốn trải nghiệm sở hữu một vật gì đó thì vật đó chiếm cứ tâm con. Vật đó quy định con trải nghiệm cuộc sống ra sao. Con thấy chăng? Tất cả là về trải nghiệm của con.

15.3. Con yêu gì hơn: Ki-tô hay thế gian?

Quyết định mà con phải lấy là gì, chắc chắn khi con gần tới hay đạt tầng tâm thức 96, nhưng con cũng có thể lấy trước đó? Đó là: “Tôi yêu cái gì hơn? Tôi yêu nhiều hơn trải nghiệm sở hữu một cái gì trên Trái đất hay tôi yêu nhiều hơn trải nghiệm xuôi chảy theo tâm Ki-tô, xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống? Tôi yêu cái gì hơn? Tôi yêu tự ngã và nhu cầu kiểm soát và sở hữu của nó hơn, hay tôi yêu Ki-tô hơn và sự tuôn chảy tự nhiên từ tình cảnh này sang tình cảnh kia mà không kiểm soát, không tiên đoán trước được?

Lanto đưa ra hình ảnh lội qua sông, tìm cách chống trả dòng nước, tìm cách giữ vững vị trí mình trong dòng sông vì con nghĩ mục tiêu là qua sông. Lanto nói về quy hàng dòng chảy nhưng làm sao con thật sự quy hàng dòng chảy? Con phải từ bỏ ham muốn sở hữu của tự ngã nhưng làm sao con từ bỏ được ham muốn này? Chỉ khi nào con yêu cái gì đó hơn trải nghiệm sở hữu.

Con thấy đấy, tâm vỏ ngoài của đại đa số con người trên Trái đất phóng chiếu hình ảnh là có những điều kiện vật lý thực mà con phải đối diện ở đây trên Trái đất và các điều kiện vật lý này quy định trạng thái tâm của con, trải nghiệm cuộc sống của con. Ở các tầng tâm thức thấp, như thày đã nói, quả đúng là con trôi theo dòng tâm thức đại chúng. Các điều kiện bên ngoài, các điều kiện vật lý nhưng cũng là các điều kiện ở các tầng tình cảm, lý trí và bản sắc của tâm thức đại chúng, chúng quy định trải nghiệm sống của con khi con ở các tầng tâm thức thấp. Bản chất của con đường tâm linh là nâng cao tâm thức của con, nâng cao trải nghiệm sống của con, lên trên trải nghiệm sống của đa số. Con sẽ tới điểm nhận ra là mục đích không phải là thay đổi các điều kiện bên ngoài mà là thay đổi trải nghiệm của con về các điều kiện bên ngoài.

15.4. Có một trải nghiệm không thăng thiên hay thăng thiên

Một lần nữa, như các thày đã nói nhiều lần, tâm Ki-tô không có mục đích biểu hiện điều kiện vật lý đặc thù trên Trái đất, nó chỉ muốn nâng cao trải nghiệm sống của con. Điều gì quy định con vẫn còn hiện thân trên một hành tinh phi tự nhiên như Trái đất hay con thăng thiên? Hiện thân trên trái đất nghĩa là gì? Đó là con có một trải nghiệm sống đặc thù. Thăng thiên nghĩa là gì? Đó là con có một trải nghiệm sống khác. Con có thể nghĩ là, như một chân sư thăng thiên, thày khác con một cách cơ bản nào đó. Trên thực tế, thày chỉ có một trải nghiệm sống khác con. Thày là một sinh thể có tự nhận biết. Thày có trải nghiệm sống trên cõi thăng thiên. Trước kia thày hiện thân trên Trái đất. Thày lúc đó có trải nghiệm sống như con. Làm sao thày chuyển từ trải nghiệm này sang trải nghiệm kia ? Bằng cách nâng cao trải nghiệm sống của thày, không phải bằng cách thay đổi điều kiện bên ngoài – bằng cách nâng cao trải nghiệm sống của thày.Giờ đây, nếu con nhìn ngược về những đợt truyền giáo chân sư thăng thiên trước, con sẽ thấy ngay cả các thày đã phải ở thời điểm đó đưa ra những hình ảnh khác bây giờ. Con có thể quay trở về phong trào TA LÀ, thời đó có khái niệm tại tu viện nhập thất của Saint Germain có một cái ghế đặc biệt gọi là Máy Gia tốc Nguyên tử và con có thể ngồi trên ghế này và nó sẽ rung lên và gia tốc các nguyên tử trong bốn thể phàm của con. Đây là một khái niệm được trao truyền thời đó vì các thày xác định con người chỉ có thể hiểu được đến đó dựa trên trình độ của tâm thức tập thể. Có một phương tiện gần như vật lý để gia tốc bốn thể phàm của con để chúng rung động ở mức độ của cõi thăng thiên.

Các thày đã trao truyền các con những gì trong đợt truyền giáo này? Đó là một mức hiểu tuần tự cao hơn. Vấn đề có phải chăng là gia tốc các nguyên tử của thân vật lý để chúng bỗng nhiên rung động ở tầng mức của cõi thăng thiên? Không đâu vì chuyện này không bao giờ có thể làm được. Thân vật lý sẽ bị nổ tung nếu các nguyên tử bị gia tốc quá một mức nào. Đây cũng giống chuyện một số tín đồ Cơ đốc tin họ sẽ có thân vật lý trên thiên đàng giống thân vật lý họ có bây giờ.

Vấn đề có phải chăng là nâng cao cảm thể, trí thể và bản sắc thể lên một tầng cao hơn? Không đâu, như các thày đã giải thích, bốn thể phàm thấp này là cỗ xe giúp con tương tác với thế giới vật chất. Trên cõi thăng thiên con không cần chúng. Các thày đã trao cho con giáo lý về cái Ta Biết. Thăng thiên có phải là tiến trình gia tốc rung động của cái Ta Biết không? Nó là nhận biết thuần khiết. Nó là nối dài của Hiện diện TA LÀ. Tại sao nó cần được gia tốc? Nó chưa hề bị ảnh hưởng bởi bất cứ gì xảy ra trên Trái đất. Ảnh hưởng xảy ra nơi bốn thể phàm.

15.5. Gia tốc trải nghiệm sống của con

Con gia tốc cái gì khi con thăng thiên? Đó là trải nghiệm sống của con. Làm sao con gia tốc trải nghiệm sống của mình? Ấy, một phần (không phải là tất cả bởi vì con cần tất cả bảy tia để có thể thăng thiên), một phần lớn của việc gia tốc trải nghiệm sống là tới được nhận biết có ý thức: Tôi yêu cái gì hơn? Tôi yêu tự ngã hơn hay tôi yêu Ki-tô hơn? Tôi yêu trải nghiệm mình là một sinh thể tách biệt hơn hay tôi yêu trải nghiệm mình là một phần của tổng thể hơn?

areTự ngã cho con trải nghiệm là một sinh thể tách biệt sống trong một thế giới gồm những ngã tách biệt khác và vật thể tách biệt. Ki-tô cho con trải nghiệm là một sinh thể kết nối, sống trong một thế giới trong đó con là một phần của một tổng thể, một phần của các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau, một phần của cõi thăng thiên, của thứ bậc các chân sư thăng thiên vươn lên đến tận đấng Sáng tạo. Con không thể có cả hai trải nghiệm này cùng một lúc, nhưng con hai trải nghiệm này cùng một lúc khi con đang tiến bước trên con đường tâm linh. Khi con còn hiện thân vật lý, con trải nghiệm một chút mỗi thứ cùng một lúc.

Tại sao thày nói con không thể có cả hai trải nghiệm cùng một lúc? À con có thể có cả hai khi con thiếu nhận biết nhưng khi con càng ngày càng nhận biết nhiều hơn, thì con nhận ra là mình đang bị lôi kéo về nhiều hướng khác nhau. Đó là lý do tại sao con có thể lấy chọn lựa có ý thức buông bỏ tự ngã, vì con thấy con yêu hợp nhất hơn là tách biệt.

15.6. Tình yêu và đời sống hàng ngày của con

Con có thể nói: “Dạ thày Paul người Venice nhưng thày đang vẽ tranh chấm phá, nó có vẻ rất xuất trần nhưng nó liên quan thế nào tới đời sống hàng ngày của con?” À, nó liên quan tới mọi thứ hay chẳng liên quan gì cả, tùy con nhìn thế nào. Con lấy những gì thày Lanto nói: Con thức dậy buổi sáng, con đối mặt một hoàn cảnh nào đó, con có thể tương tác với người trong gia đình, sau đó con đi làm, con tương tác với người khác. Trong mỗi tình huống con có cơ hội chọn con yêu gì nhiều hơn, con yêu những khuôn nếp phản ứng dựa trên tự ngã hay con xuôi chảy theo tâm Ki-tô? Để xuôi chảy theo tâm Ki-tô, con phải từ bỏ mong muốn kiểm soát. “Chẳng có sự yêu thương nào hớn hơn là bỏ tự ngã mình vì bạn hữu, vì kẻ thù hay vì bất cứ ai con gặp.”

Con thấy đấy, khi con nhìn vào một hoàn cảnh bên ngoài khi con đối xử với người khác, con rất dễ bị cuốn hút vào ý tưởng cho rằng có một kết quả nào đó cần biểu hiện: Con phải chứng minh mình đúng, con phải thuyết phục người kia. Khi con quyết định con yêu Ki-tô hơn tự ngã, mỗi hoàn cảnh trở nên khác hẳn. Mỗi hoàn cảnh trở thành một cơ hội để con nhìn vào các khuôn nếp phản ứng của mình, nhìn thấy chúng đến từ tự ngã và sau đó con quyết định con yêu Ki-tô hơn tự ngã. Con sẵn lòng buông bỏ tự ngã và cách tự ngã nhìn hoàn cảnh để con có thể hòa điệu với cách Ki-tô nhìn hoàn cảnh đó. Do đó con có thể đáp ứng hoàn cảnh ở tầng mức của Ki-tô thay vì tầng mức của tự ngã.

Mỗi hoàn cảnh con đối diện trong cuộc sống cho con cơ hội này. Những người đạt tiến bộ trên đường tu là những người nhận ra điều này, dùng cơ hội này và tiếp tục dùng cơ hội ngày nào còn hiện thân. Giờ đây, đôi khi các thày thấy những đệ tử tìm thấy giáo lý, họ sẵn lòng áp dụng giáo lý, họ thật sự tiến bộ về mặt tâm lý và giải quyết tâm lý của họ. Rồi họ tới điểm cảm thấy: “Ồ bây giờ tôi đã đạt tới một mức cao hơn.” Họ nói đúng, họ đạt được mức cao hơn so với khi họ tìm thấy con đường tu. Họ đã áp dụng giáo lý, họ đã đạt một mức cao nhơn nhiều người chung quanh họ. Bây giờ họ quyết định: “À, bây giờ tôi không cần nhìn vào tâm lý mình nữa.” Có thể họ còn quyết định: “Ồ, tôi là Ki-tô, tôi là Ki-tô Hằng sống, tôi đang biểu hiện quả vị Ki-tô.”

15.7. Khi tự ngã nghĩ nó là Ki-tô

Quyết định mà thày nói tới trước đây là gì? Con có yêu Ki-tô hơn sự sở hữu của tự ngã không? Ki-tô có cần sở hữu không? Ki-tô có bao giờ cần, có bao giờ đạt, một tầng mức tối hậu không? Ki-tô khi hiện thân có thấy mình đạt tới một tầng mức tối hậu nơi không cần nhìn vào những khuôn nếp phản ứng ẩn nấp nữa chăng? Không đâu. Khi con hòa điệu với tâm Ki-tô, con xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống. Con tiếp tục xuôi chảy cho tới ngày bỗng nhiên con thấy mình ở cõi thăng thiên. Ngay lúc con ngưng xuôi chảy, ngay lúc con nghĩ con đạt được một trạng thái tối hậu, thì con không còn yêu Ki-tô hơn tự ngã vì chính tự ngã khiến con nghĩ con là Ki-tô. Con hãy suy ngẫm điều này.

Tự ngã sẽ không bỏ cuộc khi con tìm thấy con đường tu. Nó luôn luôn ở phía sau và nó luôn luôn tìm những cách vi tế để khiến con nghĩ: “Tôi đã đi trên con đường tu lâu lắm rồi, tôi đã áp dụng tất cả những giáo lý này. Tôi đã quỳ lạy trên sàn mười ngàn lần như người Tây Tạng nói. Tôi đã đọc chú rất nhiều giờ cho nên tôi đã đạt một tầng cấp tối hậu nào đó. Tôi đã thức tỉnh. Tôi đã sáng ngộ. Tôi là Ki-tô Hằng sống.”

Cho nên, tự ngã bước ra và nói: “Bây giờ, bạn có thể ngừng nhìn vào tâm lý mình. Bạn đã đạt một tầng mức tối hậu. Bạn không còn tâm lý chưa giải quyết.” Con thấy đấy, Ki-tô trả lời thế nào khi tự ngã bước ra, trườn mình như con rắn với lô-gíc vi tế của nó? Câu trả lời thích đáng của Ki-tô là: “Ngươi đứng ra sau lưng ta, Satan.” Tại sao thế? Vì con yêu Ki-tô hơn và do đó, con muốn tiếp tục xuôi chảy với Ki-tô thay vì ngưng lại ở một điểm trên Trái đất.

15.8. Mong muốn phát triển tâm linh tối hậu

Giờ đây, chuyện có thể xảy ra là có một số đệ tử sau khi tìm thấy con đường tâm linh (và ngay cả sau khi đã đi trên đường tu một thời gian), họ nhận ra là họ vẫn còn mong muốn có một trải nghiệm đặc thù, như trải nghiệm đạt được một mức tâm linh tối hậu, một trình độ phát triển tâm linh tối hậu trên Trái đất. Thày không muốn nói với con là mong muốn này hoàn toàn sai. Lẽ tất nhiên, nó sẽ ngăn chặn con xuôi chảy về hướng quả vị Ki-tô, nhưng quyền tự quyết là có ý chí tự do và con có thể có trên Trái đất đủ loại trải nghiệm.

Tỷ dụ con sẽ thấy có một số người trong thế gian đã theo con đường tâm linh một thời gian, đã đạt một mức nào đó, và họ tôn mình như một vị đạo sư và tuyên bố họ đã đạt một trạng thái tối hậu nào đó, bất kỳ họ mô tả trạng thái này như thế nào: tôi đã sáng ngộ. Tôi đã thức tỉnh. Tôi đã đạt nhận biết bất nhị. Tôi đã trải nghiệm cái chết của tự ngã. Tôi không có ngã. Tôi là nhận biết thuần khiết. Tôi là Ki-tô Hằng sống. Tôi là Phật. Tôi là hiện thân của thần linh này hay thần linh kia. Có đủ chuyện mà con người có thể dùng để tuyên bố đã đạt một giai đoạn tâm thức tối hậu, một giai đoạn phát triển tâm linh tối hậu, khi vẫn còn ở trong thân vật lý.

Quyền tự quyết cho phép họ có trải nghiệm này. Quyền tự quyết cho phép con người có trải nghiệm: “Ồ, tôi đang đi theo vị đạo sư toàn hảo này, vị đạo sư cao nhất từng tới Trái đất.” Tất cả đều là một trải nghiệm và đó là một trải nghiệm con có khi ở ngoài Ki-tô. Khi con ở trong hợp nhất, con không thể trải nghiệm là con, như một sinh thể tách biệt, đã đạt được một tầng tối hậu trên Trái đất bởi vì khi con nối kết với tâm Ki-tô, con nhận ra, con trải nghiệm, là tâm Ki-tô là một dòng chảy liên tục.

Không thể nào có trải nghiệm tối hậu trên Trái đất. Làm sao có được một trải nghiệm tối hậu trong một bầu cõi chưa thăng thiên? Thậm chí, làm sao có được một trải nghiệm tối hậu trong bầu cõi thăng thiên cho tới khi con đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo? Khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo, con sẽ thấy là có thật nhiều hơn nữa để trải nghiệm trong cái Tất cả. Có bao giờ có một trải nghiệm tối hậu chăng?

Tâm đường thẳng và tự ngã rất muốn nói: “Đúng, phải có chứ. Phải có một tầng tâm thức cao nhất, đó là Thượng đế.” Sự thực không như vậy nhưng con chỉ có thể biết điều này, trải nghiệm điều này bằng tâm Ki-tô, không bằng tâm tách biệt, tâm đường thẳng, muốn nói phải có một khởi đầu tối hậu, phải có một mục tiêu tối hậu. Nhưng không có như vậy đâu.

Điều cơ bản thày đang nói là: Có thể nào con người có thể tiến cao hơn trên con đường tâm linh, đạt tiến bộ thật sự bằng cách xuôi chảy theo dòng sông của tâm Ki-tô, hay gọi bằng tên gì khác cũng được. Họ xuôi chảy và họ tới điểm đạt được một tầng nào đó và họ muốn có trải nghiệm đứng yên tại tầng đó và cảm thấy đây là mức tối hậu.

Tâm Ki-tô lúc ấy sẽ phải nói: “À, hiển nhiên bạn không cần ta nữa nhưng ta luôn luôn ở bên bạn cho nên khi bạn chán trải nghiệm này thì ta vẫn ở đây để giúp bạn trở về dòng chảy.” Con có thể tránh không rơi vào bẫy này, ngõ cụt này, bằng cách luôn luôn quyết định con yêu Ki-tô hơn mong muốn sở hữu bất kỳ trải nghiệm nào. Con thấy tự ngã muốn làm gì? Nó muốn đạt một trải nghiệm nào đó trên Trái đất và sau đó nó muốn duy trì trải nghiệm này dài lâu. Ki-tô không muốn đạt bất kỳ trải nghiệm nào và không muốn duy trì bất kỳ trải nghiệm nào. Ki-tô muốn xuôi chảy và tình thương Ki-tô muốn xuôi chảy. Nó không muốn sở hữu.

15.9. Ki-tô luôn luôn muốn hơn nữa cho con

Bây giờ, con có thể nói: “Có phải là thày đang mâu thuẫn với chính thày chăng? Thày nói tâm Ki-tô là tất cả và có tất cả, tuy vậy tâm Ki-tô thúc đẩy chúng con luôn luôn tuôn chảy và với lên hơn nữa?” Con thấy đấy, không có mâu thuẫn khi con hiểu tâm Ki-tô là gì. Nó là yếu tố hợp nhất và đối với con là một sinh thể cá nhân, con là một nối dài của Bản thể đấng Sáng tạo. Ki-tô thúc đẩy con tuôn chảy và thăng vượt chính mình cho tới khi con đạt tâm thức đấng Sáng tạo, sẽ khiến con hợp nhất với nguồn cội của mình, trở thành một với đấng Sáng tạo của con.

Đấy là chức năng của tâm Ki-tô. Dù tâm Ki-tô tự nó không có nhu cầu tăng triển, con như là một sinh thể cá nhân có mong muốn, sự thôi thúc, sự cuốn hút, có tính chất hiện sinh, bẩm sinh, không tránh được, muốn phát triển và trở về nguồn cội. Con có thể chối bỏ mong muốn đó và những người nghĩ họ đã đạt một mức tâm thức tối hậu nào đó trên Trái đất đang chối bỏ mong muốn đó và nói: “Tôi không cần lên cao hơn nữa.” Như thế là họ chối bỏ động lực hiện sinh của bản thể của họ và đấy không phải là tình thương. Tình thương là luôn luôn muốn hơn nữa cho tới khi con trở về nguồn cội và sau đó, lẽ dĩ nhiên, con có thể phát triển tiếp từ mức đó. Động lực tức thời mà tâm Ki-tô đưa ra cho con là động lực trở về hợp nhất với nguồn cội của con, đấng Sáng tạo.

THÀY LÀ một chân sư thăng thiên. Thày trở thành một chân sư thăng thiên vì thày trụ vững vào động lực này. Thày không chối bỏ nó. Thày sẵn lòng xuôi chảy với nó. Dù thày là một chân sư thăng thiên, thày không thấy mình đã đạt một mức tối hậu. Làm sao thày có thể thấy như thế khi thày thường xuyên tương tác với các chân sư thăng thiên rõ ràng có tầng tâm thức cao hơn thày rất nhiều trong cương vị một Thượng sư làm việc với Trái đất?

Khi thày tương tác với Phật, thày trải nghiệm là Gautama có tầng tâm thức cao hơn thày, các đại thiên thần, các Elohim có tầng tâm thức cao hơn thày, các sinh thể hoàn vũ như Đại Chỉ đạo Thiêng liêng, Surya, Shiva có tầng tâm thức cao hơn thày. Thảng hoặc, thày lại còn trải nghiệm Alpha và Omega có tầng tâm thức cao hơn nữa. Làm sao thày có thể không trụ vững vào động lực vươn lên cao hơn, mãi mãi vươn lên cao hơn? Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là bỏ trải nghiệm sống hiện tại của mình để tuôn chảy theo một trải nghiệm sống cao hơn.

Với lời này, thật là một đặc ân và niềm vui lớn cho thày được tương tác với các con và thày cảm ơn các con đã cho thày cơ hội. Thày niêm các con trong tình thương mà thày đại diện trên Trái đất, tình thương Ki-tô luôn tuôn chảy, luôn phát triển, luôn thăng vượt chính nó. Paul người Venice, TA LÀ.

13 | Quả vị Ki-tô là quy hàng lý duyên khởi

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Lanto qua trung gian Kim Michaels, ngày 7 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Đức Lanto. Mục đích của thày trong bài này là cho các con tầm nhìn của Tia thứ Hai về quả vị Ki-tô. Tia thứ Hai thường được liên kết với minh triết, và có người nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô thì con sẽ biết hết mọi chuyện, con sẽ có giải đáp cho mọi câu hỏi. Như các thày đã giảng, đây không phải là cái nhìn đúng đắn. Có những câu hỏi có thể được đặt ra không chỉ do tâm nhị nguyên mà ngay cả tâm đường thẳng mà Ki-tô cĩng không thể giải đáp, vì chúng không có giải đáp.

Con thấy chăng, tâm đường thẳng muốn tạo một thế giới quan cho rằng thế giới theo đường thẳng. Con thấy quan niệm này trong các tôn giáo. Thượng đế tạo thế giới trong 7 ngày, à nếu nói chính xác là 6 ngày, vì sau đó không biết vì lý do gì vị Thượng đế Toàn năng này lại cần nghỉ ngơi vào ngày thừ bảy. Con thấy quan niệm thế giới đường thẳng trong khoa học. Mọi chuyện khởi đầu từ Vụ nổ lớn. Trước Vụ nổ lớn thì có gì? Ấy, chúng ta hãy không nói đến điều này. Khoa học coi mọi chuyện tiến triển theo đường thẳng và con có thể tách ra một kết quả đặc thù đến từ một nguyên do đặc thù, và trước đó một nguyên do khác, và trước đó một nguyên do khác. Con thấy là tâm đường thẳng muốn tách ra một chuỗi gồm một nguyên do tạo nên một kết quả, kết quả này trở nên một nguyên do khác và cứ thế tiếp diễn.  

13.1. Khi tâm nhị nguyên cộng thêm vào tâm đường thẳng

Đó là cách tâm đường thẳng vận hành. Cộng thêm vào đó ta có tâm nhị nguyên lấy thế giới quan đường thẳng và thêm vào một phán xét giá trị. Giờ đây con có thể tạo thêm một phân chia khác, không chỉ giữa nguyên do và kết quả, một nguyên do trung hòa dẫn đến một kết quả trung hòa, mà là một cái gì có đúng sai. Lúc đó con có thể đi ngược dòng thời gian theo chuỗi nguyên do và kết quả và nói: “Từ rất xa xưa trong quá khứ, tại khu vườn Đia đàng, có nguyên do đã xảy ra mà đáng lẽ không được xảy ra, và do đó mọi sự liên quan đến nhân loại trên trái đất đã đi sai đường từ thuở đó. Do đó ta cần dùng tôn giáo để chỉnh sửa những gì đã sai.” Hay ta cần dùng thuyết cộng sản để chỉnh sửa những gì đã sai. Hay ta cần dùng khoa học để chỉnh sửa những gì đã sai. Hay ta cần dùng thông minh nhân tạo để chỉnh sửa những gì đã sai.

Con thấy đấy, có gì đó đã đi sai, nhưng điều này chỉ có thể được nghĩ ra bởi một tâm cho rằng có nguyên do tách biệt dẫn tới kết quả tách biệt. Đức Phật đã dạy gì 2500 năm về trước? Lý duyên khởi. Trong lý duyên khởi, các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau, con có thể tách ra một nguyên do duy nhất chăng? Không đâu. Cái gì là nguyên do duy nhất trong một vũ trụ nơi có lý duyên khởi? Đó là tổng thể. Toàn thể vũ trụ là nguyên do duy nhất và toàn thể vũ trụ là kết quả duy nhất. Con không thể tách riêng một nguyên do duy nhất hay một kết quả duy nhất, vì tất cả vận hành như một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau.

Con cần một tiến trình dài để nắm bắt điều này, để hấp thụ điều này. Khi con bắt đầu nắm bắt lý duyên khởi thì con thấy là thế giới quan mà hầu hết con người bị kẹt ở trong không phù hợp với thực tại. Con thấy là nhân gian lúc nào cũng đi tìm một giải pháp sẽ giải quyết các vấn đề, sẽ tháo gỡ cái đã đi sai, sẽ chấm dứt khổ đau. Con bắt đầu thấy cuộc tìm cầu giải pháp tối hậu này, giải thích tối hậu này, hiểu biết tối hậu này, minh triết tối hậu này, chính nó đã tạo ra khổ đau, duy trì khổ đau, và nó sẽ không bao giờ có thể chấm dứt khổ đau.

13.2. Tâm không thể điều khiển quả vị Ki-tô

Các thày đã tìm cách giải thích điều gì cho các con từ nhiều năm nay? Động lực đưa đến tăng trưởng tâm linh không phải là tâm đường thẳng, mà là tâm trực giác. Con không thể suy nghĩ để đạt một trạng thái tâm thức cao hơn. Con hòa điệu với một trạng thái tâm thức cao hơn. Con thấy là khi con người lần đầu nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô, thì tâm suy nghĩ, tâm đường thẳng, tâm phân tích của họ bắt đầu làm ngay chuyện mà nó luôn luôn làm. Nó nói: “À, hãy cho tôi giáo lý về quả vị Ki-tô, cho tôi biết các đặc tính của nó, chia nó ra thành phần nhỏ, chia nó ra nhỏ để tới nguyên do tối hậu, để tôi có thể nắm bắt, tôi có thể lấy tâm bao quanh nó để tôi có thể hiểu nó, tôi có thể phân loại, gắn cho nó một nhãn và cất vào kho dữ liệu, và lúc đó tôi sẽ kiểm soát được quả vị Ki-tô.”

Con thấy đấy, con không thể dùng suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô. Con có thể hòa điệu với tâm Ki-tô, nhưng tâm Ki-tô vượt quá tâm suy nghĩ. Có nhiều người nghĩ họ có thể suy nghĩ (và một lần nữa các thày không chê trách ai, điều này không thể tránh được trong những điều kiện của trái đất) để trở thành Ki-tô. Họ thường dùng giáo lý của các thày để quy định các đặc tính của quả vị Ki-tô, và họ nghĩ là nếu họ hội đủ các điều kiện đó bằng tâm vỏ ngoài thì họ sẽ trở thành Ki-tô.

Ki-tô không thể tới bằng suy nghĩ, mà phải là. Vần đề không phải là “suy nghĩ hay không suy nghĩ” mà là “là hay không là”. Lẽ tất nhiên, đây không phải là câu trả lời mà tâm đường thẳng ưa thích, vì là hay không là nghĩa là gì? Hãy chia nó ra thành phần nhỏ cho tôi, cho tôi một cái gì mà tôi có thể nắm bắt. Con thấy chăng, không có gì để hiểu trong là hay không là. Con không thể suy nghĩ để là. Con có thể hoặc ‘là’ hay ‘không là’.

13.3. Tự ngã lúc nào cũng muốn một quy luật

Điều này không có nghĩa là Ki-tô hay không là Ki-tô là một quyết định vĩ đại hay một biến cố vĩ đại, như một số người muốn mô tả – giác ngộ tức khắc. Nó là một tiến trình gồm rất nhiều chọn lựa riêng lẻ, và chọn lựa là trong hoàn cảnh thường ngày chọn với lên cái gì vượt quá tâm vỏ ngoài, tâm suy nghĩ, thậm chí tâm xúc cảm, hay thậm chí tâm bản sắc. Vì khi thày nói tới tâm suy nghĩ, tâm đường thẳng thì nó quả thực bao gồm tất cả các ngã tiềm thức ở các tầng xúc cảm, tư tưởng và bản sắc, vì chúng đều theo đường thẳng, chúng muốn có một quy luật. Tự ngã không muốn sai nên nó nói: “Hãy cho tôi một quy luật mà tôi có thể theo, và như vậy tôi sẽ không bao giờ sai.” Đây không phải là quả vị Ki-tô.   

Con hãy lấy minh triết như một thí dụ. Tự ngã muốn các thày quy định minh triết là gì. Tự ngã rất mong muốn các chân sư thăng thiên cho ra một quyển sách, quyển này có thể dày cộm, và nói: Đây là toàn bộ minh triết mà các con cần biết. Tự ngã sẽ nói: “À, nếu tôi học thuộc lòng quyển sách này, nếu tôi biết tất cả mọi thứ trong đó, thì tôi sẽ không bao giờ sai.” Tự ngã theo định nghĩa lúc nào cũng sai, vì tự ngã không ở trong cái một. Minh triết chỉ tiếp thu từ bên ngoài, có nghĩa là hiểu biết tiếp thu từ bên ngoài, mà con người nghĩ đó là minh triết, đây không phải là quả vị Ki-tô.

Con không thể quy định một giáo trình, một quyển sách và nói: “Nếu con biết hết các điều này thì con sẽ là Ki-tô.” Tại sao không? Con hãy nghĩ đến đời sống thường ngày – hãy chỉ giản dị nghĩ đến đời sống thường ngày. Con hãy tưởng tượng con thức dậy buổi sáng, tương tác với người trong gia đình, rời nhà, gặp gỡ người khác trên xe buýt, xe lửa hay xe điện ngầm, con vào sở làm, con tương tác với người khác. Khi đang ngồi ăn điểm tâm vào buổi sáng, con có thể quy định tất cả những chuyện sẽ xảy ra cho con trong ngày chăng? Con có thể làm như vậy trước khi những chuyện đó xảy ra và như vậy con sẽ biết ngày của con sẽ trải bày giống y như những gì con đã tiên đoán?

Con thấy là có một số khoa học gia sẽ nói: Đúng, trên lý thuyết con có thể làm được. Nếu con có đủ hiểu biết về các điều kiện, thì con sẽ có khả năng tiên đoán tất cả mọi chuyện sẽ xảy ra. Ý kiến này không thiết thực, như một số khoa học gia ngày nay đã bắt đầu nhận ra. Con có thể thấy qua thí dụ đời sống thường ngày của con là không thể tiên đoán mọi hoàn cảnh.

13.4. Lý duyên khởi trong đời sống thường ngày

Con thực sự giáp mặt gì trong đời sống thường ngày? Thày biết là khi các thày nói tới khái niệm lý duyên khởi thì nó có vẻ lý thuyết, cao siêu, có phần mơ hồ, trừu tượng. Con giáp mặt gì trong đời sống thường ngày khi con tương tác với những người con gặp? Con có biết là người đó sẽ nói gì với con chăng? Khi con đi trên đường và có một người khác thì người đó sẽ cười hay lườm con? Chuyện gì chính xác sẽ xảy ra cho con trong ngày? Con giáp mặt gì trong đời sống thường ngày? Lý duyên khởi!

Con thức dậy buổi sáng và ngày của con là một tương tác với người khác và hoàn cảnh mà không ai có thể tiên đoán trước được. Các sự cố đó không có kết quả cố định. Chúng ảnh hưởng con, con ảnh hưởng chúng. Đây chẳng phải là phụ thuộc lẫn nhau sao? Con thấy chăng, con không thể chẻ nhỏ tất cả mọi chuyện có thể xảy ra trong một ngày và tiên đoán và kiểm soát chúng. Do đó, biết hết mọi chuyện trước khi con bắt đầu một ngày sẽ lợi ích gì cho con? Con sẽ vẫn không thể tiên đoán người này sẽ làm gì hay nói gì, người kia sẽ làm gì hay nói gì.  

Minh triết chân chính, minh triết dựa trên Ki-tô, là gì? Đó là con có khả năng đáp ứng lại mọi hoàn cảnh, tùy hoàn cảnh trải bày như thế nào. Một lần nữa, tự ngã sẽ nói: “Quả vị Ki-tô đáng lẽ phải có nghĩa là tôi có thể biết chính xác đâu là cách hành xử đúng trong mọi hoàn cảnh. Hãy cho tôi một quy luật, một quy luật cố định nói: ‘Nếu tôi đối xử với mọi người mà tôi gặp như thế này, thì tôi sẽ đúng, tôi sẽ làm đúng.’” Nhưng con thấy chăng, mọi người đều khác nhau, mọi hoàn cảnh đều khác nhau. Làm sao con có thể đối xử với mọi chuyện cùng một một cách?

13.5. Đáp ứng lại mọi hoàn cảnh một cách tự phát

Minh triết của tâm Ki-tô là gì? Đó là con dùng trực giác để hòa điệu với tâm Ki-tô trong mọi hoàn cảnh, và con sử dụng nó một cách hầu như tự phát. Khi con thực sự hòa điệu với tâm Ki-tô và có động lực sử dụng nó, thì mọi chuyện xảy ra một cách tự phát. Con ứng xử với hoàn cảnh đó bằng cách tốt nhất. Điều này không có nghĩa mọi hoàn cảnh sẽ được giải quyết theo một tiêu chuẩn toàn hảo. Nó chỉ có nghĩa: đây là hoàn cảnh và có một số thông số. Ta có thể nói là trong mọi hoàn cảnh có một số yếu tố tùy thuộc lẫn nhau đang ảnh hưởng hoàn cảnh. Con có thể không biết điều này với tâm vỏ ngoài của con. Đúng thực là trong đa số trường hợp, con sẽ không biết với tâm vỏ ngoài. Chúng ta hãy giả dụ, để giản dị hóa vấn đề, tuy vấn đề hiếm khi giản dị như vậy, là có thể có năm kết quả từ hoàn cảnh con gặp và tương tác với một người trong công việc làm. Có thể có năm kết quả.  

Trong các kết quả đó, có thể có một không thuận lợi: con không truyền đạt được những gì con muốn nói, con không đạt được một kết quả nào đó, thậm chí con có xung đột. Một số kết quả khác tốt hơn, và có thể có một kết quả tốt nhất trong hoàn cảnh đó. Hòa điệu với Ki-tô trong hoàn cảnh đó nghĩa là gì? Điều này có nghĩa là, tuy con không biết với tâm vỏ ngoài, con chọn cách hành xử dẫn tới kết quả cao nhất. Con thấy chăng, kết quả này tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Giờ đây, con có thể, giống như nhiều người, trong đó có nhiều người tâm linh và tôn giáo, bước lui lại và nói: “Ồ, đáng lẽ phải có một kết quả cao nhất, một kết quả lúc nào cũng đúng.” Con thấy chăng, con ở trên một hành tinh phi tự nhiên. Các thày đã nói với các con điều này từ nhiều năm nay. Con có thể kết luận như sau dựa trên giáo lý này: trên một hành tinh phi tự nhiên, không có kết quả cao nhất, không có kết quả lý tưởng, vậy con thấy gì?

Con thấy là tự ngã khao khát bù đắp trạng thái mất kết nối của con. Nó muốn biểu hiện an toàn tối hậu. Ý niệm có một kết quả cao nhất hấp dẫn với nó. Ý niệm này từ đâu tới? Lẽ tất nhiên, từ sa nhân. Với tâm Ki-tô thì không có kết quả cao nhất. Chỉ có một dải gồm kết quả thấp hơn và cao hơn, và Ki-tô luôn luôn tìm cách giúp con người đạt kết quả cao nhất, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau của hoàn cảnh.

Con hãy lấy thí dụ trong công việc làm, con gặp một người mà con chưa từng có dịp tương tác. Nếu con dùng trực giác để hòa điệu với tâm Ki-tô thì cách con hành xử sẽ đưa tới kết quả cao nhất trong hoàn cảnh đó. Nhưng vài ngày hay vài tuần sau con tương tác với người đó nữa thì lúc đó con bắt đầu ở một điểm cao hơn và một kết quả cao hơn là lần tương tác đầu. Nếu lần này con cũng lại hòa điệu với tâm Ki-tô thì con sẽ lại đạt một kết quả cao hơn và con có thể dần dần xây dựng một mối liên hệ càng ngày càng tốt hơn với người đó. Nếu con không hòa điệu với kết quả cao hơn thì mối liên hệ của con có thể sẽ đi ngược lại và con có thể dần dần xây dựng một vòng xoáy đi xuống với người đó.

13.6. Tính chất thực tế thực tiễn của tâm Ki-tô

Một lần nữa, con thấy là tự ngã muốn phóng chiếu là quả vị Ki-tô, minh triết, minh triết của Ki-tô, lúc nào cũng biết kết quả lý tưởng, nhưng tâm Ki-tô thì thực tế. Tâm Ki-tô không tìm kết quả lý tưởng. Nó nhìn một hoàn cảnh và các thông số tùy thuộc lẫn nhau của hoàn cảnh đó và tìm cách nâng hoàn cảnh lên tầng kế tiếp, và sau đó lại từ đó nâng lên thêm nữa. Chính cách hành xử này trở nên Dòng sông sự Sống. Rất nhiều người lần đầu nghe tới quả vị Ki-tô thì tự ngã của họ pha màu khái niệm quả vị Ki-tô và nói: “À, đây là cái sẽ cho tôi minh triết tối hậu, cho tôi cách khiến mọi hoàn cảnh trở nên lý tưởng, giúp tôi lúc nào cũng làm chủ mọi tình hình, giúp tôi lúc nào cũng được điều tôi muốn.” Con thấy chăng, Ki-tô không muốn được điều mà nó muốn. Tại sao? Tại vì Ki-tô không cần gì cả từ thế giới vật chất.

Như các thày đã nói, tâm Ki-tô vượt quá thế giới vật chất. Nó không cần một kết quả đặc thù nào. Tâm Ki-tô không nhìn vào một hoàn cảnh bên ngoài và nói: “Đây là kết quả lý tưởng và nếu năm người kia làm đúng như lời ta chỉ dẫn thì chúng ta sẽ có kết quả vật lý lý tưởng.” Con có thể nói là tâm Ki-tô không quan tâm đến kết quả vật lý. Tâm Ki-tô nhìn vào năm người kia đang ở trong một hoàn cảnh với các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau và nó chỉ muốn nâng tất cả các người đó từ tầng tâm thức hiện tại lên tầng kế tiếp. Ki-tô lúc nào cũng tìm cách nâng con người lên, chứ không phải điều kiện vật lý.

Lẽ tất nhiên, đây không phải là điều mà giới kinh doanh muốn nghe vì họ muốn nói: “À, nếu chúng ta có tâm Ki-tô, thì chúng ta sẽ tạo được lợi nhuận cao nhất cho công ty của chúng ta.” Tâm Ki-tô có quan tâm đến lợi nhuận chăng? Lẽ tất nhiên là không. Nó quan tâm đến những người thuộc công ty, vì đối với tâm Ki-tô, tài sản tối hậu là con người, hay đúng hơn là tâm con người. Ki-tô luôn luôn tìm cách nâng tâm con người lên.

Ngược lại thì tâm phản Ki-tô, sa nhân, họ muốn gì? Họ muốn kiểm soát mọi người. Chắc chắn là có đệ tử khi nghe nói về khái niệm quả vị Ki-tô thì họ nghĩ trở thành Ki-tô có nghĩa là buông bỏ con người mình, ý chí của mình, theo tâm Ki-tô và lúc đó họ trở thành như con rối bị tâm Ki-tô điều khiển. Tâm Ki-tô không muốn nói con phải làm gì. Nó muốn con lấy quyết định cao nhất trong một hoàn cảnh đặc thù sẽ nâng con lên tầng tâm thức kế tiếp.

Ngược lại, sa nhân muốn kiểm soát hoàn cảnh của họ, và họ nghĩ họ chỉ có thể kiểm soát hoàn cảnh của họ bằng cách kiểm soát tất cả mọi người khác. Một nhà độc tài muốn gì? Y muốn kiểm soát tất cả mọi người trong vòng ảnh hưởng của y. Với y, lý tưởng nhất là kiểm soát được tất cả mọi người trên trái đất nếu có thể làm được, nhưng điều này không thể làm được vì trái đất quá lớn và quá phức tạp, và vì có lý duyên khởi.

13.7. Không thể kiểm soát lý duyên khởi

Đây có thể là một chủ đề mà một số các con cần chiêm nghiệm. Làm sao con có thể kiểm soát bất cứ gì khi có lý duyên khởi? Con thấy là sa nhân dùng tâm đường thẳng để kiểm soát tình hình. Họ muốn nói: “Đây là những điều kiện khởi thủy, đây là các định luật điều khiển cách vũ trụ trải bày. Nếu ta biết hết các yếu tố này thì ta có thể tiên đoán kết quả, và nếu ta có thể tiên đoán kết quả thì ta có thể kiểm soát nó. Nếu ta có thể thay đổi điều kiện ban đầu chút ít, nếu ta có thể thay đổi một số các thông số và định luật, thì ta có thể kiểm soát kết quả.” Sa nhân tin rằng nếu họ có thể kiểm soát tâm con người trên trái dất, thì họ có thể kiểm soát kết quả trên trái đất. Con thấy chăng, lý duyên khởi khiến ý đồ này không thể thực hiện được. Con không thể kiểm soát tâm mọi người trên trái đất, nhưng thêm nữa trái đất không phải là một đơn vị riêng lẻ bay bổng trong không gian.

Trái đất đang chịu lực kéo của tất cả các hành tinh khác, và các hành tinh này đang theo một vòng xoáy hướng thượng trong bầu cõi chưa thăng thiên này, và toàn thể bầu cõi chưa thăng thiên đang chịu lực kéo của các bầu cõi đã thăng thiên đi trước nó. Không có gì có thể kiểm soát các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau này. Trên hành tinh phi tự nhiên, trong một thời gian giới hạn con có thể có ảo tưởng là con đang làm chủ tình hình, nhưng đó là một ảo tưởng. Đó sẽ luôn luôn là một ảo tưởng.

13.8. Một chọn lựa quan trọng trên đường tu

Trên đường tu của con sẽ có một điểm con giáp mặt một chọn lựa. Đây là một chọn lựa quan trọng, không quan trọng ở mức cuồng đại, nhưng là một chọn lựa quan trọng. Con đã đi trên con đường tâm linh được một thời gian, con đã tạo được động lực, con đã cầu thỉnh ánh sáng, con đã bắt đầu giải quyết một số chuyện trong tâm lý, và nay con đến điểm con cần chọn lựa giữa kiểm soát và quy hàng nếu con muốn tiến xa hơn trên con đường tầm linh.

Để minh họa điều này, có thể nói là khi con mới bước vào đường tâm linh thì con có ý tưởng là con phải đi đâu đó, con phải tới đâu đó. Ý tưởng này không phải là không có giá trị. Thày không nói nó sai, nhưng con có ý tưởng con phải tới đâu đó, do đó con bắt đầu tiến bước trên đường tâm linh. Giờ đây con đi tới một con sông và con có ý tưởng là con phải băng qua sông và con bắt đầu lội nước, nhưng sông sâu và chảy mạnh, và con càng lúc càng gặp thêm khó khăn. Mặc dù con có một cây gậy để tự chống đỡ, nhưng con càng lúc càng khó chống lại dòng nước chảy. Dòng nước là gì? À tự ngã của con nghĩ dòng nước đang chống lại con. À, có thể là tà lực đang cản bước tiến của con, nhưng thực ra đó là Ki-tô, đó là tâm Ki-tô. Tới lúc con tới điểm phải quyết định: con sẽ dùng tất cả sức mạnh của mình để cưỡng chống dòng chảy và tìm cách băng qua sông, hay con quy hàng và xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống?

Có những người đã đi trên con đường tâm linh mấy chục năm nhưng không nắm bắt chọn lựa này, không sẵn lòng chọn lựa. Họ vẫn còn đang chống cự và nhiều người trong họ không thể hiểu: Tại sao tôi không đạt kết quả? Tại sao tôi vẫn đau khổ? Tại sao tôi vẫn bị căng thẳng? Tại sao tôi càng ngày càng căng thẳng khi tôi tiến xa hơn trên con đường tâm linh? Lý do là vì con chưa quyết định buông bỏ nỗ lực của tự ngã muốn kiểm soát con đường tu. Thay vào đó, con cần quy hàng tâm Ki-tô.

13.9. Quy hàng là chìa khóa đưa đến quả vị Ki-tô

Bây giờ chúng ta trở lại trường hợp thường ngày trong đó con gặp người này người kia, có một hoàn cảnh được quy định, có một số kết quả có thể xảy ra, thì con cần làm gì để biểu hiện kết quả tốt nhất? À, câu trả lời tùy thuộc con định nghĩa thế nào là kết quả tốt nhất, vì tự ngã có một định nghĩa và tâm Ki-tô thì có một định nghĩa khác. Nếu con vẫn bị kẹt trong ý muốn kiểm soát của tự ngã, thì con muốn biểu hiện một kết quả. Nếu con quy hàng Ki-tô, con sẽ biểu hiện kết quả cao nhất có thể có trong hoàn cảnh đó. Kết quả này có thể không phải là cái tự ngã muốn.

Con có thấy điều thày muốn nói ở đây chăng? Quy hàng là chìa khóa. Con không thể suy nghĩ để đi vào tâm Ki-tô. Con có thể quy hàng để đi vào nó. Con có thể xuôi chảy theo nó. Để quy hàng con cần buông bỏ ý muốn kiểm soát, vì con sẽ không biết bằng tâm vỏ ngoài Dòng sông sự Sống sẽ dẫn con tới đâu.

Có rất nhiều trên con đường tâm linh, không phải chỉ riêng đệ tử chân sư thăng thiên và trong mọi truyền thống tâm linh, đã tìm cách kiểm soát con đường tu của họ. Họ định ra một mục đích – bất cứ gì truyền thống tâm linh của họ đã định ra như mục đích. Họ đã định ra cách để đạt mục đích và họ đã quyết định bằng tâm vỏ ngoài dàn xếp cuộc đời của họ để giúp họ theo từng bước đường thẳng dẫn tới mục đích. Nhiều người đã làm vậy suốt mấy chục năm. Một số đã làm vậy suốt nhiều kiếp sống và họ không hiểu tại sao họ vẫn chưa đạt mục đích, nhưng lý do là vì họ vẫn chưa buông bỏ ước mơ xem đường tâm linh như một đường thẳng.  

13.10. Đường tâm linh có theo đường thẳng chăng?

Giờ đây, một lần nữa con có thể nói, như một số thày khác đã nêu ra: “Nhưng Lanto, phải chăng thày đang mâu thuẫn với tất cả những gì thày đã nói với chúng con, là có một con đường tâm linh? Phải chăng thày nói con đường tâm linh không theo đường thẳng? Vậy 144 tầng tâm thức là gì? Và con đường tự điều ngự là gì, khi ta đi từ Tia thứ Nhất ở tầng 48 và dần dần tiến lên tầng 96? Đó không phải là một tiến triển theo đường thẳng sao?

Đúng, con có thể nhìn đó là một tiến trình đường thẳng với một số bược được quy định rõ rệt, nhưng chìa khóa để tiến từ tầng 48 lên tầng 49 là gì? Chìa khóa là thấy một ảo tưởng và buông bỏ ảo tưởng đó. Chìa khóa để tiến từ một tầng lên tầng kế tiếp là buông bỏ, không phải là kiểm soát, không phải dùng sức mạnh. Con không thể dùng sức mạnh để đi từ tầng 48 lên tầng 49. Con có thể dùng sức mạnh để ép mình đi từ tầng 48 xuống tầng 47, tầng 46, tầng 45, và xuống mãi đến tầng thấp nhất trên trái đất. Con có thể dùng sức mạnh trong hướng đi đó, nhưng con không thể dùng sức mạnh để lên thiên đàng. Con chỉ có thể vào vương quốc khi con trở nên như trẻ thơ.

Trẻ thơ làm gì? Chúng chỉ xuôi chảy theo dòng đời. Chúng chỉ quy hàng. Chúng không tìm cách kiểm soát cuộc đời của chúng. Chúng sống với tâm thái chơi đùa. Con không thể đi quá tầng 96 mà không buông bỏ ý muốn kiểm soát, ý muốn kiểm soát của tự ngã. Lẽ tất nhiên, con không thể buông bỏ ý muốn kiểm soát của tự ngã nếu con chưa chữa lành chấn thương nhập đời, vì chính chấn thương này đã tạo ra nơi con ý muốn kiểm soát để con tránh chấn thương đó xảy ra lần nữa.

Như các thày đã giảng, con bị chấn thương nhập đời khi con mới tới trái đất. Con sẽ không bao giờ bị chấn động như lần đầu tiên đó. Con sẽ không bao giờ trải nghiệm một chấn thương tương tự. Tự ngã đang tìm cách ngăn ngừa một chuyện quả thực không thể xảy ra nữa. Chỉ khi con thấy điều này, thấy ảo tưởng đã khiến con tạo ra ngã nguyên thủy, ngã gốc thì con không thể buông bỏ nó. Con không thể quy hàng. Con không thể tin rằng tâm Ki-tô quả thực sẽ mang con lên cao hơn.

13.11. Con không để dùng sức mạnh để đạt quả vị Ki-tô

Con có thấy chăng? Con có bắt đầu thấy là minh triết cao hơn của tâm Ki-tô là nắm bắt sự thật tâm Ki-tô là tâm hợp nhất, hợp nhất con với cội nguồn của con, với đấng Sáng tạo, với cái ta cao của con, với các chân sư thăng thiên trên con? Con có bắt đầu thấy là không có sức mạnh trong tiến trình này? Con quả thực không thể chiếm thiên đàng bằng võ lực, như Giê-su đã từng cảnh báo những ai muốn làm chuyện này. Giê-su đã ám chỉ sa nhân qua câu đó vì họ tin rằng họ có thể dùng sức mạnh để xông vào thiên đàng. Không, con có thể dùng sức mạnh để ra khỏi hợp nhất. Con không thể dùng sức mạnh để xông trở về hợp nhất.

Con hãy hình dung một sợi dây thun, một sợi dây thun dài mà con đã cột vào một thân cây. Giờ đây con nắm sợi dây và bắt đầu bước đi, và khi làm vậy thì con kéo dãn sợi dây, và càng lúc con càng dãn nó ra nhiều hơn chặt hơn. Con đang dùng sức mạnh để rời cây của sự sống. Con cần làm gì để trở về cây của sự sống? Con có cần dùng càng lúc càng nhiều sức mạnh thêm chăng? Không đâu, con chỉ buông thả và sợi dây thun sẽ kéo con trở lại. Ấy, đấy chính là tâm Ki-tô. Con buông bỏ sức mạnh, và tâm Ki-tô kéo con trở về. Đấy là hàng phục trở về hợp nhất.

Con không thể dùng sức mạnh để xông vào hợp nhất. Con có thể dùng sức mạnh để đi vào tách biệt, đi vào những lớp càng ngày càng sâu của tách biệt, nhưng con không thể dùng sức mạnh, con không cần dùng sức mạnh để đi vào hợp nhất. Con chỉ quy hàng vào hợp nhất, và đây là minh triết cao nhất. Tâm vỏ ngoài, tâm đường thẳng, tâm tự ngã, tâm rắn không tin những gì thày đang nói ở đây: “Không, không, đây không phải là minh triết cao nhất – có một cách, có một công thức bí mật, có một hòn đá hóa chì thành vàng, có một thủ tục, có một nghi lễ trong một ngôi đền ở đâu đó giúp bạn dùng sức mạnh để đi vào hợp nhất.”

13.12. Con không thể đạt quả vị Ki-tô như một sinh thể tách biệt

Nếu con bước lui lại thì con thấy là tự ngã không muốn hợp nhất. Tự ngã muốn kiểm soát trong cương vị một sinh thể tách biệt. Làm sao một sinh thể tách biệt có thể vào hợp nhất? Khi tự ngã nghe nói về quả vị Ki-tô thì nó nghĩ: “À, đây là công thức bí mật mà tôi đang tìm kiếm. Khi tôi đạt quả vị Ki-tô thì tôi sẽ làm chủ tình hình.” Con thấy chăng, con không thể đạt quả vị Ki-tô như một sinh thể tách biệt. Rất nhiều đệ tử đã không hiểu điều này. Họ nghe nói về quả vị Ki-tô, họ vẫn thấy họ như một sinh thể tách biệt, và họ nghĩ: “À, tôi có thể đi con đường dẫn tới quả vị Ki-tô và tôi sẽ tới tầng tối hậu, thành đạt tâm linh tối hậu, như một sinh thể tách biệt và sau đó tôi sẽ thăng thiên như một sinh thể tách biệt.”

Đây là điều con nghĩ khi con ở dưới tầng 96, khi con chưa vượt qua khai ngộ rằng: Đúng là con có thể đi từ tầng 48 lên tầng 96 như một sinh thể tách biệt, tách mình ra khỏi tâm thức đại chúng, nhưng con không thể đi quá tầng 96 khi con coi mình như một sinh thể tách biệt. Con chỉ làm được khi con buông bỏ ý niệm tách biệt, mong muốn kiểm soát, và trở nên sẵn sàng trôi theo Dòng sông sự Sống, theo các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau.

Con hãy suy ngẫm hình ảnh con đang tìm cách băng qua sông và chống trả dòng nước, và con thấy sự phù phiếm của việc mình làm, con buông bỏ, con quy hàng, và con xuôi chảy theo dòng sông. Con làm cách nào? Vẫn còn một phần của tâm con nghĩ rằng: “À, giờ đây tôi đã làm điều mà anh chàng Lanto này nói, tôi đã quy hàng. Từ nay trở đi, mọi chuyện sẽ phải trở nên đẹp như tranh, tuyệt vời, lý tưởng.” Con thấy chăng, con vẫn ở trên trái đất, con vẫn ở trên một hành tinh phi tự nhiên, ở một nơi mà các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau ở một mức thấp hơn rất nhiều so với trên một hành tinh tự nhiên. Ngay cả khi con quyết định xuôi chảy theo Dòng sông sự Sống sẽ vẫn còn một số thách đố, vẫn còn hoàn cảnh khó khăn, vẫn còn hoàn cảnh mà con không có được kết quả mà con mong muốn.

13.13. Là Ki-tô khong có nghĩa là cuộc đời lý tưởng

Con làm gì khi con hòa điệu với tâm Ki-tô? À, điều này không có nghĩa là con không cố gắng, nhưng khi một hoàn cảnh không xảy ra như con muốn, thì con không than phiền, con không rên rỉ, con không chống cự, con không phân tích và nghĩ đáng lẽ mình phải làm gì khác. Con chỉ xuôi chảy theo kết quả. Con chấp nhận đó là kết quả duy nhất có thể có trong hoàn cảnh đó, và thay vì tìm cách bám lấy một cành cây lồi ra khỏi bờ sông, con chỉ tiếp tục xuôi chảy. Con lại lấy quyết định xuôi chảy với hoàn cảnh như nó là, và sau đó đi tới một kết quả tốt hơn. Con luôn luôn xuôi chảy, con tìm ra thăng bằng giữa cố gắng và trong một số hoàn cảnh, chấp nhận kết quả và quy hàng dòng chảy. Con không tìm cách ép uổng dòng chảy, và đây là chìa khóa để đạt được minh triết của tâm Ki-tô.  

Một lần nữa, tâm Ki-tô không tìm cách đạt được kết quả lý tưởng trong một hoàn cảnh, nó tìm cách giúp con tiếp tục xuôi chảy, bởi vì khi con xuôi chảy thì con đạt được tầng tâm thức cao hơn. Ta có thể nói là con leo từ tầng 48 lên tầng 96, con phải gắng sức vì khi leo lên con phải chống lại trọng lực của tâm thức tập thể. Ở tầng 96, và từ tầng 96 đến tầng 144, con không leo nữa mà con xuôi chảy.

Trên trái đất một dòng sông chảy xuống phía dưới, nhưng Dòng sông sự Sống không ở trên trái đất, nó không từ trái đất mà ra, và nó tuôn chảy lên trên. Như thày có nói, từ tầng 48 đến tầng 96, con cần buông bỏ ở mỗi bước, do đó ta có thể nói là ngay lúc đó con cũng xuôi chảy lên trên. Với tâm vỏ ngoài thì có vẻ như con cần nỗ lực để chống lại sức kéo của tâm thức thập thể, nhưng điều có thể xảy ra, và một số quả thực đã làm được, là con hòa điệu với dòng chảy ngay cả khi con đi từ tầng 48 lên tầng 96.

Các con yêu dấu, thày đã trao cho các con điều thày muốn trao, và thày, như các chân sư khác, cảm ơn các con đã cho thày cơ hội nói lên trong cõi vật lý, và qua sự tham dự của các con ở đây, lời nói của thày đi vào tâm thức tập thể, và tác dụng được các con nhân lên gấp bội. Con thấy là ngay ở đây, hoàn cảnh là gì khi các con lắng nghe bài truyền đọc này? Có phải chăng là các con chỉ thụ động lắng nghe? Không đâu. Chúng ta đang cùng nhau tạo nên một nhân duyên ảnh hưởng toàn thể hành tinh, chúng ta đang cùng nhau tạo nên một xung lực ảnh hường các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau của hành tinh, của tâm thức tập thể, và qua đó nâng nó lên, tạo một lực kéo nó lên.

Xung lực đó có ảnh hưởng được toàn bộ tâm thức tập thể chăng? Ấy, nó quả thực có ảnh hưởng, nhưng nó sẽ có tác dụng lớn hơn trên những cá nhân có thể hòa điệu với nó. Như các thày có nói, do nhân duyên mà chúng ta đã tùy thuộc lẫn nhau tạo ra, sẽ có những người bỗng nhiên thức tỉnh và thấy một điều gì mà họ đang khó thấy, mà họ trước đó không thể thấy. Giờ đây thì họ nói: “Ồ, chuyện này quá hiển nhiên, vì sao tôi không thấy được trước kia? Bây giờ thì tôi có thể chuyển sang một hướng khác.” Đây là cách các con, như những người tâm linh, có tác động lớn nhất.

Lẽ tất nhiên, điểm khó khăn là con có thể sẽ không bao giờ biết các người đó là ai, con có thể sẽ không giờ gặp họ. Nhưng, có phải chăng là minh triết cao nhất của tâm Ki-tô là con không cần biết tác động mà con đang có trên các nhân duyên tùy thuộc lẫn nhau trên hành tinh này? Con chỉ biết là con đã có một tác động, và do đó đã bõ công con có mặt ở đây, là Ki-tô trên trái đất trong đời sống thường ngày.

Tới đây thì thày niêm các con trong ngọn lửa của minh triết phân biện mà thày cầm giữ cho trái đất. TA LÀ Lanto.

11 | Làm sao khắc phục căng thẳng trên con đường tâm linh

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Portia qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Portia. Điều thày muốn nói tới ở đây là một hiện tượng mà các thày thường quan sát thấy nơi người tâm linh, không riêng gì trong các phong trào chân sư thăng thiên nhưng cũng xảy ra trong nhiều phong trào khác nếu không nói là tất cả các phong trào tâm linh. Ấy là hiện tượng con ở đây, con sống cuộc đời theo cách con được dạy dỗ. Con có thể có một số vấn đề con phải đương đầu hoặc con có thể sống một cuộc đời tương đối bình thường nhưng con cảm thấy có gì đó thiếu thốn. Sau đó con tìm thấy một giáo lý tâm linh, một vị thày tâm linh, một phong trào tâm linh và con quyết định gia nhập phong trào đó. Con quyết định sẽ hết sức nỗ lực học hỏi giáo lý, áp dụng các pháp thực tập, thậm chí có thể là con thay đổi cuộc sống mình, rời nơi con đang sống để gia nhập một cộng đồng tâm linh như nhiều người trên thế giới đã làm. 

Sau khi con đã quyết định dấn thân vào con đường tâm linh, con thường trải qua một giai đoạn mà các thày gọi là giai đoạn trăng mật khi mọi chuyện đều tuyệt vời. Con quả thực yêu say đắm sự chú tâm mới đến tâm linh trong cuộc sống, con cảm thấy hứng khởi với cuộc sống, với tương lai của mình, con cảm thấy lúc nào con cũng đang khám phá những điều mới lạ. Con hy vọng một ngày kia sẽ đạt được mục tiêu nào đó được quy định trong phong trào tâm linh của mình và con rất lạc quan về tương lai.

11.1. Khi con người bị căng thẳng về tăng triển tâm linh

Rồi sau đó một thời gian (có thể là sau vài tháng, hay vài năm hay với một số người là vài thập niên) có một sự xoay chuyển từ từ, hay cũng có thể là một sự xoay chuyển đột ngột khiến con trở nên càng ngày càng căng thẳng. Giống như tâm thái ngây thơ của giai đoạn đầu dần dà phai mờ và bây giờ con trở nên nghiêm trang hơn rất nhiều. Trong nhiều trường hợp, những người tâm linh nghĩ rằng thái độ nghiêm trang chứng minh họ quyết chí hơn trên con đường tâm linh, họ xem nó nghiêm trọng hơn, họ nỗ lực nhiều hơn, họ quyết tâm nhiều hơn. Chuyện thực sự xảy ra là họ trở nên căng thẳng.

Lúc đầu, khi đi vào tâm linh con cảm thấy có niềm vui, con cảm thấy mình được một cơ hội, con như một người thơ ngây trông ngóng tương lai. Nhưng sau một thời gian, con trở nên căng thẳng, con trở nên nghiêm trang, mọi chuyện đều có vẻ rất ư nghiêm trọng, con có thể phạm lỗi lầm, con có thể không vượt qua các thử thách. Có thể là con không đáp ứng một số đòi hỏi nào đó, đây có thể là đòi hỏi từ bên ngoài do vị thày hay tổ chức quy định hay là đòi hỏi được quy định trong nội tâm. Con trở nên căng thẳng, con bắt đầu cảm thấy không thỏa mãn, có thể con cảm thấy con không đáp ứng được các chờ mong, các đòi hỏi hay tiêu chuẩn, có thể con cảm thấy những người khác không đáp ứng được các điều này. Có thể con cảm thấy con không tiếp cận được những người mà con nghĩ con phải tiếp cận, con không thu hút được người mới vào nhóm hay phong trào của con và bỗng nhiên có một cảm giác căng thẳng nào đó len lỏi vào nội tâm con.

Giờ đây một lần nữa, như các thày đã nói rất nhiều lần, các thày không trách cứ các con chút nào về chuyện này. Các thày không có ý nói điều này không được xảy ra. Nó xảy ra cho đại đa số người tâm linh, và đệ tử chân sư thăng thiên không là ngoại lệ. Trong một số trường hợp, có thể họ bị nặng hơn vì họ nghĩ họ đã tìm ra giáo lý tâm linh cao nhất do đó họ phải sống đúng theo tiêu chuẩn cao nhất. Điều thày muốn trình bày ở đây là tại sao chuyện này xảy ra.

11.2. Các ngã tiềm thức pha màu cách con tiếp cận con đường tâm linh như thế nào

Giờ đây, các thày đã có nói về vấn đề này rồi vì, như các thày đã giải thích, khi con lần đầu tìm ra một giáo lý hay phong trào tâm linh thì cái nhìn của con về đời sống bị pha màu bởi tự ngã, bởi các ngã tiềm thức. Chuyện xảy ra là trong giai đoạn đầu có quá nhiều điều mới lạ xảy ra cho con, con tiếp cận quá nhiều giáo lý mới, nên trong thời gian ngắn đó tự ngã, các ngã tiềm thức, mất ảnh hưởng trên tâm con vì con quá phấn khởi và tuôn chảy theo niềm phấn khởi đó, khám phá những điều mới lạ. Giống như con đang yêu say đắm một người tình khi mọi sự đều mới lạ và hào hứng và con cảm thấy lạc quan về tương lai.

Rồi một lúc sau, các ngã dần dần bắt đầu tìm ra cách ảnh hưởng con trở lại và chúng bắt đầu pha màu một cách rất vi tế cách con tiếp cận con đường tâm linh. Các ngã này làm gì? Ấy, chúng làm điều duy nhất chúng có thể làm và như Mẹ Mary đã giải thích, tự ngã đi tìm điều bất khả thi là bù đắp cho sự mất nối kết với cái ta cao. Chuyện có thể xảy ra là dần dần con lấy tìm cầu bất khả thi này của tự ngã và chuyển nó vào giáo lý tâm linh, vị đạo sư và đường tu của con. Giờ đây, con nghĩ là phong trào, giáo lý đã quy định con đường tu này, các yêu cầu này mà con phải sống theo và con không chắc con có thể làm được.

Thực ra đấy là trực giác của con chứ không phải các nỗi sợ của con. Ấy, cũng có thể đó là những nỗi sợ của con nhưng thường khi đó là trực giác tìm cách nói với con là con không thể đáp ứng các yêu cầu vỏ ngoài này. Tại sao? Bởi vì tự ngã tìm cách làm gì? Nó tìm cách lấy điều gì đó trong thế gian này và dùng nó để bù đắp cho sự mất nối kết với Hiện diện TA LÀ. Nhưng vì không có gì trong thế gian có thể thay thế nối kết đó, nên trực giác tìm cách nói cho con biết là dốc tâm làm theo các quy luật, tiêu chuẩn và yêu cầu vỏ ngoài sẽ không thực sự dẫn con tới nơi con hy vọng tới.

Khi con cố gắng làm tròn tất cả những yêu cầu vỏ ngoài để tạo một cảm giác bên trong con, cảm giác kết nối với Hiện diện TA LÀ, thì con sẽ trải nghiệm, thường là sau một thời gian (trong một số ít trường hợp sau một thời gian dài) là con không thành công. Con không đạt những yêu cầu, con không đạt những kết quả con nghĩ mình sẽ đạt được. Điều này tạo nên căng thẳng và nhiều người trong các con nghĩ: “Tôi phải nỗ lực hơn nữa. Tôi phải đọc chú nhiều hơn, tôi phải dậy sớm hơn để đọc chú, tôi phải làm đúng tất cả những pháp tu vỏ ngoài.” Con bước lên cỗ máy chạy và như con biết về các cỗ máy chạy, con có thể chạy càng ngày càng nhanh nhưng con chẳng đến đâu cả.

11.3. Nhận ra nguyên nhân căng thẳng

Các thày mong muốn thấy gì nơi các đệ tử chân sư thăng thiên của các thày trong đợt truyền giáo này? Nếu con rơi vào tình trạng căng thẳng, cảm thấy không thỏa mãn, cảm thấy không tới đích, không đạt kết quả mà con nghĩ đáng lẽ con phải đạt, thì các thày mong muốn thấy con thoát khỏi trạng thái này. Các thày muốn con lấy lại cảm nhận bên trong là con đường tu hào hứng, con đang liên tục tiến lên, con đang liên tục bước những bước làm con cảm thấy thoải mái hơn với chính mình và đường tu. Cách duy nhất làm được điều này là gì? Đó là giải quyết những ngã tiềm thức đang pha màu cách con nhìn đường tu.

Nếu con thấy mình trong tình trạng này, cảm thấy mất niềm vui mà trước đây con có, thì con hãy sẵn lòng nhìn vào tâm tiềm thức của mình. Chuyện này không khó như con nghĩ, con chỉ cần sẵn lòng công nhận: “À, tôi đã mất đi phần nào sự ngây thơ, tôi cảm thấy căng thẳng nhưng tại sao thế? Tôi đang thật sự có những cảm xúc gì? Đằng sau những cảm xúc đó là những ý nghĩ gì? Điều gì đã khiến tôi bị rơi vào tình trạng khó khăn, khó xử, thế bí này trong đó tôi bị dằng co nhiều hướng và do đó tôi không thể nào bình an được?”

Con có thể gỡ rối thế bí này, con dùng các dụng cụ, các giáo lý các thày đã cho con về các ngã tiềm thức và con tới điểm con có thể thấy cơ chế vận hành của chúng. Vì các ngã dựa trên nhị nguyên, trước tiên chúng không thể dẫn con tới mục tiêu nhưng đồng thời chúng cũng kéo con về những hướng đối nghịch, và đây là nguyên do của căng thẳng. Khi con thấy hai ngã đang kéo con về hai hướng đối nghịch thì con có thể nhìn ảo tưởng đằng sau mỗi ngã và tới điểm nhận ra đó thật sự chỉ là một ảo tưởng, nó không thật, đấy là tự ngã đang tìm cách quy định con đường quả vị Ki-tô nhưng chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra. Làm sao con tới điểm nhận ra điều này? Ấy, bằng cách con với tới tâm Ki-tô đang ở ngay đây với con, nó không ở tuốt trên cao ngoài kia. Tâm Ki-tô không ở xa con, tâm Ki-tô luôn ở bên trong con, vương quốc Thượng đế ở bên trong con, do đó vương quốc Thượng đế không tới con được qua việc tuân thủ các quy luật vỏ ngoài, nó tới con qua việc quan sát các ngã nội tại.

11.4. Một cái nhìn đen trắng về quả vị Ki-tô

Có một điểm vi tế mà con có thể cần chiêm nghiệm, do các đệ tử có khuynh hướng (xảy ra nhiều hơn với các đợt truyền giáo trước nhưng cũng xảy ra ngay cả trong đợt truyền giáo này) nhìn tâm Ki-tô với cái nhìn đen trắng, cách nghĩ đen trắng của tự ngã. Họ nghĩ, như các thày có đề cập: Nếu con là Ki-tô, con luôn luôn đúng, con có sự thật tối hậu sẽ giải quyết bất kỳ xung đột nào.

Con thấy chăng, có chút căng thẳng nào trong tâm Ki-tô chăng? Có bao giờ tâm Ki-tô bị căng thẳng chăng? Tại sao nó bị căng thẳng chứ? Nó trải nghiệm hợp nhất với đấng Sáng tạo, với nguồn gốc, vậy tại sao nó cảm thấy căng thẳng chứ? Tâm Ki-tô có cần bất cứ gì từ Trái đất chăng? Không đâu. Tâm Ki-tô có thể cần gì từ Trái đất? Nó có thể cần gì từ hình tướng? Nó có thể cần gì từ vật chất? Tâm Ki-tô kết nối với nguồn gốc của mọi sự sống, với chính đấng Sáng tạo. Tâm Ki-tô không bao giờ có thể cảm thấy thiếu thốn, không bao giờ có thể cảm thấy căng thẳng. Do đó, khi con bắt đầu neo trụ vào tâm Ki-tô, con có thể dần dần khắc phục những ngã khiến con cảm thấy căng thẳng về con đường tâm linh.

Con có thể tới điểm thấy là những ngã này, chúng muốn con căng thẳng vì hai lý do. Trước tiên, khi con căng thẳng, khi con phân rẽ trong chính con, thì con phú cho năng lượng một độ rung dựa trên sợ hãi sẽ nuôi béo các ngã. Chúng chỉ có thể hấp thụ ánh sáng dưới một tầng rung động nào đó và do thế chúng cần con căng thẳng để nuôi béo chúng. Điều khác là khi con căng thẳng thì con đang làm gì? Con tập trung vào chuyện bên ngoài. Ôi, có con đường tu này, tôi phải theo nó, có tất cả những yêu cầu này, có những người khác, có vị đạo sư. Có mấy chân sư thăng thiên ở trên kia đang đòi hỏi tôi này nọ, họ đang nhìn xuống tôi mỗi giây và coi xem tôi có đạt thử thách không. Tôi phải đạt thử thách, nhưng tôi không biết nội dung của thử thách, vậy thì làm sao tôi đạt được? Ít nhất, nếu tôi lo lắng về chúng thì trông có vẻ là tôi nghiêm túc, tôi là một đệ tử nghiêm túc, nghiêm túc hơn các đệ tử khác đang không căng thẳng.

Con thấy chăng hậu quả của thái độ này? Đó là con nhìn ra “ngoài kia,” con nghĩ là khi con tìm được điều gì đó ngoài kia, khi con đạt điều gì đó ngoài kia, thì con sẽ cảm thấy bình an, thì con sẽ mãn nguyện. Chuyện này có bao giờ xảy ra được chăng? Như các thày đã nói, mãn nguyện tối hậu là trải nghiệm con kết nối với Hiện diện TA LÀ của con, với tâm Ki-tô, với các chân sư thăng thiên. Khi con còn nhìn ra bên ngoài thì làm sao con khám phá được Vương quốc Thượng đế bên trong con? Làm sao con nói được với Ki-tô: “Chuyện này không quan trọng với con, nó chẳng là gì với con, con sẽ theo thày?”

11.5. Cái Ta Biết có cảm thấy căng thẳng không?

Khi con thấy điều này, khi con thấy các ngã đang cố hết sức lôi kéo sự chú ý của con khỏi điều duy nhất có thể cho con điều con cần thì con có thể bắt đầu tách con, tách Cái Ta Biết ra khỏi chúng. Con có thể tự hỏi một câu hỏi giản dị: “Căng thẳng của tôi nằm đâu? Nó ở trong cái Ta Biết không?” À, một số người nghĩ nó ở đó vì họ quá đồng hóa với các ngã vỏ ngoài nên họ nghĩ rằng tôi, cái Ta Biết, tôi là một đệ tử chân sư thăng thiên rất ngoan và do đó, tôi phải sống theo những yêu cầu vỏ ngoài đó.

Con thấy đấy, các thày đã nói gì nhiều lần về cái Ta Biết? Cái Ta Biết có là thân vật lý của con không? Để giúp các con tỉnh ngủ: các con hãy trả lời đi! Cái Ta Biết có là thân vật lý của con không? Không. Cái Ta Biết có là thân xúc cảm của con không? Không. Cái Ta Biết có là thân lý trí của con không? Không. Cái Ta Biết có là thân bản sắc của con không? Không. Cái Ta Biết là hơn nữa. Nếu cái Ta Biết là nhận biết thuần khiết, nhận biết trung hòa, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ gì trên Trái đất thì tại sao cái Ta Biết lại căng thẳng chứ?

Con thấy đó, cái Ta Biết không thể căng thẳng. Vậy tại sao con cảm thấy căng thẳng? Đó là vì cái Ta Biết trải nghiệm căng thẳng xuyên qua một ngã tách biệt. Ngã cảm thấy căng thẳng vì nó dựa trên nhị nguyên và các thày đã nói gì? Tâm thức nhị nguyên có một sự căng thẳng mang tính chất sống chết. Không ai cảm thấy căng thẳng nhiều hơn các sa nhân. Khi con nhận ra điều này, con có thể thấy con không bị căng thẳng. Con không thể bị căng thẳng. Con chỉ có thể trải nghiệm nó và khi con thấy căng thẳng chỉ là một trải nghiệm, con có thể tự hỏi: “Tại sao tôi muốn có trải nghiệm đó?”

Rất có thể con chưa bao giờ nghĩ về vấn đề như thế và tâm vỏ ngoài của con sẽ nói, các ngã sẽ nói: “Ồ, không phải bạn chọn trải nghiệm đó đâu. Đời sống trên Trái đất là như thế. Bạn nhìn tất cả những điều kiện bên ngoài này đi, nhìn tất cả những vấn đề này, làm sao bạn có thể hiện thân trên Trái đất mà không bị căng thẳng?” Thật dễ để tin cuộc sống trên Trái đất, trên một hành tinh phi tự nhiên rất khó khăn, Trái đất rất dày đặc, có rất nhiều xung đột cho nên chỉ có thể căng thẳng thôi.

Các thày nhìn nhận là chúng ta đều đã phần nào cảm thấy căng thẳng vì sống trên một hành tinh phi tự nhiên, nhưng dù vậy con không cần phải cảm thấy căng thẳng. Cái Ta Biết không cần phải cảm thấy căng thẳng khi con nhận ra không gì trên Trái đất có thể chạm tới con khi con tiếp xúc với nhận biết thuần khiết, nhận biết trung hòa. Nếu con trung hòa, thì cái gì có thể khiến con căng thẳng? Cái gì có thể kéo con theo hai hướng đối nghịch? Căng thẳng là gì? Con lúc nào cũng bị lôi kéo tới những hướng đối chọi, ít nhất hai hướng khác nhau, có thể nhiều hơn thế nếu con có nhiều ngã đang lôi kéo con. Cho nên con có thể bắt đầu tự đặt cho mình những câu hỏi này: “Tâm Ki-tô có bao giờ căng thẳng không? Hiện diện TA LÀ của tôi có bao giờ căng thẳng không? Tại sao cái Ta Biết lại căng thẳng?” Con có thể nhận ra là nó không căng thẳng.

11.6. Các chân sư thăng thiên có căng thẳng không?

Giờ đây, có thể ngã vỏ ngoài trong một số trong các con nói: “Nhưng chẳng phải các chân sư thăng thiên cũng căng thẳng à? Chẳng phải các thày muốn Trái đất trở nên một hành tinh tự nhiên sao? Chẳng phải các thày muốn thời Hoàng kim của Saint Germain được biểu hiện? Chẳng phải các thày muốn tôi biểu hiện quả vị Ki-tô, đọc tất cả những bài chú đó, giúp nâng cao tâm thức tập thể?” Các thày đã thấy trong các đợt truyền giáo trước, các đệ tử chân sư thăng thiên quá tập trung vào việc thay đổi thế giới nên họ thật sự nghĩ căng thẳng của họ phát xuất từ các thày, các thày là những người tạo căng thẳng đó lên họ, muốn họ làm tất cả những chuyện đó, muốn họ làm nhiều hơn những gì có thể làm được. Đây không phải là sự thực.

Con hãy tự hỏi: “Tại sao một chân sư thăng thiên lại bị căng thẳng?” Con thăng thiên bằng cách buông bỏ hết mọi dính mắc với bất kỳ điều gì trên Trái đất. Điêu này nghĩa là gì? Nó có nghĩa là trong tâm các thày không nhìn Trái đất và nghĩ nó có những khiếm khuyết vĩ đại, có một khoảng cách vĩ đại. Các thày nhìn các hoàn cảnh trên Trái đất đang như thế nào. Các thày nhìn Thời đại Hoàng kim của Saint Germain như thế nào. Các thày nhìn sự khác biệt vĩ đại giữa hai hoàn cảnh đó và nhìn những con người, đặc biệt là các đệ tử của các thày, họ đang không chịu đọc hết các bài chú mà các thày muốn họ đọc để chúng ta thâu ngắn khoảng cách. Con nghĩ đó là cách các thày suy nghĩ nhưng các thày không suy nghĩ như vậy vì nếu các thày suy nghĩ như vậy thì các thày đã không thăng thiên, các thày sẽ vẫn còn đầu thai trên trái đất như các con. Con thấy chăng, quả đúng là các thày muốn Trái đất trở thành một hành tinh tự nhiên. Lẽ tất nhiên, đúng là các thày muốn Thời đại Hoàng kim của Saint Germain được hiển thị. Nhưng các thày không muốn các điều trên từ một cảm nhận thiếu hụt mà từ cảm nhận trôi theo Dòng sông sự Sống. Có một sự khác biệt vĩ đại ở đây và sự khác biệt là rung động, như các thày đã đề cập, đọc rung động như thày More đã nói.

Khi con nhìn sự việc với cảm nhận thiếu hụt thì con có một loại rung động đặc thù. Nó dựa trên sợ hãi, nó tạo căng thẳng, nó khiến con cảm thấy bị ám ảnh cưỡng chế tỷ dụ như con phải đọc chú và học giáo lý. Con có thể học cách đọc rung động đó. Con có thể nhận ra là loại rung động đó không đến từ tâm Ki-tô. Sau đó, khi con hòa điệu với tâm Ki-tô, sau khi con làm việc với các ngã, con sẽ trải nghiệm sự khác biệt giữa tâm Ki-tô và rung động thấp hơn này. Con có thể trải nghiệm rung động của một chân sư thăng thiên, như Chân sư More nói tới trải nghiệm tình thương vô điều kiện của các thày vì tất cả các thày đều có tình thương vô điều kiện. Thày có thể bảo đảm với con tình thương vô điều kiện thật sự vô điều kiện. Tình thương vô điều kiện của Chân sư More không vô điều kiện hơn tình thương vô điều kiện của thày bởi vì lẽ dĩ nhiên trong tình thương vô điều kiện không có nhiều mức độ, không có so sánh. Nó hơn tình thương mà con biết trên Trái đất và khi con trải nghiệm nó, con có thể bắt đầu giải thoát mình khỏi cảm nhận căng thẳng.

11.7. Nỗ lực mà không căng thẳng

Giờ đây có những người sẽ nói, ngay cả đệ tử từ các tổ chức chân sư thăng thiên trước đây: “Nhưng làm sao chúng con đủ điều kiện thăng thiên nếu chúng con không nỗ lực và nỗ lực nhiều? Nếu có khoảng cách giữa điểm con đang ở hiện nay và điểm con cần phải tới để đủ điều kiện thăng thiên, thì phải chăng điều hợp lý là con phải chạy nhanh hơn để rút ngắn khoảng cách trong thời gian còn lại của con trong kiếp đầu thai này?” Không, nghĩ vậy không hợp lý. Bởi vì nếu con nỗ lực, nếu con chạy nhanh, thì các việc đó dựa trên sự pha màu của tự ngã và của các ngã vỏ ngoài nghĩ rằng con phải đạt điều gì đó trong thế gian này.  

Làm thế không giúp con đến gần điểm thăng thiên của con. Các đệ tử trong các đợt truyền giáo trước tin như vậy vì họ không nhận được những giáo lý về tâm lý mà các thày trao truyền trong đợt truyền giáo này, về các khía cạnh sâu thẳm hơn của tâm lý. Chỉ qua việc giải quyết phần còn lại của tâm lý, qua việc khắc phục các ngã còn dính mắc những điều của thế gian, con mới thu ngắn khoảng cách và đủ điều kiện thăng thiên. Như thế ác quỷ của Mara, ông hoàng thế gian không nắm được gì trong con.

Con càng chạy nhanh, con càng tìm cách đáp ứng các yêu cầu vỏ ngoài, con càng nhìn bên ngoài ngã, con càng ít thời giờ và ít chú ý để giải quyết các ngã này. Các thày đã thấy có đệ tử chân sư thăng thiên trong nhiều thập niên đã dốc lòng dạy năm giờ sáng, đọc chú nhiều giờ đồng hồ rồi đi làm, rồi tối về đọc chú tiếp, sống theo một chương trình rất nghiêm ngặt. Đa số các người đó tiến bộ rất ít về hướng thăng thiên của họ, ngay cả sau khi bỏ nhiều thập niên dốc công tu tập vỏ ngoài như thế. Tại sao các thày cho phép chuyện này xảy ra? Các thày làm được gì khác khi con người không mở tâm ra để lắng nghe các thày từ bên trong? Bởi vì họ đã quyết định với tâm vỏ ngoài rằng nếu họ theo con đường vỏ ngoài mà họ quy định, hay họ cảm thấy các chân sư hay vị thày hay tổ chức đã quy định cho họ, thì họ bảo đảm sẽ hội đủ điều kiện để thăng thiên.

Như các thày đã giải thích, hội đủ các yêu cầu vỏ ngoài không phải là hội đủ điều kiện để thăng thiên. Con hội đủ điều kiện để thăng thiên khi con đứng ở cổng dẫn vào cõi thăng thiên, con quay lại nhìn Trái đất và cảm thấy hoàn toàn trung hòa. Không có gì trên Trái đất thu hút con, do đó con có thể nhìn Trái đất, nhìn quỷ Mara, nhìn ông hoàng thế gian: Họ không thu hút được con và con có thể quay người, theo nghĩa bóng, bước qua cổng và vào cõi thăng thiên. Con làm việc này hoàn toàn tự nguyện.

Các đệ tử chân sư thăng thiên mà thày đề cập tới, họ chủ yếu tin, dù họ không ý thức là họ tin như vậy, rằng thăng thiên không phải là một tiến trình tự nguyện dẫn con tới chọn lựa tối hậu muốn bỏ lại Trái đất đằng sau. Họ nghĩ thăng thiên, theo một cách hiểu, là cái gì áp đặt lên họ hay do chính họ ép họ. Thậm chí một số nghĩ các chân sư thăng thiên ép họ thăng thiên bởi vì cần một số người thăng thiên để nâng Trái đất lên. Con thấy đấy, trên Trái đất, trong tâm thức nhị nguyên. có thể áp đặt nhiều chuyện. Trong tâm Ki-tô, làm sao có thể có lực ép uổng?

Tâm thức Ki-tô mãn nguyện trong hợp nhất với đấng Sáng tạo của nó. Điều gì có thể ép uổng nó? Điều kiện nào trên Trái đất có thể ép uổng tâm Ki-tô? Thăng thiên là một chọn lựa hoàn toàn tự nguyện. Nó phải là một chọn lựa tự do bởi vì không có gì cuốn hút con phải phản ứng lại bất cứ gì trên Trái đất, cho nên con chủ yếu tuôn chảy vào trạng thái thăng thiên. Nó không phải là quyết định lớn lao, trọng đại, có tầm quan trọng cuồng đại. Nó đơn giản là kết quả tự nhiên của việc con đạt tới tầng tâm thức 144. Con đã quyết định bỏ lại đằng, cho chết đi vô số các ngã tách biệt, để người chết chôn kẻ chết của họ và con nói: “Điều ấy là gì với tôi? Con sẽ đi theo thày!” Cho nên, con chỉ thêm một chọn lựa nữa đưa con tuôn chảy vào cõi thăng thiên.

11.8. Ki-tô có muốn con người được cứu rỗi không?

Có một điểm nữa mà thày muốn thảo luận ở đây. Đây là một điểm vi tế. Nó có thể khiến con bối rối. Nếu thế thì đây thuộc một phần mục đích của các thày tại hội nghị này: khiến tâm vỏ ngoài bị bối rối. Ki-tô là gi? Ấy, con có thể nói, từ tầm nhìn của thày là Nữ thần Cơ hội, Ki-tô là cơ hội. Ki-tô cho con người cơ hội chọn lựa giữa cái thuộc về Ki-tô và cái thuộc về thế gian này. Cho tới ngày họ giáp mặt Ki-tô, con người không được cơ hội này vì trên một hành tinh phi tự nhiên đa số con người chưa bao giờ được gặp Ki-tô. Do đó họ hoàn toàn bị phủ kín trong sương mù, trong Maya, trong ảo tưởng nhị nguyên.

Một lần nữa, Ki-tô có mảy may mong muốn ép uổng con người chọn lựa đi vào hợp nhất chăng? Không đâu. Tại sao Ki-tô lại muốn thế? Vậy thì tại sao con lại muốn thế? Chuyện thường xảy ra trong các phong trào tâm linh, các nhóm tâm linh, các cộng đồng tâm linh là con có mong muốn tăng triển. Con có thể học cách đọc rung động đằng sau mong muốn này và thấy: Có phải vì con có một ngã tiềm thức nào đó mang tham vọng thấy cộng đồng hay phong trào của con tăng trưởng hay thấy một kết quả vật lý nào đó, vì ngã sẽ cảm thấy được xác chứng nếu càng ngày càng có nhiều người tham gia. Hoặc con mong muốn có chân lý Ki-tô tối hậu có thể thuyết phục tất cả mọi người, thức tỉnh tất cả mọi người và do đó khi con không thấy kết quả mọi người liên tục sáng ngộ, con cảm thấy chắc hẳn con đang làm điều gì sai?

Con thấy đấy, tất cả những gì con làm được là cho con người một cơ hội, con không chọn lựa cho họ được. Giê-du dùng ẩn dụ về người gieo hạt, một số hạt rơi trên đất cằn cỗi và không trổ, một số hạt khác bắt đầu mọc lên nhưng bị cỏ dại lấn át và một số rơi vào đất màu mỡ và mang lại lợi nhuận. Con làm gì khi con bắt đầu biểu hiện quả vị Ki-tô? Con cho con người một cơ hội. Con gieo hạt giống. Sau đó, con cần trả tự do cho các hạt giống và trả tự do cho con người muốn làm gì với các hạt giống đó.

Họ có tiếp nhận hạt giống không? Họ có nuôi nó trong tim họ và cho phép nó mọc và tăng triển? Hay tim họ là mảnh đất cằn nơi hạt Ki-tô không thể mọc được? À đấy không phải là chọn lựa của con vậy thì tại sao con căng thẳng về phản ứng của người khác? Một lần nữa, nếu con hòa điệu với Ki-tô thì con thấy Ki-tô chỉ muốn biểu đạt. Ki-tô không muốn biểu đạt để tạo một kết quả vật lý đặc thù, một kết quả đặc thù. Tâm vỏ ngoài của con có thể đặt nhiều chú tâm vào chuyện: À, chúng ta có nhóm tâm linh này và chúng ta muốn nó phát triển để nó càng ngày càng lớn hơn nhưng giờ đây chúng ta không thấy có sự tăng triển. Chúng ta đang làm gì sai? Chúng ta có thể làm gì khác? Con có thể bị căng thẳng về chuyện này, như các thày đã thấy có những người bị căng thẳng vì lý do này, không chỉ trong các phong trào chân sư thăng thiên nhưng trong nhiều phong trào tâm linh.

11.9. Bị căng thẳng vì kết quả bên ngoài

Con thấy đấy, Ki-tô không nghĩ như vậy. Ki-tô không đi tìm một kết quả bên ngoài đặc thù. Ki-tô chỉ muốn được biểu hiện và bất cứ gì con đã làm, bất cứ gì con đang làm trong nhóm tâm linh là con đang biểu hiện Ki-tô, ánh sáng Ki-tô. Đây là một trong những bí ẩn trên con đường tâm linh đã khiến nhiều người thất vọng, nhưng con chỉ thất vọng khi con chú tâm vào một kết quả vật lý đặc thù bên ngoài. Con thấy chăng, các con đang làm gì trong nhóm các con ở Hàn quốc? Các con đang biểu hiện ánh sáng Ki-tô và con có thể nói: “Chúng ta có thấy một kết quả đặc thù nào chưa? Bắc Hàn và Nam Hàn đã thống nhất chưa? Hai bên có tiền gần hơn tới thống nhất chăng? À, chúng ta chưa thấy dấu hiệu gì trong cõi vật lý. Nhóm chúng ta có phát triển nhiều như chúng ta mong muốn chăng?” Con thấy chăng, tâm Ki-tô không nhìn vào những kết quả đặc thù này. Tâm Ki-tô nhìn vào: Các con có gia tăng ánh sáng trong thể bản sắc, lý trí, tình cảm và vật lý của Hàn quốc và người dân Hàn không? Câu trả lời là: Có, các con có gia tăng ánh sáng và sự gia tăng ánh sáng này đã đem lại kết quả rồi và sẽ tiếp tục đem lại thêm kết quả. Có thể không phải là những kết quả đặc thù mà các con hy vọng, hay ít nhất chúng chưa xảy ra nhưng các con đừng vì vậy mà nản chí.

Thay vào đó, con sẵn lòng nhìn vào: “Chờ mong kết quả đặc thù của tôi đến từ đâu? Có thể chăng nó chịu ảnh hưởng của các ngã tiềm thức, bởi mong muốn của tự ngã muốn đạt điều gì đó trên thế gian này? Có thể chăng đó là vì sao tôi căng thẳng thay vì tuôn chảy với niềm vui nhận ra chúng tôi đã là cánh cửa mở cho biểu hiện của ánh sáng Ki-tô? Điều này đã đem lại kết quả và sẽ đem lại thêm kết quả, bất kể chúng tôi thấy hay không thấy kết quả trong cõi vật lý.”

Khi con hòa điệu với ánh sáng Ki-tô thì kết quả vật lý không quan trọng. Con nắm bắt chăng điều thày nói ở đây? Tự ngã nghĩ, các ngã tiềm thức nghĩ: “À, tôi muốn được toại nguyện, tôi muốn cảm thấy tôi đã làm được việc gì, tôi muốn cảm thấy tôi đã đóng góp điều gì và khi thấy những kết quả vật lý bên ngoài, tôi sẽ cảm thấy như vậy.” Điều thày nói với con là chìa khóa để con cảm thấy mãn nguyện là hòa điệu với ánh sáng Ki-tô và Ki-tô được thỏa nguyện khi được biểu hiện trong thế gian này, không phải là tạo ra những kết quả vật lý đặc thù. Khi con hòa điệu với ánh sáng Ki-tô, cảm thấy nó tuôn chảy qua con thì con khắc phục được căng thẳng và con có thể cảm thấy mãn nguyện khi con là cánh cửa mở.

Con có thể nhìn người sứ giả này, ông khởi sự năm 2002. Có bao nhiêu người đã tìm thấy giáo lý? Người đến người đi nhưng ông có nản lòng không? Không, vì ông cảm thấy sự biểu hiện giáo lý, sự biểu đạt ánh sáng, tự thân nó mang lại phần thưởng. Mãn nguyện đến từ bên trong. Con hãy suy ngẫm câu này. Con tìm gì? Mãn nguyện. Nó là gì? Đó là một cảm xúc bên trong, một cảm giác bên trong, một trải nghiệm bên trong. Trải nghiệm bên trong có thể đến từ đâu, nếu không phải là từ bên trong? Bên trong có gì? Có Vương quốc Thượng đế. Vương quốc Thượng đế là gì? Là tâm Ki-tô chỉ muốn tuôn chảy và được biểu hiện. Chẳng phải con đã làm vậy sao? Có, con đã làm vậy. Tại sao con không cho phép mình cảm nhận niềm vui và mãn nguyện và phần thưởng đã biểu hiện ánh sáng Ki-tô qua con? Con còn muốn gì hơn nữa? Có thể con muốn biểu hiện hơn nữa ánh sáng Ki-tô, nhưng con có thật sự cần thấy kết quả bên ngoài để cảm thấy mãn nguyện chăng?

Với điều này thày chào các con với lòng cảm ơn các con không những đã tổ chức hội nghị này mà còn tất cả các việc các con đã làm ở Hàn quốc và tất cả các việc mà các đệ tử toàn thế giới đã làm. Rất nhiều các con ở nhiều nơi trên thế giới có thể cũng cảm thấy: Chúng tôi có thật sự tạo nên thay đổi gì không? Có, các con đã tạo ra thay đổi. Nhiều người tâm linh khác cũng đã tạo ra thay đổi. Nhiều người không tự nhận là người tâm linh cũng đã đem lại thay đổi bằng cách cho phép ánh sáng Ki-tô được phần nào biểu hiện, bởi vì mỗi sự biểu hiện gia tăng lượng ánh sáng trong bốn tầng của vũ trụ vật chất trên Trái đất. Ánh sáng càng gia tăng, thì con người càng thấy rõ hơn, càng thức tỉnh hơn. Tất cả những chuyện này đều đóng góp vào sự biểu hiện Thời đại Hoàng kim của Saint Germain.

Thày hy vọng đã cho các con cơ hội khắc phục căng thẳng và đạt được cảm giác mãn nguyện và hỷ lạc nội tâm. THÀY LÀ Portia.

9 | Ki-tô luôn luôn Hơn Nữa

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên MORE qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên MORE, và thày lúc nào cũng LÀ HƠN NỮA.

Cốt lõi của Ki-tô là gì? Ki-tô luôn luôn hơn nữa. Trong mọi tình huống trên Trái đất, bất kể con giáp mặt chuyện gì, câu hỏi luôn luôn là: “Tôi có muốn hơn nữa chăng, hay tôi muốn tuân theo cái hiện hành?” Lúc nào ông hoàng thế gian, ác quỷ của Mara, cũng cám dỗ con tuân theo cái hiện hành.

Thông điệp vi tế là: “Cái hiện hành không thể hơn nữa, không được hơn nữa, không cần hơn nữa. Không thể nào có gì hơn cái hiện hành.” Thậm chí con thấy có người tuyên dương điều này, họ nói: “À, cái hiện hành là cái hiện hành, và không có lý do nào để tìm cách hơn nữa. Bạn giản dị phải chấp nhận cái hiện hành, và khi ấy bạn được tự do, bạn tỉnh thức. Bạn giác ngộ khi bạn không cố gắng trở nên hơn nữa.” Ấy con yêu dấu, câu nói bậy bạ này từ đâu ra? Chắc chắn là không đến từ tâm thày, và chắc chắn không đến từ tâm Ki-tô.

9.1. Tâm Ki-tô và mục đích của sự sáng tạo

Chức năng của tâm Ki-tô là gì? Con có thể trả lời: “Để kết hợp đấng Sáng tạo với tạo vật của ngài.” Đúng đấy, nhưng không phải chỉ có thế, còn hơn nữa. Bởi vì mục đích của đấng Sáng tạo là gì khi ngài tạo ra tạo vật của ngài, khi ngài tạo ra thế giới hình tướng? Đó là để gửi các nối dài của ngài, của Bản thể của ngài, vào thế giới hình tướng, nơi các nối dài này sẽ bắt đầu với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm, và dần dần nới rộng nó ra bằng cách trở nên hơn nữa. Mục đích của tiến trình này là gì? Để kéo các đốm lửa đó, các đốm lửa tâm linh phát xuất từ Bản thể đấng Sáng tạo, không hẳn là trở về bản thể đấng Sáng tạo, mà là kéo chúng về hướng tâm thức đấng Sáng tạo, để chúng có đủ khả năng tự thân trở thành các đấng sáng tạo.  

Một đốm lửa với một ý niệm bản ngã nhỏ như cái chấm cần làm gì để đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo? Nó cần cố gắng trở nên hơn nữa, và hơn thêm nữa, và hơn thêm nữa, và tiếp tục cố gắng trở nên hơn nữa, cho tới khi nó đạt tới trình độ tâm thức đấng Sáng tạo. Lúc đó vẫn còn cái hơn nữa, nhưng điểm đó quá xa chúng ta nên đây không phải là điều mà con hoặc thày cần quan tâm lúc này.

Giờ đây, con thấy điều mà các thày đã nói: đây là tâm Ki-tô. Trong mọi tình huống mà tâm Ki-tô có một hé mở để biểu hiện, thì nó tìm cách làm gì? Như thày Quan Âm đã giải thích cặn kẽ, nó không tìm cách khiến một người này đúng, người kia sai, một lập luận đúng, một ý thức hệ đúng, một tôn giáo đúng. Không đâu. Nó tìm cách chỉ cho mọi người thấy là trong mọi tình huống trên Trái đất có cái hơn nữa, và khi con với lên cái hơn nữa thì con có thể thăng vượt cái hiện hành, vì lẽ tất nhiên Trái đất là một hành tinh phi tự nhiên.

9.2. Làm sao thoát khổ đau

Vì sao có khổ đau trên Trái đất? Vì có tâm thức nhị nguyên. Khi con đến và nói: “Cái hiện hành là cái hiện hành, và nó không thể hơn nữa,” thì con thực sự đang nói gì? Con đang nói là Trái đất sẽ không bao giờ thoát khổ đau. Lẽ tất nhiên, đây là giấc mơ của sa nhân. Họ có thể biến một hành tinh thành một hành tinh phi tự nhiên, và không có gì có thể giải thoát hành tinh đó. Một khi hành tinh tới điểm đó thì nó bị giam ở đó mãi mãi, và sa nhân có thể thống trị hành tinh và vắt sữa năng lượng của các cư dân. Đây là tâm thức sa ngã. Nó muốn dìm một hành tinh xuống dưới mức hành tinh tự nhiên và giữ hành tinh đó ở đó mãi mãi.

Cái duy nhất có thể ngăn cản ý đồ này là gì? Đó là tâm Ki-tô, nhưng nó làm việc này bằng cách nào? Bằng cách lúc nào cũng chứng tỏ là có cái gì hơn cái hiện hành. Nếu cái hiện hành không thể trở nên hơn nữa, thì đâu là tiềm năng giải thoát khỏi khổ đau mà đức Phật đã nói đến, Giê-su đã nói đến, và nhiều truyền thống tâm linh và thần bí đã nói đến?

Mục đích của một trạng thái tâm thức cao hơn là gì nếu không phải là để thoát khỏi khổ đau? Con hãy nhìn các đạo sư giả đang khoe món hàng của họ và nói: “Ồ, bạn phải đến mức bạn chỉ chấp nhận cái hiện hành.” Ý tưởng này từ đâu đến? À, nó đến từ các truyền thống mà các đạo sự giả đã dựng lên, đặc biệt là bên phương Đông, dạy rằng: “Chỉ có Brahman là có thực, thế giới là một ảo tưởng. Phát triển tâm linh là tới điểm thăng vượt mọi ý niệm bản ngã, và chấp nhận cái hiện hành, chấp nhận các điều kiện như chúng đang là trên Trái đất, không cố gắng cải thiện chúng, không tìm cách cho chúng tốt hơn, mà chỉ chấp nhận cái hiện hành.” Khi làm thế thì họ nói con sẽ tỉnh thức và giác ngộ.

9.3. Chấp nhận cái hiện hành là một lời gian dối

À con yêu dấu, nếu đó là định nghĩa của tỉnh thức, thì thày không tỉnh thức. Nếu đó là định nghĩa của giác ngộ, thì thày không giác ngộ. Nhưng thày là một chân sư thăng thiên, do đó thày vượt quá những gì người phàm định nghĩa là tỉnh thức và giác ngộ, vì thày hơn bất cứ định nghĩa nào có thể được đề ra trên Trái đất.

Như thày có nói, quan điểm cho rằng con phải chấp nhận cái hiện hành như nó là và không cố gắng hơn nữa, chính là chối bỏ mục đích của sự sống. Trong truyền thống Đông phương, câu hỏi này thường không được đặt ra. Nếu Brahman, đấng không phân biệt, là tất cả những gì hiện hữu trước khi có thế giới hình tướng, thì như vậy có nghĩa là Brahman đã quyết định tạo ra thế giới, và Brahman phải tạo ra thế giới từ chính ngài, vì lúc đó đâu có gì khác? Điều này phải có nghĩa là Brahman có một mục đích khi tạo ra thế giới. Quá nhiều lần nơi phương Đông câu hỏi này không được nêu ra, vì con người bị kẹt trong ý tưởng cho rằng mục đích tối hậu của phát triển tâm linh là trở về với Brahman, đấng không phân biệt, nơi đó cái ta không còn hiện hữu.

Tại sao cái ta được tạo ra? Nó được tạo ra để trở nên hơn nữa. Tại sao thế giới được tạo ra? Nó được tạo ra từ mong muốn trở nên hơn nữa của Brahman, của đấng Sáng tạo. Mong muốn trở nên hơn nữa là động lực thúc đẩy, không những của riêng thế giới hình tướng này, mà của vô số thế giới hình tướng, nhiều hơn bất cứ gì con có thể nắm bắt, thậm chí nhiều hơn những gì thày, là một chân sư thăng thiên, có thể nắm bắt.

Ít nhất thày có thể thấy những gì thày không thể nắm bắt, và đây là tiến bộ so với sa nhân lúc nào cũng nghĩ họ có thể hình dung, nắm bắt và quy định mọi chuyện. Họ đã làm gì? Họ đã quy định một giáo lý hoàn toàn hư giả, và họ đã phóng chiếu đó là hiểu biết tâm linh tối hậu, giáo lý tâm linh tối hậu. Chức năng của Ki-tô là gì? Đó là cho thấy đó không phải là giáo lý tâm linh tối hậu vì có gì hơn nữa để hiểu, để nắm bắt, để trải nghiệm.

Mục đích của Ki-tô luôn luôn là thế: là cho thấy có cái hơn nữa. Điểm này không giản dị và không dễ nắm bắt. Qua rất rất nhiều năm trao truyền giáo lý về quả vị Ki-tô, các thày đã thấy biết bao đệ tử đã tới học, đã hiểu là có khái niệm gọi là quả vị Ki-tô, nhưng họ nghĩ nó có nghĩa đạt một trạng thái tối hậu. Thậm chí một số nghĩ thăng thiên là đạt một trạng thái tối hậu. Sự thực là tâm Ki-tô không bao giờ có mục đích quy định hay chứng minh một chân lý tối hậu. Tâm Ki-tô chỉ có mục đích duy nhất là chứng minh có cái gì hơn nữa trong mọi hoàn cảnh.

9.4. Ki-tô không tìm cách chứng minh bất cứ điều gì trên trái đất

Con thấy điều thày giảng nối liền với điều thày Quan Âm giảng về mong muốn mình đúng, bằng cách có một bằng chứng tối hậu là luận cứ của mình cao trội, ý tưởng của mình cao nhất, giáo lý của mình cao nhất. Sự thực là Ki-tô không có mục đích chứng minh bất cứ gì trên trái đất. Mục đích của Ki-tô là luôn luôn cho thấy có cái hơn nữa. Con hãy lấy trường hợp có xung đột cá nhân giữa hai người. Mỗi người đều muốn mình đúng, muốn tự ngã của mình được chứng minh nó đúng một cách tối hậu, và trong tâm của tự ngã thì điều này có nghĩa là phải chứng minh người kia sai.  

Cả hai người đều làm gì? Họ đi vào tâm thái tìm cách chứng minh người kia sai để chứng minh mình đúng. Ki-tô muốn làm gì? Nó không muốn chứng minh bất cứ người nào sai hay hạ thấp bất cứ ai. Ki-tô muốn nâng cả hai lên. Nếu cả hai bên đều muốn hạ thấp người kia xuống, thì làm sao họ có thể mở lòng để Ki-tô biểu hiện chính nó qua họ? Một trong những điều đáng buồn nhất mà con có thể thấy trên con đường tâm linh là thấy hai người tin rằng họ đã đạt một trình độ quả vị Ki-tô nào đó, nhưng nay vì một xung đột phát xuất từ một điều gì đó chưa giải quyết trong tâm lý, các ngã tiềm thức, họ muốn chứng minh người kia sai, mỗi người đều muốn chứng minh người kia sai. Họ nghĩ việc họ được chứng minh mình đúng có tầm quan trọng vĩ đại, vì nếu không sẽ có nhiều chuyện tệ hại sẽ xảy ra, liên quan đến chính họ hay phong trào tâm linh của họ hay bất cứ gì khác.

Giải pháp duy nhất là gì? À, giải pháp tối hậu là cả hai tới điểm nhận ra: tôi muốn trở nên hơn nữa. Nhưng ít nhất nếu con nhận ra điều đó thì con có thể giải thoát mình khỏi mối xung đột không bao giờ dứt, không cách nào giải quyết này. Con thấy chăng, nếu con muốn chứng minh người kia sai thì con không thể hơn nữa, vì con đang muốn đạt một điều gì trong thế gian, và hơn nữa có nghĩa là với lên cái gì vượt quá thế gian. Lẽ tất nhiên, tự ngã không thể hiểu điều này, sa nhân không thể hiểu điều này, vì họ muốn đạt một trạng thái tối hậu trong thế gian bằng cách dùng những phương tiện của thế gian. Đây là câu chuyện tháp Babel, xây dựng một tòa tháp vươn tới thiên đàng bằng những phương tiện của trần gian.

Chuyện gì sẽ xảy ra? Tòa tháp sẽ sụp đổ dưới sức nặng của chính nó, và với một số người, chỉ có một sự sụp đổ như vậy mới có thể thức tỉnh họ để một lần nữa với lên cái hơn nữa. Không phải ai cũng phải trải qua tiến trình này, vì có nhiều người có tiềm năng thấy sự phù phiếm, sự hời hợt  của việc đó.

9.5. Quả vị Ki-tô và việc biểu hiện uy lực

Một trong những biểu hiện của quả vị Ki-tô mà thày muốn đề cập đến là uy lực, lẽ tất nhiên là một đặc tính của Tia thứ Nhất, ít nhất là theo các lối giải thích truyền thống. Cách biểu hiện uy lực lớn nhất là gì? Đó là con muốn hơn nữa, và con tìm cách nâng tất cả mọi người và mọi chuyện lên và trở nên hơn nữa. Đây là uy lực, uy lực thực sự.

Trên trái đất, con thấy uy lực được biểu hiện như thế nào? À, rất nhiều khi đó là một người muốn đạt được một địa vị tối hậu giúp y có uy lực tuyệt đối trên người khác, và sau đó y muốn duy trì điạ vị đó mãi mãi. Tỷ dụ, con thấy một công ty chế ra một sản phẩm mới đầy tính chất sáng tạo, và trong một khoảng thời gian công ty đó phát triển, có nhiều sáng kiến, tìm ra giải pháp mới. Sau đó công ty đó chiếm được một phần thị trường, cũng có thể chiếm lĩnh thị trường vì họ tạo ra một thị trường mới. Bỗng nhiên có một sự xoay chuyển bắt đầu xảy ra. Giờ đây họ quan tâm nhiều hơn đến việc duy trì phần thị trường của họ bằng cách loại bỏ các nhóm cạnh tranh, thay vì bằng cách tiến hơn nữa, tìm cách đi nhanh hơn các nhóm cạnh tranh bằng cách luôn luôn với lên cái hơn nữa. Con thấy các lãnh tụ thế gian một thời tìm cách càng ngày càng có thêm nhiều quyền lực, nhiều khi bằng cách tuyên bố là họ làm điều gì tốt, họ đang đẩy mạnh một chính nghĩa tối hậu nào đó, nhưng rồi rốt cuộc họ có được quyền lực nào đó mà họ coi là đủ, và họ trở nên quan tâm với việc duy trì quyền lực đó.

Do đó, họ không còn cố gắng hơn nữa trong thế gian này, họ cố gắng duy trì tình trạng hiện hành, duy trì cái hiện hành, thay vì trở nên hơn nữa. Lẽ tất nhiên, đây là lúc định luật thứ nhì của nhiệt động học bắt đầu ứng dụng và phá hủy các cấu trúc mà họ đã dựng lên để rốt cuộc chúng hủy hoại trở về hư không. Có khác biệt căn bản giữa việc tìm cái càng ngày càng hơn nữa trong thế gian, tìm cách đạt hơn nữa theo chiều ngang, và cố gắng đạt cái hơn nữa theo chiều dọc bằng cách luôn luôn vượt quá thế gian này.

Các thày đã thấy có đệ tử tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên, hay nghe đến quả vị Ki-tô, và nghĩ: “À, đạt quả vị Ki-tô là cách để đạt quyền năng tối hậu. Ồ, khi ta đạt quả vị Ki-tô, thì ta có thể làm phép lạ chứng minh giá trị của giáo lý tâm linh của ta, sẽ chứng mình ta là đệ tử tâm linh cao trội có khả năng dùng tâm làm chủ vật chất.” Họ nghĩ Ki-tô có uy quyền vô biên trên trái đất và có khả năng dùng tâm làm chủ vật chất. Nhiều khi, họ nhìn những phép lạ mà Giê-su đã làm như bằng chứng xác chứng điều này, nhưng họ quên tự đặt cho mình một câu hỏi giản dị.

9.6. Ki-tô biết khi nào không biểu hiện uy lực

Nếu Giê-su có thể đi trên nước, dẹp yên cơn bão, biến nước thành rượu, khiến người chết sống lại, chữa lành người bệnh, thì tại sao thày lại để bị đóng đinh trên thập tự? Tại sao thày không gọi binh đoàn thiên thần, như thày nói, để giải thoát thày khỏi thập tự? À, đây là một câu hỏi mà tự ngã sẽ không bao giờ đặt ra, và tại sao nó lại phải đặt ra khi dù sao nó cũng không tìm ra câu trả lời? Con có thể đặt câu hỏi, vì con có thể tìm ra câu trả lời, cái Ta Biết có thể tìm ra câu trả lời. Câu trả lời chính xác là: Ki-tô không tìm cách biểu hiện một trạng thái tối hậu nào, ngay cả vương quốc Thượng đế trên trái đất. Ki-tô luôn luôn tìm cách chỉ về hướng hơn nữa, hơn cái đang hiện hành, hơn những gì con người có thể hình dung, hơn những gì con người có thể tưởng tượng, bởi vì khả năng tưởng tượng của quá nhiều người đã bị giam trong hộp tư duy do hiện trạng tạo ra.

Trên một hành tinh phi tự nhiên, mọi chuyện đều bị giới hạn bởi tâm thức nhị nguyên. Đâu là cách duy nhất để thăng vượt trạng thái phi tự nhiên và mang hành tinh trở về trạng thái tự nhiên? Đó là với lên cái hơn nữa, và điều này có nghĩa là với lên tâm Ki-tô. Các thày có nói là khi con đi vào nhị nguyên thì con không thể tự mình ra khỏi nhị nguyên bàng cách dùng tâm duy lý, tâm suy luận.

À, con cũng không thể đem một hành tinh từ trạng thái phi tự nhiên sang trạng thái tự nhiên bằng tâm duy lý. Con chỉ có thể làm được bằng cách dùng tâm Ki-tô, hay đúng hơn là không tìm cách dùng tâm Ki-tô mà cho phép nó biểu hiện chính nó xuyên qua con, vì con đã trở thành cánh cửa mở cho cái luôn luôn hơn nữa. Các thày đã thấy một số đệ tử chân sư thăng thiên có đủ loại ước mơ, đủ loại mộng tưởng là một ngày kia các chân sư thăng thiên sẽ xuất hiện như một biểu hiện không thể chối cãi, sẽ chứng tỏ là các đệ tử đó đúng và họ là các người tiên phong giống như các tông đồ Giê-su khi xưa. Nhiều đệ tử thuộc tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (The Summit Lighthouse) đã nghĩ như vậy, nghĩ rằng vị sứ giả của tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh sẽ một ngày kia thăng thiên một cách vật lý, trông thấy được, không thể chối cãi, hay sẽ có thăng thiên tập thể từ sườn đồi, hay các chân sư thăng thiên sẽ xuất hiện dưới một biểu hiện trông thấy được, không thể chối cãi. Chuyện gì đã xảy ra cho họ khi vị sứ giả mang bệnh và rốt cuộc mất đi không kèn không trống? Ấy, chuyện xảy ra cho họ giống như chuyện đã xảy ra cho các đệ tử Giê-su khi thày chết trên cây thập tự.

9.7. Mộng tưởng có uy quyền trên trái đất

Các đệ tử của Giê-su cũng đã có cùng những tưởng tượng, mộng tưởng là bằng cách nào đó Giê-su sẽ trở lại và xác chứng họ. Vì sao các mộng tưởng này không thành hình? Bởi vì chúng dựa trên tự ngã and mong muốn bất khả thi của tự ngã muốn đạt cái gì tối hậu trên trái đất, thay vì sẵn sàng với lên tâm Ki-tô. Đúng là các tông đồ của Giê-su đã nhận ra Ki-tô trong thày, nhưng họ không nhận ra Ki-tô trong chính họ. Nếu có một biểu hiện bên ngoài không thể chối cãi được, thì việc này sẽ chỉ xác chứng các mộng tưởng của họ, và đây là sự chối bỏ Ki-tô trong họ.

Các con hãy cẩn thận khi có mộng tưởng có quyền năng, hay người sứ giả này có quyền năng đặc biệt. Giê-su đã nói: “Có một thế hệ xấu ác và ngoại tình khao khát một chỉ dấu, nhưng sẽ không có chỉ dấu nào ban cho họ.” Tại sao? Vì nếu chỉ dấu được ban, thì nó sẽ xác chứng tư duy ngăn các người đó công nhận Ki-tô trong chính họ. Thấy người khác có nhiều ánh sáng Ki-tô tuôn chảy qua họ hơn mình là một thái độ thích đáng khi nó chỉ kéo dài một thời gian. Nếu con đi vào tâm thái tôn sùng và phóng chiếu là người đó vì lý do nào đó đặc biệt hơn chính mình, thì Ki-tô phải rút lui khỏi con để không củng cố quan niệm tôn sùng đó, thực sự là quan niệm tôn sùng chính mình như người không đặc biệt.

Đây là một biểu lộ của lòng kiêu mạn tâm linh vì con nghĩ con có thể hạ thấp mình so với người kia, và qua đó con hạ thấp Ki-tô trong chính mình, có thể bằng cách nâng Ki-tô trong người khác, tưởng tượng họ có một quyền năng nào đó, nghĩ rằng, ồ người đó sẽ không bao giờ bị bệnh chẳng hạn. Con thấy chăng, khi con ở trong một thân thể vật lý thì thân thể vật lý chịu những điều kiện trên trái đất. Đức Phật chết vì nguyên do vật lý, Giê-su chết vì nguyên do vật lý, tất cả chúng ta đều đã chết vì nguyên do vật lý.

Thách thức là tới điểm ngưng tìm cách đạt một địa vị tối hậu, một trạng thái tối hậu trên trái đất, một trạng thái tối hậu trong vật chất nhưng cố gắng chấp nhận là Ki-tô đã sinh trong con. Con nuôi dưỡng và hướng dẫn em bé Ki-tô đó, và con sẵn lòng cho phép nó trưởng thành và bắt đầu biểu lộ chính nó qua con.

Một trong những tưởng tượng thông thường nhất của những người bắt đầu nghe về quả vị Ki-tô là Ki-tô không bao giờ sai lầm. Nếu con là Ki-tô thì con không thể nào sai. Con thấy chăng, đây lại là tự ngã trong cuộc tìm cầu bất khả thi một địa vị tối hậu trong thế gian này. Khái niệm luôn luôn đúng và không bao giờ sai đến từ đâu? Nó chỉ có thể đến từ trạng thái nhị nguyên lúc nào cũng quy định hai cực đối ngược nhau. Trong tâm Ki-tô không có các cực, đó là lý do vì sao Ki-tô là tâm tạo hợp nhất.

9.8. Tâm phản Ki-tô quy định tiêu chuẩn cho Ki-tô

Con có thấy chăng điều mà tâm phản Ki-tô đang phóng chiếu tới con? Nó phóng chiếu là biểu hiện của Ki-tô phải tuân theo tiêu chuẩn được quy định trong thế gian này. Các thày đã nói gì từ nhiều góc nhìn khác nhau? Biểu hiện của Ki-tô sẽ không bao giờ tuân theo tiêu chuẩn do tâm thức nhị nguyên quy định. Vì nếu như vậy thì nó sẽ xác chứng tiêu chuẩn đó trong khi vai trò của nó là đến đây để thách thức tiêu chuẩn đó. Trong tâm Ki-tô không có đúng sai. Các thày thường thấy đệ tử tìm cách quy định một tiêu chuẩn thế nào là Ki-tô, thế nào là biểu hiện Ki-tô nơi mình. Lúc đó con từ chối không để Ki-tô biểu lộ chính nó xuyên qua con trong những tình huống mà con nghĩ không xứng đáng theo định nghĩa của con. Con thấy chăng, sẽ có một điểm trên con đường tu khi, để có thể tiến lên tầng kế tiếp, con cần cho phép Ki-tô biểu hiện chính nó, bất kể nó muốn biểu hiện như thế nào. Con cần ngưng dùng tâm vỏ ngoài để thẩm định: Ồ, làm thế này đúng hay sai? Làm thế này có tạo kết quả mà tôi nghĩ Ki-tô phải tạo ra? Nếu không thì việc làm ấy phải sai, vì chắc hẳn là Ki-tô phải có khả năng đạt bất cứ kết quả nào trong thế gian này.

Các thày đã giảng những gì? Không, Ki-tô không thể đạt bất cứ kết quả gì trong thế gian này. Ki-tô sẽ không phải lúc nào cũng đúng. Ki-tô không thể giải quyết bất cứ mọi xung đột. Ki-tô không thể đưa ra luận cứ tối hậu sẽ giải quyết mọi tranh chấp. Ki-tô có thể và sẽ làm một chuyện duy nhất là chỉ con về hướng hơn nữa, về hướng vượt thăng trạng thái tâm hiện thời đang giam con vào suy nghĩ cho rằng vật chất quan trọng, điều kiện như chúng đang là có ảnh hưởng trên con là một sinh thể tâm linh. Điều gì trên trái đất có thể ảnh hưởng con, có thể quy định con? Không có điều kiện bên ngoài nào có thể quy định con. Cái gì quy định con? Đó là các điều kiện bên trong, các ngã tiềm thức. Tại sao chúng quy định con? Vì con không dám để chúng chết đi, rời bỏ chúng, nhận ra chúng không quan trọng – để với lên tâm Ki-tô.

9.9. Không có chọn lựa nào quy định con mãi mãi

Người sứ giả này một hôm gần đây xem một chương trình TV trong đó có cảnh một người rất bức xúc vì một chuyện không mấy quan trọng. Cô ấy trách mình là đáng lẽ cô phải ngăn được việc đó xảy ra và cô mô tả là cô rất đau khổ, cô cảm thấy gánh nặng toàn thế giới đè nặng lên vai cô, như thể toàn thế giới đang nhìn cô và lỗi lầm mà cô đã phạm, mà cô nghĩ cô đã phạm. Khi người sứ giả nhìn cảnh này thì ông bị ném ngược về lúc ông còn niên thiếu, khi ông nghĩ ông đã phạm một lỗi lầm và tự làm mình xấu hổ. Ông lúc đó nghĩ là gánh nặng toàn thế giới đang đè nặng lên vai ông, toàn thế giới đang đứng lại, ngưng việc họ đang làm, nhìn ông và nói: “Ồ, hãy nhìn lỗi lầm mà em này đã phạm, lỗi lầm này không thể nào xóa gỡ được.”

Bao nhiêu người trong các con đã nhận ra cảm giác này trong chính mình? Con thấy chăng, đó hoàn toàn chỉ là ngã tiềm thức. Cảm giác đó không có thực, ngoài thực tại mà con cho nó vì con nghĩ nó quy định con. Con nghĩ một chọn lựa mà con đã lấy trong quá khứ có thể quy định con mãi mãi. Đó là điều sa nhân muốn con tin: rằng khi con bị chấn thương nhập đời không biết bao nhiêu kiếp trước rồi, con đã phạm một lỗi lầm sẽ quy định con khi con còn sống trên trái đất.

Làm sao thày thăng thiên? Con có nghĩ là thày không bao giờ phạm lỗi lầm trên Trái đất chăng? Không đâu. Thày thăng thiên khi thày tới điểm nhận ra rằng bất cứ chọn lựa nào mà thày đã lấy trong quá khứ không quy định được thày như một sinh thể tâm linh. Do đó, thay vì tìm cách giải thích, tìm lý do biện hộ, đền bù, tháo gỡ, làm việc tốt thay vào các lỗi lầm đó, thày chỉ giản dị bỏ chúng lại đằng sau. Thày bỏ lại đằng sau các ngã phóng chiếu là những chuyện đó quan trọng. Làm sao con bỏ lại đằng sau cảm nhận một chuyện gì đó trong vật chất có tầm quan trọng? Bằng cách nhận ra có cái gì quan trọng hơn, và cái đó là gì? Đó là tâm Ki-tô. Con đi cùng với Ki-tô vào Vương quốc Thượng đế, trong tâm con.

9.10. Đề nghị hướng dẫn của Chân sư MORE

Thày còn có thể nói thật nhiều hơn nữa. Thày ước có thể mời mỗi người trong các con đi vào một căn phòng, mời con ngồi xuống và trước tiên hết cho con thấy tình thương mà thày dành cho mỗi người trong các con. Thày ước con mở lòng trải nghiệm tình thương đó. Sau đó, thày ước thày có thể chỉ cho con thấy trở ngại lớn nhất đang kiềm giữ con lại. Nhưng con thấy chăng, thày quả thực có thể làm điều này. Câu hỏi là: Liệu con có cho phép thày làm chăng? Vì thày có thể làm chuyện này cho riêng từng người trong các con – bất cứ ai sẽ nghe hay đọc bài truyền đọc này. Thày không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Thày có thể ở bên con, nhưng con có nghe thấy thày chăng hay con sẽ phóng chiếu lên thày là các tương tác giữa thày và con phải như thế nào, thay vì chỉ với lên cái hơn nữa?

Đó là câu hỏi. Thày chỉ có thể cống hiến sự giúp đỡ của thày. Thày gợi ý là để bắt đầu, con có thể đọc đoạn điệp khúc của bài chú của thày như các con đã đọc trước bài truyền đọc này, con đọc bao nhiêu lần cũng được tùy thời gian con có. Con có thể đọc hoặc nghe ít nhất là một phần của bài truyền đọc này, sau đó con lấy một quyển vở, một cây bút, con hòa điệu với Sinh thể của thày, và con ghi ra bất cứ gì qua đầu con. Con đừng suy nghĩ, đừng phân tích, như các thày đã nói trước đây. Con hãy chỉ ghi ra và để cho mọi chuyện tuôn chảy cho tới khi con  cảm thấy dòng chảy chấm dứt. Kết quả có thể chỉ là một câu vì đây là tất cả những gì con cần suy ngẫm chung quanh trở ngại đang kiềm giữ con, hay có thể dài hơn khi chúng ta đi sâu thêm vào tiến trình này.

Tới đây thì thày hầu như đã hoàn tất điều thày muốn trao truyền, nhưng còn thêm một điều nữa. Làm thế nào mà lại không có thêm một điều nữa? Thực sự là ta có thể nói là lúc nào cũng có thêm một điều nữa. Khi nào thì chấm dứt? Ấy, với thày thì không bao giờ chấm dứt. Nhưng với các con, đang sống trong không gian và thời gian, thì có giới hạn. Do đó, thày sẽ giới hạn vào một điều nữa mà thôi.

9.11. Vì sao El Morya đổi tên

Vì sao thày đổi tên từ El Morya sang Chân sư MORE? À, có nhiều lý do mà thày đã trình bày trước đây, nhưng lý do vi tế là những ai trong các con biết lịch sử các phong trào chân sư thăng thiên thì biết là thày Saint Germain đã bảo trợ Phong trào TA LÀ (I AM Movement). Sau khi đã rõ ràng là Phong trào TA LÀ không thể tiếp tục hoạt động với một người sứ giả được bảo trợ, thì thày Saint Germain nhận ra là thày đã đưa Phong trào TA LÀ và việc trao truyền giáo lý qua phong trào này tới điểm xa nhất có thể thực hiện trong hoàn cảnh trái đất lúc đó. Thày Saint Germain xin gặp Hội đồng Nghiệp quả để xin bảo trợ một phong trào khác, là tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (The Summit Lighthouse). Hội đồng Nghiệp quả không chấp nhận đề nghị này vì thày Saint Germain đã đầu tư quá nhiều ánh sáng của thày vào Phong trào TA LÀ và Hội đồng không muốn thày tốn thêm ánh sáng vào một phong trào khác, vì như vậy thày sẽ không còn đủ ánh sáng để làm công việc chủ tể Thời đại Bảo bình.

Câu chuyện được kể trong tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh là lúc đó thày đứng ra nhận lãnh trách nhiệm và thày có một viên kim cương trên trán tượng trưng cho thành đạt của thày, và thày phải đưa viên kim cương đó cho Hội đồng Nghiệp quả làm vật bảo đảm cho việc đứng ra bảo trợ tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh. Tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh đã kể câu chuyện này để tạo cảm giác khẩn thiết nơi các thành viên, cảm giác họ rất quan trọng, tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh rất quan trọng, chuyện họ vượt qua mọi thử thách rất quan trọng, như câu châm ngôn lúc đó là: “Chúc bạn vượt qua mọi thử thách.” Ý tưởng đưa ra là thày, El Morya, lúc nào cũng có mặt để thử thách các thành viên.

Giờ đây, như Mẹ Mary đã nói lúc đầu hội nghị, mọi chuyện có thể xem như một biểu tượng có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Ý nghĩa thâm sâu hơn là tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh được bảo trợ chính yếu để giúp những người chưa vượt qua các khai ngộ của thời Song Ngư, và cho họ một cơ hội cuối. Một số đông quả thực đã vượt qua khai ngộ này và đã tiến xa hơn, và một số khác thì không. Mọi chuyện luôn là như thế. Đến một lúc thì các thày không thể duy trì một người sứ giả được bảo trợ tại tổ chức Ngọn hải đăng trên Đỉnh và những người được trao cơ hội tiến lên nhận lãnh vai trò đó đã không muốn làm công việc đó. Do đó, chuyện các thày phải rút lui trở nên rõ ràng.

Thày chắc chắn phải rút lui khỏi phong trào Ngọn Hải đăng trên Đỉnh, và sau khi bỏ chút thì giờ suy ngẫm, thày quyết định là sẽ hiệu quả hơn nếu thày đổi tên, như một tín hiệu cho những ai muốn nghe là thày không những đã bỏ đi làm chuyện khác, mà thày đã trở nên HƠN NỮA. Như dự trù, cũng có những người đã nói: “Ồ, một chân sư thăng thiên không bao giờ thay đổi tên, do đó đây phải là một chân sư giả.” Hãy chấp nhận nó là thế. Vinh quang của thế gian rồi cũng qua đi. Vì khi con đạt quả vị Ki-tô, thì con cho mọi vinh quang của thế gian qua đi và bước vào sự huy hoàng của thế giới kế tiếp, như thày đã làm.

Một cái tên có nghĩa gì? Quả thực chỉ là như thế này: không ai có thể quy định Chân sư MORE. Trong tổ chức Ngọn Hải đăng trên Đỉnh, họ nghĩ họ đã quy định thày. Thày là một người kỷ luật khắt khe. Thày là người luôn luôn thử thách đệ tử, và với hầu hết đệ tử điều này có nghĩa họ không thể thấy tình thương vô điều kiện mà thày tỏa rạng. Điều gì đã đưa người sứ giả này vào con đường trở thành sứ giả? Đó là khi ông, trong một tình huống đặc thù mà ông đã kể lại, quyết định với lên hơn nữa, không bào chữa cho tự ngã, không tìm cách xác chứng nó và chứng minh mình đúng người khác sai, chỉ giản dị bỏ tất cả lại đằng sau và đi theo Ki-tô. Khi ông làm vậy thì ông trải nghiệm tình thương vô điều kiện mà thày trao cho tất cả đệ tử, nhưng họ không thể trải nghiệm khi chưa với lên cái cao hơn tâm vỏ ngoài, là tâm muốn nó đúng trong thế gian này. Do đó, có thể nói là vai trò sứ giả của vị sứ giả này chỉ dựa trên một điều, đó là với lên cái hơn nữa. Nếu con đang theo học giáo lý được trao truyền trong đợt truyền giáo này thì hiểu điều này sẽ mang lại lợi ích cho con, vì lẽ tất nhiên nó cũng áp dụng cho con. Nếu con muốn nhận lãnh trọn vẹn cơ hội mà giáo lý này cống hiến thì chìa khóa giản dị là: luôn luôn với lên cái hơn nữa.

Thày lúc nào cũng hơn nữa, nhưng điều này không có nghĩa là thày ngoài tầm với của các con. Các con có thể tiếp cận thày bất cứ lúc nào. Con thấy chăng, không phải là thày trên này và con ở dưới kia, và con chỉ có thể tiếp cận thày khi con vượt qua được khoảng cách. Không đâu, thày lúc nào cũng hơn nữa. Điều này không có nghĩa là thày lúc nào cũng đi lên cao hơn. Thày cũng đi xuống thấp hơn. Thày có khả năng tiếp cận càng ngày càng nhiều người, nhưng chỉ khi họ với lên cái gì hơn trạng thái tâm thức hiện hành của họ.

Có thể thày đã nói nhiều hơn là thêm một chuyện nữa, tuy nhiên thày hy vọng là con có thể nắm bắt thêm một chút cái hơn nữa mà thày là. Tới đây thì thày niêm các con trong tình thương vô điều kiện mà thày là, và với một tia sáng trong ánh mắt, thày nói: “Chúc con vượt mọi thử thách”. Làm sao con vượt qua thử thách? Giản dị lắm: luôn luôn với lên cái HƠN NỮA.

7 | Ki-tô sẽ không thắng mọi tranh luận

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Quan Âm qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Quan Âm. Điều thày muốn giảng hôm nay là một khía cạnh khác của cách mà tự ngã dùng quả vị Ki-tô để đạt một mục tiêu khác của tự ngã. Trong nhiều thập niên vừa qua khi các thày trao truyền trực tiếp giáo lý qua những đợt truyền giáo khác nhau, đã có nhiều, rất nhiều đệ tử tiếp cận khái niệm quả vị Ki-tô. Một cách vô ý thức, họ đã cho phép tự ngã phóng chiếu một hình ảnh vào tâm họ là khi họ có quả vị Ki-tô thì điều ấy có nghĩa là họ sẽ luôn luôn đúng. Con lúc nào cũng có thể thắng một cuộc tranh cãi bởi vì chắc chắn quả vị Ki-tô phải là sự thật tối hậu, thực tại tối hậu, và khi con có sự thật tối hậu, chắc chắn con sẽ luôn luôn đúng.

Đây là lối lý luận không đặc biệt đến từ đệ tử chân sư thăng thiên hay thậm chí đệ tử tâm linh. Nó quả thật đến từ sa nhân và tư duy rắn. Để hiểu điều này, chúng ta cần bước lùi lại và nhìn vào tư duy rắn.

7.1. Tự ngã tìm cách để mình đúng như thế nào

Như các thày đã giải thích rất cẩn thận, tự ngã tìm cầu điều bất khả thi là đạt được một trạng thái tối hậu bằng cách dùng những thứ của thế gian này. Khi thày nói những thứ của thế gian này, điều này có nghĩa gì trong bối cảnh đặc thù này? À nó thực sự có nghĩa tâm thức nhị nguyên. Tự ngã tìm cách đạt bất kỳ mục tiêu tối hậu nào mà nó đặt ra bằng cách dùng tâm thức nhị nguyên. Như các thày đã giải thích nhiều lần và người sứ giả này đã giải thích nhiều lần trong nhiều video YouTube của ông, tâm thức nhị nguyên có đặc tính này: luôn luôn có hai cực đối chọi nhau. Có nghĩa là khi tự ngã muốn nó đúng tối hậu thì nó đi về một đối cực. Nó thấy cực này là cực tối hậu và cực đối ngược cũng tối hậu nhưng tối hậu sai. Một cực đúng tối hậu: nó là sự thật. Cực kia sai tối hậu: nó là gian dối. Tuy thế, như các thày đã giải thích, trong tâm thức nhị nguyên, con quả thực có thể chứng minh cả hai đối cực đều đúng bởi vì con làm gì trong tâm thức nhị nguyên? Con thêm vào một phán xét giá trị và khi con thêm phán xét giá trị, thì có nghĩa là giờ đây con tạo một phin lọc. Con nói: “Cái này đúng tối hậu,” đấy là phán xét giá trị. Phin lọc con tạo ra là: bất kỳ luận cứ nào hỗ trợ quan điểm này đều có giá trị. Bất kỳ luận cứ nào chất vấn nó đều không giá trị.

Con thấy đấy, không thể tránh là sẽ có những người hành xử y như vậy với cực nhị nguyên kia và nói cực nhị nguyên kia đúng. Họ chỉ đơn giản thêm vào một phán xét giá trị và họ tạo ra phin lọc đối ngược cho rằng bất cứ gì xác chứng cực nhị nguyên này của họ đều đúng, bất cứ gì chất vấn nó đều sai. Một ví dụ lịch sử các thày đã từng dùng trước đây là: một số người nói chủ nghĩa tư bản là hệ thống kinh tế tối hậu. Mọi luận cứ hỗ trợ chủ nghĩa tư bản đều có giá trị, mọi luận cứ chất vấn nó đều không giá trị. Người khác nói chủ nghĩa cộng sản là hệ thống kinh tế tối hậu, là phán xét giá trị, do đó mọi luận cứ xác nhận nó là đúng, mọi luận cứ đến từ phe bên kia, từ phe tư bản, đều sai và do đó, bạn không cần để ý tới.

Khi con hiểu cách vận hành đó, thì con thấy được chăng chuyện gì xảy ra khi tự ngã của một người đang kẹt trong tư duy này nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô? Tự ngã người đó tin rằng: “À, khi tôi đạt quả vị Ki-tô, tôi sẽ đúng tối hậu.” Nghĩa là tự ngã tin Ki-tô sẽ xác chứng cực nhị nguyên mà tự ngã đã chọn là cái tối hậu. Do đó, Ki-tô sẽ không xác chứng hay sẽ loại trừ khỏi trái đất cực đối ngược và những người tin vào cực đối ngược đó.

7.2. Điểm trớ trêu của cách tự ngã nhìn Ki-tô

Con có bắt đầu thấy sự trớ trêu chăng? Tự ngã mắc kẹt trong tư duy nhị nguyên. Chức năng của Ki-tô là gì? Đó là giải thoát con người khỏi tư duy nhị nguyên, khỏi tách biệt. Bây giờ con người nghe đến khái niệm quả vị Ki-tô nhưng họ cho phép tự ngã phóng chiếu vào tâm họ là khi họ đạt quả vị Ki-tô, thì điều ấy có nghĩa là đối cực nhị nguyên của họ sẽ được tâm Ki-tô xác chứng là sự thật tối hậu.

Con hãy nhìn những tín đồ Cơ đốc chẳng hạn. Lẽ tất nhiên hầu hết người Cơ đốc không tin họ có thể đạt quả vị Ki-tô nhưng con sẽ thấy một số người đã mở tâm đón nhận ý tưởng những người không phải là Giê-su có thể đạt một trạng thái tâm thức cao. Họ nghĩ điều này có nghĩa là khi họ đạt quả vị Ki-tô thì Cơ đốc giáo sẽ được tâm Ki-tô xác chứng như tôn giáo tối hậu và mọi tôn giáo khác sẽ bị bác bỏ và bị tâm Ki-tô coi rẻ. Con có bắt đầu thấy được tại sao điều này không bao giờ có thể xảy ra?

Các con yêu dấu, con bắt đầu thấy được điều này không? Có hay không? Thày chỉ muốn con trả lời để giúp con tỉnh ngủ. Nếu con ngủ trở lại, thày sẽ hỏi nữa. Nhân tiện, đây là cách biểu hiện Ki-tô thích nghi với thực tại của bát cung vật lý. Con có thể thấy cách vận hành này trải bày như thế nào qua các thời đại trong nhiều bối cảnh khác nhau, trong nhiều truyền thống tâm linh khác nhau, khi con người gia nhập một truyền thống tâm linh. Có thể trước đó họ không thuộc một truyền thống tâm linh nào hay họ đã lớn lên trong một truyền thống tâm linh khác, nhưng bây giờ họ trải qua một tiến trình thức tỉnh hay cải đạo và họ tin chắc là lúc này họ đã tìm được giáo lý hay truyền thống tâm linh tối hậu.

Chúng ta thấy nhiều người bên phương Đông chợt thức tỉnh đến với Phật giáo, một trong những hình thức Phật giáo, một trong những truyền thống Phật giáo và họ tin đấy là hình thức tối hậu. Sau đó họ nghe đến ý tưởng có những trạng thái tâm thức cao và có con đường tâm linh, và bây giờ họ nghĩ nếu họ đạt được một trạng thái tâm thức cao thì có nghĩa là truyền thống tâm linh vỏ ngoài của họ sẽ được xác chứng. Họ tìm về một vị đạo sư đã xác chứng truyền thống tâm linh vỏ ngoài của họ và họ xem đây là chứng minh truyền thống của họ là truyền thống tối hậu.

Con có thể thấy những người bên Ấn độ tin chắc rằng vị đạo sư Ấn độ này hay vị kia đã giác ngộ hay đã đạt được một quy định nào khác về một trạng thại tâm thức tối hậu. Họ cảm thấy bởi vì vị đạo sư đó đến từ truyền thống Ấn độ giáo, do đó Ấn độ giáo được xác chứng là tôn giáo tối hậu. Cũng như thế với Phật giáo, Lão giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo – khắp mọi nơi.

Điều con thấy ở đây là hầu hết mọi người theo tôn giáo vỏ ngoài nhưng trong mọi tôn giáo hay truyền thống tâm linh đều có những người đã bắt đầu thức tỉnh đi theo con đường thần bí. Họ bắt đầu trở thành những nhà thần bí nhưng nay họ lại bị tự ngã lừa dối khiến họ nghĩ rằng khi họ đạt một trạng thái tâm thức cao, bất kỳ họ quy định nó như thế nào, thì có nghĩa là truyền thống của họ sẽ được xác chứng và chính họ sẽ được xác chứng là những đệ tử cao cấp nhất. Con thấy được điều này không, con yêu dấu? Nếu con thấy, thày sẽ tiếp tục.

7.3. Học trò chân sư thăng thiên bị tự ngã làm mù lòa

Con thấy đấy, khi con nhìn các đệ tử chân sư thăng thiên, con sẽ thấy cùng một hiện tượng. Con trở ngược về thập niên 1930 khi các thày bắt đầu tự biểu hiện qua phong trào TA LÀ. Hiện nay không còn nhiều học trò nguyên thủy của phong trào TA LÀ còn hiện thân, nhưng vẫn còn một số người tin chắc rằng phong trào của họ là tiết lộ tuần tự tối hậu từ chân sư thăng thiên. Họ không cần để ý tới bất cứ phong trào nào khác hiện ra sau này vì phong trào của họ là phong trào tối hậu.

Với phong trào Ngọn Hải đặng trên Đỉnh (the Summit Lighhouse) cũng vậy, và các thày hy vọng là trong đợt truyền giáo này các con sẽ không rơi vào bẫy đó hay ít nhất có thể thoát ra khỏi bẫy đó nhanh chóng. Bởi vì các thày không hề mong muốn các con tìm cầu sự xác chứng tối hậu của giáo lý vỏ ngoài, người sứ giả vỏ ngoài hay thông điệp vỏ ngoài. Các thày mong muốn thấy các con đạt quả vị Ki-tô cá nhân nhưng muốn đạt được, con phải từ bỏ ham muốn mình đúng. Điều này không chỉ áp dụng với giáo lý tâm linh của con, nó cũng áp dụng vào đời sống hàng ngày.

Con hãy nhìn chính mình, nhìn những người con quen biết và thấy biết bao nhiêu lần con ở trong hoàn cảnh con muốn mình đúng hay người khác muốn họ đúng. Trong mọi phong trào tâm linh con có thể tìm thấy trên mặt hành tinh này, con sẽ thấy những người rơi vào xung đột cá nhân với nhau. Giờ đây, trong nhiều trường hợp, những xung đột này không khác những xung đột ngoài kia trên thế gian giữa những người không tâm linh. Chúng giản dị là khác biệt quan điểm vì con xuất thân trong một hoàn cảnh khác, con có tâm lý khác, con nhìn mọi chuyện từ một góc độ khác.

7.4. Xung đột không sao giải quyết được trong các phong trào tâm linh

Trong một phong trào tâm linh xung đột thường bị thổi phồng quá tải vì con nghĩ chuyện chứng minh con đúng và chứng minh bên kia sai cực kỳ hệ trọng. Lúc đó con có một xung đột đen trắng giữa những người tâm linh và thông thường xung đột như thế không có giải pháp. Chúng ta đã thấy có người nổi giận và rời bỏ phong trào tâm linh, chúng ta đã thấy những phong trào tâm linh tan vỡ từ bên trong vì họ không giải quyết được xung đột này.

Con thấy chăng, điều gì tạo ra xung đột đen trắng trong các phong trào tâm linh? Đó là ý tưởng con đã đạt một trình độ quả vị Ki-tô nào đó và bởi vậy, con đúng. Người kia chưa đạt tới mức quả vị Ki-tô này và do đó người kia sai. Con có thể thấy điều này vì con có quả vị Ki-tô, người kia không thấy được vì họ chưa đạt mức quả vị Ki-tô của con. Cho nên hoàn cảnh kẹt cứng và không có cách giải quyết.

Không thể có cách gì giải quyết khi cả hai bên đều nghĩ biểu hiện Ki-tô của họ không bị tự ngã pha màu. Con thấy khi có xung đột, cả hai bên đều bị tự ngã pha màu vì nếu không thì xung đột đâu có xảy ra. Cách giải quyết là gì? Cách giải quyết là những đệ tử chân thành thực sự muốn đạt quả vị Ki-tô cần nhận ra rằng tất cả các con, tất cả chúng ta khi hiện thân trên Trái đất, chúng ta đều có những ngã được tạo ra trong các kiếp trước muốn mình đúng trên Trái đất bằng cách chứng minh điều gì đó trên Trái đất.  

Cho nên con nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô, tâm Ki-tô qua con sẽ chứng minh điều gì đó trên Trái đất, sẽ chứng minh điều gì đó trong vật chất. Chuyện này không đúng, đây là con hiểu lầm Ki-tô là gì. Bởi vì chức năng của tâm Ki-tô là gì? Đó là tạo hợp nhất giữa con và cái ta cao của con, với các chân sư thăng thiên và tạo hợp nhất giữa con người theo chiều ngang. Hợp nhất chiều dọc dẫn tới hợp nhất chiều ngang. Nếu không có hợp nhất chiều ngang, có thể lý do là cả hai bên chưa hợp nhất chiều dọc đủ.

Điều này có thể bị hiểu lầm nhưng con hãy kiên nhẫn, thày sẽ giải thích. Chức năng của tâm Ki-tô là tạo hợp nhất, hợp nhất với cái ta cao của con, hợp nhất theo chiều ngang. Tự ngã, tâm nhị nguyên sẽ không bao giờ thấu hiểu điều này – không bao giờ. Nó không sao hiểu nổi. Tự ngã sẽ luôn luôn tìm cách chứng minh nó đúng bằng cách chứng minh điều gì đó trên Trái đất. Câu hỏi con cần tự hỏi mình là: “Con muốn mình đúng ở đâu? Con muốn mình đúng với con người hay đúng với Thượng đế?”

7.5. Con muốn đúng với con người hay đúng với Thượng đế?

Nếu con muốn đúng với Thượng đế thì trước tiên con đi tìm vương quốc Thượng đế và sự công chính của ngài, là cách chân chính dùng khả năng phân biện của con. Sau đó, mọi sự khác sẽ được thêm vào cho con, nhưng chỉ khi nào con đi tìm trước tiên vương quốc Thượng đế bằng cách buông bỏ mọi thứ của vật chất. Một lần nữa con có thể chiêm nghiệm một phiên bản của câu hỏi của Padmasambhava: “Tại sao những điều quan trọng với con lại quan trọng với con?” Tại sao đúng với con người quan trọng với con?

Thông thường con sẽ thấy câu trả lời bắt nguồn từ chấn thương nhập đời. Sa nhân tìm cách tạo ra một tình huống khiến con bị chứng minh con sai một cách tối hậu. Kể từ ngày đó, tự ngã của con đã luôn luôn tìm cách bù đắp bằng cách chứng minh con đúng, hay rốt cuộc con vẫn đúng. Một lần nữa, đây là một tìm cầu vô bổ, một tìm cầu bất khả thi của tự ngã. Tại sao? Thày đã nói gì trước đây? Với tâm thức nhị nguyên, con có thể chứng minh hay bác bỏ bất cứ gì. Không có điều gì đúng tối hậu. Con sẽ không bao giờ chứng minh được với những người mang tâm thức sa ngã là con đúng lúc đó. Con sẽ không bao giờ thuyết phục được những người vẫn còn ở trong tư duy thế phàm là con đúng.

Hãy đem điều này ứng dụng thực tiễn vào đời sống hàng ngày. Con ở trong hoàn cảnh con không đồng ý với một người khác. Chuyện xảy ra trong một phong trào tâm linh hay trong gia đình hay nơi làm việc không quan trọng. Con bất đồng ý kiến với người khác. Tự ngã sẽ luôn luôn tìm cách chứng minh con đúng bằng cách chứng minh người kia sai. Đây không phải là cách Ki-tô ứng xử. Cách ứng xử của những người đi tìm quả vị Ki-tô là trước tiên đi tìm vương quốc Thượng đế. Nghĩa là gì? Đó là đi tìm hợp nhất với cái ta cao của con.

Làm sao hợp nhất với cái ta cao của con? Bằng cách loại bỏ những ngã tiềm thức kéo con rơi vào tách biệt. Con hãy thành thật, con hãy sẵn lòng nhìn vào chính mình và nói: “Tôi có chăng một ngã tiềm thức đang ảnh hưởng cách tôi nhìn hoàn cảnh này, cách tôi tiếp cận người kia? Có phải là tôi, cái Ta Biết, có nhu cầu ám ảnh cưỡng chế là mình đúng? Hay đấy là một ngã tiềm thức có nhu cầu này?” Lẽ tất nhiên câu trả lời hiển nhiên là: đó là một ngã tiềm thức. Con nhìn nó, con cho ngã tan rã, con buông bỏ nó. Đấy là tìm trước tiên vương quốc Thượng đế.

Khi con tìm vương quốc Thượng đế, mọi thứ khác sẽ được thêm vào cho con. Điều gì được thêm vào cho con? À, nhiều thứ sẽ được thêm vào cho con, nhưng trước hết là con thấy rõ, con có một tầm nhìn khác. Trong một số trường hợp, hãy ví dụ đây là một thành viên gia đình mà mối quan hệ của con với người đó sẽ lâu dài, con có thể nhận được xung lực: “Điều gì quan trọng hơn với tôi? Tôi đúng? Chứng minh người thân tôi sai? Hay tôi có mối quan hệ tốt đẹp hơn với người này?”

Con cũng có thể nhận xung lực, nội giác là người đó quan trọng hơn tranh cãi vỏ ngoài, người đó quan trọng hơn sự việc con đúng. Điều quan trọng hơn là con xem xét điều này thay vì muốn mình đúng: “Làm sao con giúp được người kia?” Hay đúng hơn: “Có thể nào tâm Ki-tô qua tôi giúp người kia thay vì tâm tự ngã chứng minh người kia sai và dìm họ xuống?”

7.6. Nhìn mọi sự với tâm trung hòa

Có nhiều nội giác con có thể nhận được trong những hoàn cảnh này nhưng nó đòi hỏi con phải trước tiên đi tìm Vương quốc Thượng đế bên trong con bằng cách đi vào trạng thái tâm cho phép con nhìn hoàn cảnh một cách trung hòa. Điều này đòi hỏi con trau dồi một khả năng mà tất cả các con đều có và đó là khả năng đọc rung động. Tại sao con đang ngồi đây lắng nghe một người dường như đang cho phép một chân sư thăng thiên nói qua ông? Phải chăng là vì một luận cứ vĩ đại nào đã thuyết phục con?

Không đâu, đó là vì con có thể đọc rung động tuôn chảy qua con người vỏ ngoài của ông nhưng không thể đến từ ông. Rung động phát xuất từ một tầng cao hơn và do đó, điều ông nói đáng được nghe. Nếu đây chỉ là một con người thường phát biểu một quan điểm của con người thường thì con đâu màng? Những quan điểm đó đầy rẫy. Bởi vì con cảm nhận có một rung động cao tuôn chảy qua ông, con cảm nhận có điều gì khác ở đây.

Con có khả năng đọc rung động, nhưng nhiều khi con không áp dụng cho chính mình để đọc rung động trong con, để đọc rung động của các ngã tiềm thức của con. Khi con đi tìm trước tiên Vương quốc Thượng đế, con sẵn lòng nhìn chính mình và đọc rung động của con khi con đi vào hoàn cảnh xung đột với người khác. Nếu con áp dụng khả năng đọc rung động, con có thể rất mau chóng học cách đọc: “Ồ, rung động của tôi thấp. Nó không ở mức cao nhất. Nó không hài hòa.”

Trước tiên, con có thể học cách đọc: “Nó có ám ảnh cưỡng chế không? Đây có phải là một điều mà tôi cảm thấy tôi  làm? Tôi phải thuyết phục người kia, và nếu không thuyết phục được người kia thì tôi phải chứng minh người ấy sai và tôi phải chứng minh với những người khác là người ấy sai. Bởi vì chúng ta nhất định phải giải quyết vấn đề.” Trạng thái ám ảnh cưỡng chế này chỉ có thể đến từ tâm thức nhị nguyên, từ các ngã tách biệt. Nó không đến từ tâm Ki-tô, vì tâm Ki-tô tìm sự hợp nhất.

7.7. Ki-tô luôn luôn tìm sự hợp nhất

Làm sao con hợp nhất? Chỉ có một cách là qua chọn lựa tự do của con người. Không thể ép uổng con người hợp nhất. Bất hòa và tách biệt có thể ép uổng. Xung đột có thể ép uổng. Không thể ép uổng hợp nhất. Có thể có những tình huống con nhìn vào tâm thái ám ảnh cưỡng chế trong con, con thỉnh các thày tiêu trừ năng lượng, con đi tìm ngã tiềm thức, con thấy được ngã đó và con cho nó chết đi. Con giản dị cho nó chết đi. Con nói như Giê-su đã nói: “Nó chẳng là gì với con, con hãy theo ta.” Con theo Ki-tô đi vào vương quốc, để lại đằng sau những gì trên Trái đất, để lại đằng sau những gì quan trọng với ngã vỏ ngoài. Con để cho kẻ chết chôn người chết của họ.

Khi con buông bỏ ngã, con có thể thấy: À người kia vẫn còn trong một trạng thái tâm nào đó. Họ có một ngã tiềm thức nào đó. Họ không thấy được ngã của họ. Họ không thấy được sự ám ảnh cưỡng chế của họ. Trong một số trường hợp, con có thể chỉ giản dị quyết định: “Hãy cho người đó thêm thời gian. Chúng ta hãy tìm một giải pháp khả dĩ, nhưng tôi sẽ không chứng minh họ sai.” Thày không nói lúc nào cũng tới kết quả này nhưng trong một số trường hợp sẽ như thế.

7.8. Ki-tô không phải lúc nào cũng đúng

Có nhiều người, nhiều đệ tử chân sư thăng thiên có thể nói là bị ám ảnh bởi ý tưởng Ki-tô luôn luôn đúng, và lúc nào cũng phải có cái đúng và sai. Do đó, bất cứ tranh cãi nào cũng có thể được giải quyết bằng cách có sự thật đúng, sự thật cao nhất từ tâm Ki-tô. Khi con bắt đầu hiểu sự tương phản giữa tâm thức nhị nguyên và tâm thức Ki-tô, thì con thấy là ngay cả tâm thức Ki-tô cũng không thể giải quyết những tranh cãi do nhị nguyên tạo ra. UP TO HERE

Thày đã nói gì? Luôn luôn có hai đối cực ngược nhau. Con có thể biện hộ cho đối cực này, hay đối cực kia và nếu con thiên lệch về một đối cực thì con sẽ thấy những luận cứ bên đó có giá trị, nếu con thiên lệch về đối cực kia thì con sẽ thấy những luận cứ bên kia cũng hoàn toàn có giá trị. Không cách chi hòa giải hai bên bằng luận cứ hay bằng cách chứng minh điều gì đó đúng. Con thấy chăng, con không có nhiệm vụ thuyết phục người kia, nhiệm vụ của con là tăng triển, tiến gần quả vị Ki-tô hơn để dù kết quả tình huống vỏ ngoài là gì chăng nữa, con vẫn tăng triển, con vẫn tiến gần hơn quả vị Ki-tô. Còn người kia ra sao thì tùy vào chọn lựa tự do của họ.

Khi con cố gắng giữ thái độ này, thì con sẽ nhận ra và con sẽ hoàn toàn chấp nhận là có những hoàn cảnh và xung đột không có cách giải quyết. Con có nghe thấy điều thày nói chăng? Tâm thức nhị nguyên có thể tạo ra những xung đột không có cách giải quyết. Con không thể tìm ra một luận cứ. Con hãy nghe kỹ, ngay cả tâm Ki-tô cũng không thể đưa ra một luận cứ sẽ giải quyết những tranh cãi giữa con người. 

Con có thể lấy bất kỳ hoàn cảnh nào, con lấy ngay bây giờ hoàn cảnh giữa nước Do thái và người Palestine, hay tình trạng giữa Bắc và Nam hàn. Ngay cả tâm Ki-tô cũng không có cách chi giải quyết các hoàn cảnh này ở cấp độ mà xung đột được hình thành. Ở cấp độ tâm thức, tâm thức nhị nguyên nơi xung đột được quy định, ngay cả tâm Ki-tô cũng không thể giải quyết. Không có cách nào giải quyết được.

Đây là tình trạng mà chúng ta đã thấy lặp đi lặp lại nhiều lấn, mà con người rất khó chấp nhận. Các con có tiềm năng chấp nhận vì các thày đã chuẩn bị các con với rất nhiều giáo lý về tâm thức nhị nguyên và quả vị Ki-tô. Nhưng điều này không có nghĩa con bị kẹt trong một hoàn cảnh vì như thày đã nói, trước tiên con tìm Vương quốc Thượng đế, con tìm cách tiến gần hơn và gần hơn quả vị Ki-tô và bỗng nhiên chuyện hoàn cảnh bên ngoài có được giải quyết hay không không còn quan trọng nữa.

Con hãy lấy tình trạng giữa người dân nước Do thái và nước Palestine, người Do thái và người Ả rập. Ở chiều ngang không có cách giải quyết. Cách giải quyết duy nhất là cả hai bên gia tăng sự nối kết chiều dọc với tâm Ki-tô để họ nhận ra: Tôi không phải người Do thái hay người Ả rập, tôi  hơn những quy định trong vật chất này. Những đặc tính vật chất không quan trọng bằng sự hợp nhất của tôi với tâm Ki-tô. Cho nên, khi con nối kết với tâm Ki-tô, con thấy tất cả những người khác, những người ở phe bên kia đều bắt nguồn từ tâm Ki-tô.

Cho nên, con có thể tìm một cấp độ hợp nhất cao hơn để thay vì tìm cách giải quyết xung đột ở chiều ngang, con bỏ xung đột lại sau lưng. Không có cách gì giải quyết xung đột nhưng con có thể vượt thăng nó. Các con là những học trò trực tiếp của các thày, các thày chờ đợi các con tiên phong làm việc này trong đời sống cá nhân của mình, khi con tương tác với nhau, ngay cả khi con tương tác với nhau trong một cộng đồng tâm linh. Hãy luôn luôn tìm sự hợp nhất cao, hãy tìm Vương quốc Thượng đế bên trong và nói: “Điều này đáng gì với tôi? Tôi sẽ theo Ki-tô đi vào cõi cao hơn.”

7.9. Biểu đạt Ki-tô trong đời sống hàng ngày

Đấy là cách con có thể đưa ra một ví dụ hùng hồn về thế nào là biểu hiện quả vị Ki-tô trong đời sống hàng ngày. Một số trong các con đã làm việc này rồi. Một số trong các con đã gần kề. Đôi khi chỉ cần xoay chuyển tâm một chút khi con thấy: “Ồ, trước kia tôi chưa bao giờ thấy điều này nhưng bây giờ nó quá hiển nhiên. Với tôi, đúng với Thượng đế quan trọng hơn đúng với con người.”

Nói cho cùng, cái ta nào muốn nó đúng? Không phải là cái Ta Biết. Cái Ta Biết trong trạng thái thuần khiết của nó là gì? Nó trung hòa. Nghĩa là gì? À, có nghĩa là nó không bị cuốn hút vào hai cực nhị nguyên. Nó cũng không ở điểm giữa hai cực. Nó vượt lên trên thang nhị nguyên. Nó ở bên ngoài nhị nguyên. Nó chỉ quan sát thôi. Thày nói gì về đọc rung động? Con có thể học cách đọc rung động để biết khi rung động của con không ở cấp độ của Ki-tô vì con bị cuốn hút vào ý nghĩ có gì đó thật sự quan trọng. Có gì đó trong vật chất thật sự quan trọng. Lúc đó con có thể kéo mình lùi lại, đi vào nội tâm và nối kết lại, đạt trạng thái trung hòa trong đó con có thể thấy: “À, điều tôi nghĩ quan trọng không thật sự quan trọng. Nó không quan trọng bằng tôi hợp nhất với tâm Ki-tô.” Cuối cùng thì con tới điểm thấy, như Padmasambhava nói: “Không có gì trong vật chất quan trọng.” Đây chỉ là vấn đề xoay chuyển quan điểm của con về vật chất, về điều gì quan trọng.

Với bài này thày đã cho con những gì thày muốn cho con. Thày biết ơn đã có cơ hội này. Con có thể nói những gì thày trao cho con ở đây là một biểu hiện của từ bi. Vì lòng từ bi tối hậu là gì? Một số người nghĩ là tha thứ nhưng cái gì tha thứ? Tâm nhị nguyên có bao giờ tha thứ được chăng? Tự ngã có bao giờ tha thứ được chăng? Không đâu, chỉ tâm Ki-tô mới có thể tha thứ, nhưng tại sao tâm Ki-tô tha thứ được? Bởi vì với tâm Ki-tô không gì trong vật chất quan trọng. Mọi chuyện đều tha thứ được. Mọi tội lỗi đều có thể được tẩy trắng như tuyết. Với điều này thày niêm con trong Ngọn lửa Từ bi mà thày cầm giữ cho Trái đất. Mong con chấp nhận Ngọn lửa Từ bi cho chính con để con có thể trước tiên tha thứ chính mình và chấp nhận tha thứ vô điều kiện của tâm Ki-tô.

5 | Đấng Cha làm gì cho Ki-tô

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Saint Germain qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Saint Germain. Chúng ta hãy nhắc tới câu truyện trong Kinh thánh về Saint Joseph là cha của Giê-su và trong các đợt truyền giáo trước đã đề cập thày là sinh thể đã hiện thân như Joseph. Một lần nữa, như Mẹ Mary đã giải thích, đây toàn là biểu tượng và con có thể xem biểu tượng ở nhiều tầng cấp khác nhau. Chắc chắn con có thể thấy sự kiện em bé Ki-tô được mẹ nuôi dưỡng nhưng bé cũng có một người đóng vai trò người cha. Người cha làm gì cho Ki-tô khi Ki-tô lớn lên, khi em bé Ki-tô trưởng thành?

Ấy, trước tiên, người cha dạy em bé Ki-tô một ngành nghề, một kỹ năng. Lẽ tất nhiên điều này áp dụng cho con theo nghĩa con là cha của Ki-tô trong con. Con đóng vai trò người cha và người mẹ cho sự biểu hiện Ki-tô cá nhân của con. Con cần dạy Ki-tô một kỹ năng nào đó, một kiến thức nào đó. Điều này không nhất thiết nghĩa là một ngành nghề như thợ mộc hay khoa học gia hay bất cứ gì khác. Có thể là con chọn một chủ đề gần gũi với con, một chủ đề mà con ưa thích và con nghiên cứu chủ đề đó.

Con không nhất thiết phải theo một khóa học chính thức. Có thể là con tự học về chủ đề đó. Con trở thành một chuyên gia về chủ đề theo nghĩa con biết chủ đề đó qua nhiều góc độ, nhiều tầm nhìn. Việc này có kết quả gì? Nó tạo một cấu trúc qua đó tâm Ki-tô có thể biểu đạt qua tâm của con, để có một chén thánh mà tâm Ki-tô chảy vào được. Lẽ tất nhiên con có một biểu tượng khác từ Kinh thánh là chiếc chén thánh mà Ki-tô dùng trong bữa ăn tối cuối cùng, mà người đời thường gọi là chiếc Chén thánh (Holy Grail). Biểu tượng này là khi con đạt được một kỹ năng nào đó, một kiến thức nào đó, thì con tạo ra trong bốn thể phàm của con một chiếc chén để khi con trưởng thành trong quả vị Ki-tô, thì có một chiếc chén thánh, một cấu trúc, để rượu của tâm thức Ki-tô có thể rót vào. Bởi vì Ki-tô không thể chảy vào chỗ trống không, không thể chảy vào cái bình rỗng và bị đổ vãi xuống đất.

5.1. Tâm Ki-tô cần một cấu trúc để biểu đạt

Một lần nữa, như Padmasambhava đã chỉ ra, tâm vỏ ngoài, tâm thuần lý có thể lấy bất cứ gì các thày nói và bẻ quẹo và nói: “Đây chẳng phải là một mâu thuẫn sao, vì chẳng phải là Padmasambhava đã nói là con cần thấy tất cả những ngã dính mắc vào quá khứ, dính mắc vào tương lai? Chúng ta có thể suy diễn chăng là nếu ta dọn sạch tâm khỏi tất cả những ngã này thì tâm sẽ thông thoáng và ánh sáng Ki-tô có thể tuôn chảy.”

Ngay đây, thày đang nói chuyện con trở thành một chuyên gia về một chủ đề nào đó, con tạo dựng một cấu trúc trong tâm. Thày không nói tới việc dựng lên một cấu trúc qua các ngã tiềm thức tách biệt. Thày nói tới việc dựng lên một cấu trúc kiến thức, hiểu biết, kỹ năng để tâm Ki-tô có một cái gì qua đó nó có thể được biểu đạt. Con có thể nói: “Đây là một sứ giả đang truyền đạt một thông điệp từ một chân sư thăng thiên tuôn chảy tự nhiên từ tâm Ki-tô, và đúng vậy, người sứ giả, như ông đã giải thích, tìm cách ở trong tâm thái trung hòa.” Nếu ông tuyệt đối không biết gì về chủ đề thì thày không thể trao bài truyền đọc qua ông. Qua người sứ giả này, thày không thể trao một bài truyền đọc có chất lượng trong lãnh vực vật lý thiên văn hay vật lý hạt nhân hay giải phẫu não bộ. Vì trong tâm người sứ giả không có cấu trúc có thể đón nhận những khái niệm mà thày có trong tâm thày.

Đây là điều thày muốn nói khi thày nói tới việc con dấy lên một chén thánh, con tạo một chén thanh. Chén thánh không được cấu tạo với những ngã tách biệt. Nó gồm những khái niệm, ý tưởng, ngôn ngữ để con có thể đón nhận những xung lực đến từ tâm Ki-tô. Lẽ tất nhiên, rõ ràng đây không phải là chuyện đơn giản. Không phải là con chỉ cần thu thập tất cả sách con có thể tìm được về một chủ đề và nghiên cứu các sách này và viết xuống những ghi chú, và thế là xong, con biết hết mọi chuyện. Bởi vì thách đố là cung cấp một cấu trúc để Ki-tô có thể chảy vào nhưng cùng lúc hạn chế càng ít càng tốt sự biểu đạt của tâm Ki-tô.

5.2. Kiến thức thế gian có thể hạn chế Ki-tô

Ý thày muốn nói là gì? À, điều thày muốn nói là nếu con lấy ví dụ một nhà khoa học lớn lên trong một xã hội Tây phương hay một xã hội hiện đại, đi học, lên đại học, học một số năm, tốt nghiệp, tìm được một việc làm, tiếp tục thử nghiệm và học hỏi, nhà khoa học đó trong khung cảnh hiện hành trên Trái đất sẽ bị lập trình, bị nhồi sọ, bị tẩy não bởi triết lý, ý thức hệ, tôn giáo gọi là chủ thuyết khoa học duy vật. Có nghĩa là nếu nhà khoa học ấy hấp thụ những ý tưởng đã đượt đặt để trong tâm, thì y sẽ không dám đón nhận bất cứ gì từ tâm Ki-tô chất vấn, thách thức, vượt lên trên thế giới quan duy vật. Lẽ dĩ nhiên điều này sẽ giới hạn sự biểu đạt của tâm Ki-tô.

Con thấy thách đố là con trở thành một chuyên gia trong một lãnh vực nào đó mà không lấy vào những tin tưởng giới hạn hiện có trong lãnh vực đó. Có thể đó không phải là chủ nghĩa duy vật, mà là những ý tưởng khác. Đó có thể là những ý tưởng vi tế không thuộc bất kỳ ý thức hệ hay tôn giáo nào. Trong bất kỳ lãnh vực nào cũng có một số giới hạn và tại sao thày nói thế? Bởi vì nếu con nhìn vào bất kỳ lãnh vực nào của xã hội, thì con thấy có một lối suy nghĩ, một hệ thuyết nào đó thống trị lãnh vực đó. Cho dù nó tạo nền móng cho lãnh vực đó, nhưng nó cũng giới hạn khả năng con người đón nhận ý tưởng mới từ cõi thăng thiên. Lẽ tất nhiên, đây là một thách đố cho con, nhưng nó không lớn bằng thách đố cho những người ở thế giới ngoài kia không hay biết gì về quả vị Ki-tô.

Khi con có kiến thức mà các thày đã cho con về quả vị Ki-tô, thì con có thể thấy là con có thể nghiên cứu một lãnh vực, biết những gì được đưa ra trong lãnh vực đó cho tới ngày nay mà không giới hạn tư duy của mình bằng cách suy nghĩ: “À, đây là kiến thức tối hậu.” Một khi con có tầm nhìn tâm linh về cuộc đời, giả dụ con biết chủ thuyết khoa học duy vật không phải là thế giới quan tối hậu hay thế giới quan Công giáo không phải là cái nhìn tối hậu. Do đó, con có thể tránh không để tâm mình bị giới hạn bởi những hộp tư duy đã được tạo ra trong thế gian, như vậy kiến thức của con không giới hạn khả năng của thày hay một chân sư thăng thiên khác gửi cho con những ý tưởng mới có thể đẩy lãnh vực này tiến lên, và con có thể nói về lãnh vực đó một cách mới, khác lạ, đưa ra một tầm nhìn khác có thể giúp người khác suy nghĩ.

5.3. Kỷ luật tâm Ki-tô

Giờ đây có một khía cạnh khác của yếu tố cha là em bé Ki-tô, vì vẫn còn là một em bé, nên cần có người đặt giới hạn cho nó. Có những câu chuyện kể rằng khi Giê-su còn nhỏ, thày thử nghiệm dùng quyền năng của thày, tỷ dụ như thày nặn những hình tượng đất sét và thổi sự sống vào chúng. Giờ đây, mặc dù những câu chuyện này hư cấu, đây là một ví dụ về những mơ tưởng của con người khi nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô. Họ nghĩ họ có thể làm những phép lạ như thế, biểu hiện đủ loại phép lạ, đủ loại dấu hiệu và điều kỳ diệu. Đây là điểm cần kỷ luật tâm Ki-tô để nó có thể hòa điệu với thời đại và xã hội nó đang sống.

Như các thày đã nói trước đây, tâm thức tập thể vào thời Giê-su dày đặc đến độ Giê-su cần làm một số chuyện có vẻ như phép lạ để lôi kéo sự chú ý của con người. Giờ đây con có thể nhìn tất cả những phép lạ được mô tả trong kinh thánh theo nghĩa biểu tượng và thấy được ý nghĩa biểu tượng sâu xa đằng sau thay vì hiểu chúng theo nghĩa đen, nhưng đây là một câu chuyện mà chúng ta sẽ thảo luận một lúc khác. Điều thày muốn chỉ ra ở đây là vì nhiệt tâm muốn biểu hiện, tâm Ki-tô có thể biểu hiện một số điều không nhất thiết xây dựng trong một hoàn cảnh đặc thù.

Con cần phải kỷ luật tâm con bằng cách nhận ra con sẽ có những ngã trong tiềm thức muốn biểu hiện một chuyện gì không thể bác bỏ để con có thể chứng minh có cái gì vượt lên trên những gì con người tin. Điều này đặc biệt áp dụng cho các avatar vì con có một viễn quan nào đó, con có một mong muốn nào đó trước khi tới Trái đất mà con muốn thực hiện. Sau đó con gánh chịu chấn thương nhập đời, cảm thấy bị xua đuổi, con bắt đầu hoài nghi mình có thể hoàn tất ước muốn của mình. Khi con bắt đầu biết khái niệm quả vị Ki-tô và mở lòng đón nhận khả năng có thể có Ki-tô sinh ra trong con, thì con có thể dễ dàng chuyển động cơ này vào và nghĩ: “À, khi tôi đạt quả vị Ki-tô thì tôi có thể làm điều tôi muốn làm trước khi tới đây, tôi có thể biểu hiện điều mà họ không thể bác bỏ, họ không thể coi khinh.” Đây không phải là một biểu hiện quả vị Ki-tô thích đáng trong đa số trường hợp và do đó yếu tố cha cần can thiệp và kỷ luật em bé Ki-tô. Yếu tố cha trong bản thể của con là gì?  Nó không phải là cái Ta Biết, nó là Hiện diện TA LÀ. Khi cái Ta Biết hòa điệu với Hiện diện TA LÀ, con có thể học cách biểu đạt quả vị Ki-tô một cách thận trọng hơn.

Giờ đây, như PadmaSambhava đã chỉ ra, một lần nữa có vẻ như các thày mâu thuẫn với nhau vì các thày đã từng nói, ngay cả trong kinh thánh, là Thánh linh thổi nơi nó muốn. Ý này hòa hợp thế nào với ý con phải hạn chế sự biểu hiện quả vị Ki-tô của con? À, thày không nói là tâm vỏ ngoài của con phải hạn chế biểu hiện quả vị Ki-tô của con. Thày nói Hiện diện TA LÀ của con làm việc này. Tâm vỏ ngoài sẽ hạn chế quả vị Ki-tô dựa trên nền văn hóa, ví dụ như nền văn hóa của quốc gia hay gia đình nơi con sống, và nền văn hóa này quy định cái gì là điều thích đáng. Hiện diện TA LÀ không bị các trói buộc này. Nó có viễn quan cao hơn về cách xây dựng nhất để biểu đạt quả vị Ki-tô.

5.4. Để cho tự ngã quy định quả vị Ki-tô

Điều này dẫn thày tới một đề tài mà không phải chỉ có thày sẽ bình luận trong hội nghị này. Đây là một đề tài mà một lần nữa, quả thực chỉ có Hiện diện TA LÀ mới giúp được con có viễn kiến về điều thày sắp nói tới. Con thấy ở đây, chúng ta hãy bước lùi lại và nhìn hoàn cảnh một người tìm ra giáo lý chân sư thăng thiên, nghe thấy khái niệm quả vị Ki-tô cá nhân và quyết định: “Tôi muốn biết thêm về đề tài này.” Hoàn cảnh một người tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên là gì? Hoàn cảnh của tất cả các con khi tìm thấy giáo lý chân sư thăng thiên là gì? À, con đã lớn lên trong một nền văn hóa nào đó, con có một tâm lý nào đó dựa trên các kiếp trước và kiếp này, con có một số ngã tiềm thức, những ngã này cùng nhau họp thành một tập hợp mà chúng ta gọi là tự ngã. Khuôn tư duy của con, cách con nhìn thế gian, cách con nhìn chính mình, toàn bộ cách con tiếp cận cuộc sống đều bị pha màu tới một mức nào đó bởi tự ngã.

Chúng ta có thể nói đây là bí ẩn chủ yếu trên con đường tâm linh. Nó là một thách đố cho con, nó là một thách đố cho các thày, các chân sư thăng thiên. Bởi vì khi con nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô, con vẫn còn bị tự ngã pha màu nhiều đến độ con sẽ pha màu tất cả những gì các thày nói về quả vị Ki-tô.

Các thày thấy hiện tượng này trong các tổ chức Phong trào TA LÀ (I AM Movement), Ngọn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse) và đợt truyền giáo này khi những học trò mới, và ngay cả những người đã đi khá lâu trên con đường tâm linh, nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô (hay trạng thái tâm thức cao hơn). Trong tâm họ, họ tạo ra một hình ảnh về ý nghĩa quả vị Ki-tô và hình ảnh này bị pha màu một mức nào đó bởi tự ngã, bởi các ngã tiềm thức. Một lần nữa, thày không nói những điều này để trách cứ con. Chuyện này không tránh được. Không thể có cách nào khác. Tất cả những người đã thăng thiên từ Trái đất đều trải qua tình trạng tương tự. Khi chúng tôi lần đầu tiên nghe tới các khái niệm này, thì trong tâm chúng tôi pha màu các ý tưởng, các khái niệm đó với các quan điểm, tầm nhìn của tự ngã.

Một lần nữa, yếu tố cha trong tâm con, Hiện diện TA LÀ, sẽ có thể gửi cho con những xung lực vi tế có thể giúp con thấy khi nào nỗ lực biểu đạt quả vị Ki-tô của con bị pha màu bởi tự ngã. Điều này có một số hệ quả mà các thày sẽ nói tới sau nhưng điều thày muốn tập trung ở đây là ý tưởng tự ngã sẽ luôn luôn nghĩ là khi con đạt quả vị Ki-tô, uy lực của tâm Ki-tô sẽ có thể thực hiện những mong muốn của tự ngã.

5.5. Tìm cầu bất khả thi của tự ngã

Các con hãy lắng nghe điều thày sắp nói. Tự ngã có một số ham muốn. Tự ngã thấy những ham muốn của nó chưa được hoàn thành. Do đó tự ngã lúc nào cũng bực bội. Như các thày đã giải thích, những ham muốn sâu thẳm của tự ngã không thể nào hoàn thành. Tại sao thế? Bởi vì tự ngã, ít nhất trong biểu hiện thấp của nó, được sinh ra khi con bước xuống dưới tầng 48 của tâm thức, khi con bước vào ảo tưởng tách biệt, ngừng không thấy mình là môt sinh thể kết nối.

Đây là một mất mát bởi vì khi con thấy mình là một sinh thể kết nối thì con có cảm nhận con có thể hoàn thành tối hậu các mong muốn của con bằng cách gia tăng kết nối với Hiện diện TA LÀ. Mong muốn tối hậu của cái Ta Biết là hợp nhất với Hiện diện. Mãn nguyện tối hậu của cái Ta Biết là hợp nhất với Hiện diện. Khao khát tối hậu của cái Ta Biết là trở về hợp nhất với Hiện diện.

Khi con thấy mình là một sinh thể kết nối, thì con chưa cảm thấy hoàn toàn là một với Hiện diện, con chưa cảm thấy hoàn toàn mãn nguyện, nhưng con biết là nếu con gia tăng cảm nhận kết nối, gia tăng cảm nhận hợp nhất, thì con có thể càng ngày càng tiến gần hơn điểm thành tựu tối hậu của mọi ước muốn. Ngay lúc con bước vào tách biệt và tạo ra tự ngã, con không thể thỏa mãn ước muốn là một với Hiện diện qua tự ngã. Lẽ tất nhiên con có thể đạt điều này bằng cách trở về là một sinh thể kết nối, nhưng khi con còn nhìn mình qua pha màu của tự ngã, phin lọc nhận thức của tự ngã, thì con không thể nào thực hiện ước muốn tối hậu của con. Cho nên, ngay từ đầu cuộc tìm cầu của tự ngã không thể thực hiện, nhưng tự ngã lẽ tất nhiên sẽ không bao giờ có thể thấy điều này, không bao giờ. Nó còn không thể hiểu điều này bằng trí năng.

Tự ngã luôn luôn tìm cái gì đó có thể bù đắp cho sự thiếu nối kết cơ bản của nó với Hiện diện. Thoạt tiên, tự ngã tìm cái gì đó trong thế giới vật chật, cái gì đó trong vật chất có thể thỏa mãn con. Nếu con có đủ tiền, nếu con có đủ quyền lực, nếu con có đủ cái này, có đủ cái kia trong thế giới vật chất thì con sẽ toại nguyện.

Rất nhiều người, trải qua nhiều thời đại, đã đi tìm thỏa nguyện qua vật chất nhưng dù họ làm gì chăng nữa, họ không được thỏa nguyện. Các sa nhân đã qua nhiều bầu cõi tìm thỏa nguyện qua cái gì đó trong thế giới vật chất và họ đã không tìm ra. Một sinh thể có thể rốt cuộc tới điểm chán ngán sự tìm cầu bất khả thi đó. Y thấy tìm cầu này vô ích, thấy nó phù phiếm, vô nghĩa, trống rỗng. Lúc ấy, y có thể sẵn sàng mở tâm ra với một con đường tâm linh chỉ đến một cái gì vượt lên trên thế gian này.

Con thấy đấy, tự ngã vẫn tìm cách làm việc bất khả thi. Khi con nghe tới khái niệm quả vị Ki-tô, tự ngã nghĩ gì? Nó nghĩ: “À! Quả vị Ki-tô là cách để làm được cái bất khả thi. Chắc chắn là tâm Ki-tô… Kìa! hãy nhìn những phép lạ của Giê-su! Chắc chắn khi tôi đạt quả vị Ki-tô, tôi có thể làm được cái bất khả thi.” Nhưng con không làm được. Thánh linh thổi nơi nó muốn, quả vị Ki-tô biểu hiện chính nó theo một viễn quan rộng lớn, không theo viễn quan của tự ngã.

5.6. Tầm nhìn của tự ngã về quả vị Ki-tô

Con thấy đấy, một trong những yếu tố chính có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô nơi bất cứ ai chính là việc con có trong tâm vỏ ngoài một ý tưởng nào đó, một viễn quan nào đó là khi con là Ki-tô, khi con đạt quả vị Ki-tô, con có thể làm phép lạ này, làm điều siêu nhiên kia, con có thể làm cái bất khả thi. Ngày nào con còn mang niềm tin này thì con có thể tới gần quả vị Ki-tô nhưng con sẽ không bao giờ vượt qua mức đến.

Con sẽ giống như người chạy một cuộc đua dài, một ma-ra-tông, y thấy mức tới nhưng y không nhận ra có sợi dây toòng teng sau lưng y buộc vào một cột gỗ. Ngay trước khi chạm mức đến, sợi dây đã kéo dãn đến mức tối đa. Người chạy đua vẫn tiếp tục chạy, hai chân giơ cao, hai cánh tay vung vẩy, buồng phổi hít thở và y nghĩ: “Tôi rất gần mức đến, tôi ngay sát mức đến,” nhưng y không nhận ra sợi dây không cho phép y tiến xa hơn.

Các thày đã thấy đệ tử chân sư thăng thiên, các thày đã thấy đệ tử tâm linh thuộc các truyền thống khác kẹt ở chỗ đó. Họ chạy đua, họ thực tập, họ đọc bài chú, họ làm điều này nọ, họ học hỏi và họ nghĩ: “Tại sao tôi chưa tới? Tại sao tôi chưa tới?” Bởi vì họ bị buộc vào tự ngã qua ham muốn đạt cái gì tối hậu.

Mẹ Mary đã giải thích tận tường điều gì? Con không thể xoay chuyển tức khắc từ không là Ki-tô sang là Ki-tô. Đây là một tiến trình đòi hỏi nhiều bước tuần tự nhưng tự ngã thì không có thời gian bước tuần tự. Nó muốn quả vị Ki-tô ngay bây giờ, nó muốn toại nguyện tối hậu ngay bây giờ và cách nhìn đó có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô của con nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác. Lẽ tất nhiên có những yếu tố khác nhưng yếu tố này có thể ngăn chặn quả vị Ki-tô của con nhiều hơn bất kỳ yếu tố đơn lẻ nào khác.

Cho nên, con cần bỏ thời giờ để quán chiếu điều này. Con hãy hỏi bất kỳ vị chân sư nào con cảm thấy gần gũi với con, xin thày giúp con thấy những yếu tố nào trong tâm con, trong tiềm thức con, trong bốn tầng của tâm con vẫn còn giấc mơ biểu hiện điều gì tối hậu. Một điều không thể bác bỏ, một điều mà con người ở đây trên Trái đất không thể bác bỏ và rốt cuộc họ sẽ lắng nghe con, họ sẽ công nhận con và họ sẽ nhìn con như một vị cứu tinh, như vị cứu thế mà con ao ước mình là trước khi con tới đây. Đây là điều mà tất cả chúng ta đều ao ước trước khi tới Trái đất, bởi vì tất cả chúng ta đều có một viễn kiến nào đó về điều chúng ta muốn hoàn thành trên Trái đất, bằng không chúng ta đâu đã tới đây, không một ai trong chúng ta đã tới đây.

Con thấy chăng, viễn kiến đó vẫn có thể có giá trị nhưng khi nó bị pha màu bởi tự ngã thì nó mất giá trị. Nó trở thành sợi dây kềm con lại không cho con vượt qua mức đến. Lẽ tất nhiên, không có mức đến vì như Mẹ Mary đã giảng, quả vị Ki-tô là một tiến trình liên tục không bao giờ dứt.

Khi nào thì con hoàn toàn là Ki-tô? Ngày nào con còn trên Trái đất thì chuyện đó sẽ không xảy ra. Ngay cả ngay lúc con thăng thiên con vẫn chưa hoàn toàn là Ki-tô. Khi con đạt tới tâm thức đấng Sáng tạo, chúng ta có thể nói tới thế nào là Ki-tô toàn vẹn. Nhưng chuyện này còn xa xăm lắm với tất cả chúng ta, kể cả thày là một chân sư thăng thiên đang làm việc với Trái đất.

5.7. Giấc mơ đạt cái tối hậu

Con thấy đấy, con cần phải buông bỏ giấc mơ đạt cái gì đó tối hậu, để con muốn là Ki-tô từng bước một. Con biểu đạt quả vị Ki-tô từng bước một. Ngay cả một biểu đạt quả vị Ki-tô nhỏ nhất cũng quan trọng vì nó giúp con trải nghiệm tâm Ki-tô có thể chảy qua con và con có thêm tin tưởng tâm Ki-tô có thể biểu đạt qua con và sẽ biểu đạt chính nó qua con.

Chuyện đó cũng giúp con nhận ra tâm Ki-tô chỉ có thể biểu đạt chính nó qua con khi tự ngã của con không tìm cách kiểm soát Ki-tô, không ép uổng nó vào một hình tướng nào đó. Bởi vì nếu tâm Ki-tô biểu đạt chính nó qua hình ảnh mà tự ngã của con cầm giữ, thì tâm Ki-tô sẽ chứng nhận hình ảnh đó. Cái Ta Biết sẽ nghĩ cái nhìn của tự ngã về Ki-tô là cái nhìn tối hậu về Ki-tô và lẽ tất nhiên điều này có thể trở thành một khối đá khác buộc nặng vào cổ con.

Vì tự ngã sẽ không bao giờ nắm bắt được Ki-tô là gì. Thậm chí nó còn không hiểu được bằng trí năng bởi vì các thày đã nói gì nhiều lần? Ki-tô luôn luôn là hơn nữa. Ki-tô biểu hiện cái hơn nữa trong mỗi tình huống nhưng nó không phải là cái tối hậu, nó chỉ hơn một chút xíu và điều này giúp con người thấy được có nhiều điều mà họ có thể hiểu hơn, có thể nắm bắt hơn so với những gì họ đang hiểu ngay bây giờ. Ki-tô dẫn họ lên một bước cao hơn. Đó là Ki-tô.

Một lần nữa con thấy là giấc mơ biểu đạt Ki-tô tối hậu có thể phá hoại ngay cả một biểu đạt Ki-tô nhỏ nhất, do đó giấc mơ sẽ khiến con không bao giờ bắt đầu. Lẽ dĩ nhiên đây là mục tiêu lớn của tự ngã. Khi con nghe thấy con đường quả vị Ki-tô, tự ngã muốn con không bao giờ bắt đầu theo con đường đó. Nó muốn con theo con đường giả bắt Ki-tô chiều theo viễn kiến của tự ngã nhưng Ki-tô sẽ không bao giờ chiều theo. Cho nên, lúc ấy con làm gì? Con người làm gì khi họ đi con đường giả, con đường cánh tả? Họ dùng tự ngã để dựng một thần tượng về Ki-tô, quy định Ki-tô là gì và họ tìm cách sống theo thần tượng đó, khép mình theo thần tượng đó.

Có những ví dụ những người đạt được một số khả năng khuynh loát người khác, khuynh loát tâm, thậm chí điều khiển vật chất bằng cách đi theo con đường cánh tả. Đây không phải con đường mà các thày muốn giúp con đi. Các thày tìm cách giúp con đi con đường chân chính thật sự dẫn con tới quả vị Ki-tô.

5.8. Con đường chân chính tới quả vị Ki-tô

Cái gì có thể hướng dẫn con đi theo con đường chân chính? Đó là yếu tố cha trong bản thể con. Yếu tố cha là Hiện diện TA LÀ của con, nhưng cũng là tất cả các chân sư thăng thiên, những vị gần con nhất. Một nữ chân sư thăng thiên có thể đại diện cho yếu tố cha trong bản thể con nếu con sẵn lòng xin được hướng dẫn.

Chưa bao giờ có ai thăng thiên từ Trái đất bằng một bước nhảy vĩ đại, hay không có sự trợ giúp từ bên trên. Đây là toàn bộ ý tưởng về Ki-tô. Con hãy cẩn thận lắng nghe chỗ này. Một khi con đi vào tách biệt và nhị nguyên, con không thể tự mình thoát ra. Tâm con có thể lý luận để đi vào nhị nguyên và tách biệt. Nó không thể lý luận để thoát ra.

Chỉ có một con đường thoát duy nhất, đó là kết nối lại với tâm Ki-tô. Con không thể kết nối với tâm Ki-tô hoàn vũ, con chỉ có thể kết nối với một biểu hiện cá nhân của tâm Ki-tô, là một chân sư thăng thiên. Đấy là vai trò của các thày, vai trò mà các thày đã chọn. Đấy là vai trò các thày được giao phó. Các thày hoan hỉ hướng dẫn con nhưng các thày tôn trọng quyền tự quyết của con. Do đó, con phải hỏi, con phải hỏi với tâm cởi mở và càng trung hòa càng tốt.

Biết bao nhiêu đệ tử đã đến xin thày hướng dẫn nhưng họ nói trong tiềm thức: “Ôi Saint Germain, xin thày chứng nhận tự ngã của con! Con quả thực cảm thấy nếu thày chứng nhận tự ngã của con, đấy sẽ là chứng nhận cao nhất mà tự ngã của con có thể có được và con sẽ cảm thấy rất đỗi dũng mãnh và sung sướng.” Lẽ tất nhiên, thày không thể cho con điều con xin như thế vì làm như vậy sẽ giam con nặng hơn trong các ảo tưởng của tự ngã.

Đó là lý do tại sao yếu tố cha đôi khi phải phát mông em bé, nói một cách biểu tượng, phải mạnh tay kéo em bé ra khỏi niềm tin là nó đã hiểu hết mọi chuyện. Con có thể nghĩ, và nhiều người cũng nghĩ thế trải qua nhiều thời đại, là con đã hiểu hết mọi chuyện, nhưng họ chỉ làm được một chuyện là ngăn họ bước vào vương quốc Thượng đế. Bởi vì vương quốc Thượng đế ở đâu? Bên trong con. Không phải bên trong thể vật lý của con, không phải bên trong thể tình cảm của con, không phải bên trong thể lý trí của con, không phải bên trong thể bản sắc của con. Nó ở bên trong Con, bên trong cái Ta Biết. Cái gì ở bên trong cái Ta Biết? Hiện diện TA LÀ.

Tới đây thì thày đã cho con những gì thày muốn cho con, ngay cả nhiều hơn một chút. Thày cảm ơn các con đã chú ý, đã cho phép thày là vị cha như thày đã là cha cho Giê-su và như thày đã là cha cho Ki-tô sinh ra trong chính thày – hay ít ra Hiện diện TA LÀ của thày đã là cha. Tới đây, thày niêm con trong niềm vui của tim thày.

3 | Trong tâm Ki-tô có quá khứ hay tương lai chăng?

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên PadmaSambhava qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên PadmaSambhava. Một số người có thể nói: “Chẳng phải thày từ truyền thống Phật giáo mà ở đây lại là một hội nghị về quả vị Ki-tô?” Ấy, trước tiên, thày không phải từ truyền thống Phật giáo. Thày là một chân sư thăng thiên! Chẳng có chân sư thăng thiên nào từ bất kỳ truyền thống nào trên Trái đất. Bởi chưng làm sao con thăng thiên? Bằng cách con thăng vượt mọi truyền thống trên Trái đất – dù truyền thống này, truyền thống nọ, hay cái sắp tới. Chẳng có xiềng xích nào trên Trái đất có thể trói con khi con thăng thiên. Thăng thiên là toàn bộ tiến trình vứt quăng xiềng xích này trước tiên, rồi xiềng xích kế tiếp, rồi xiềng xích kế tiếp cho tới khi không còn xiềng xích nào nữa. Sau đó, con có thể bước vào cõi thăng thiên. Nếu con thấy thày đến từ một truyền thống nào đó thì con chưa hòa điệu với sinh thể thăng thiên mà THÀY LÀ.

3.1. Điều gì có thể hạn chế Ki-tô?

Sau đó, lẽ tất nhiên, là khái niệm quả vị Ki-tô. Đúng, có các từ quả vị Ki-tô, đấng Ki-tô, Ki-tô giáo. Quả vị Ki-tô có thể nào bị trói xích bởi bất kỳ truyền thống nào, tôn giáo nào trên Trái đất chăng? Có thể nào giới hạn nó trong học thuyết hay giáo điều, lễ nghi? Không đâu, quả vị Ki-tô là một trạng thái tâm thức cao hơn. Nó là Tâm Một, Tâm Một hợp nhất đấng Sáng tạo với tạo vật của ngài. Điều này cũng vượt lên trên bất cứ gì trên Trái đất. Con có thể chứng minh điều này khi đọc Phúc âm của John (Giăng). Ban đầu có Ngôi Lời. Ban đầu có tâm Ki-tô, Tâm Một. Trước khi bất cứ gì, bất cứ hình tướng nào xuất hiện thì có Tâm Một, tâm Ki-tô và chẳng vật chi được làm nên mà không bởi Nó. Trước tiên có tâm Ki-tô rồi sau đó có hình tướng.

Làm sao bất kỳ hình tướng nào có thể giới hạn cái đến trước nó? Đây là lời dối của sa nhân hay tâm phản-Ki-tô mà họ muốn con người trên Trái đất tin, rằng hình tướng có thể giới hạn nguồn gốc của nó mà nguồn gốc đó theo định nghĩa phải vượt lên trên hình tướng. Họ nói hình tướng có thể giới hạn cái vô tướng, cái vượt lên trên hình tướng. Nhìn ra lời dối này có khó chăng? À đây là thế bí, là bí ẩn. Con chỉ có thể thấy đó là lời dối khi con đã hòa điệu được phần nào với tâm Ki-tô. Hòa điệu này giúp con điều gì? À, nó cho con một khung tham chiếu vượt lên trên tranh luận, lý luận, suy nghĩ trí năng, giáo điều và học thuyết, thảo luận. Không điều gì trên Trái đất có thể trói xích tâm Ki-tô. Không hình tướng nào có thể trói buộc cái vô tướng. Nó chỉ có thể trói buộc chính nó và nó trói buộc con nếu con tin nó, nếu con tin hình tướng có thể giới hạn sự biểu hiện Ki-tô trong con.

Có phải điều thày nói mâu thuẫn với điều Mẹ Mary đã giảng giải cẩn thận chăng? Rằng sự biểu đạt quả vị Ki-tô cần thích ứng với hiện trạng trên Trái đất ngay bây giờ? Có phải chăng cốt lõi của điều Mẹ Mary nói là sự biểu hiện quả vị Ki-tô, là sự biểu hiện của cái vô tướng, phải bị giới hạn bởi, phải thích nghi với hình tướng đang có mặt ở đây ngay bây giờ? Có phải chăng thày đang nói ngược lại? Không đâu, một khi con nắm bắt là dù Ki-tô thích ứng với hình tướng như nó đang là ngay bây giờ, nhưng sự biểu hiện của Ki-tô luôn luôn vượt quá hình tướng. Đấy chính là toàn bộ mục tiêu. Mẹ Mary không nói là Ki-tô phải tuân theo hình tướng nhưng phải thích nghi với hình tướng. Tuy thế sự biểu hiện của Ki-tô vượt lên trên hình tướng như nó đang ở đó trong hiện tại, và bày tỏ cái gì vượt lên trên. Điều Mẹ Mary nói là biểu hiện Ki-tô không thể đi quá xa hình tướng khiến những ai vẫn còn đồng hóa với hình tướng không thể nắm bắt biểu hiện đó. Biểu hiện Ki-tô phải thích nghi với trình độ tâm thức của họ để họ thấy có cái gì hơn thế. Lúc đó họ có thể thấy gì khi trải nghiệm sự biểu hiện của tâm Ki-tô? À, họ có thể trải nghiệm có cái gì hơn hình tướng mà họ coi là quan trọng ngay lúc này.

3.2. Mẫu số chung cho tất cả mọi người

Con hãy nhìn chính mình, những người con quen biết, mọi người trên thế giới. Mẫu số chung của mọi người là gì? Có cái gì đó quan trọng với họ. Một cái gì trên Trái đất, một cái gì có hình tướng. Có cái gì trong vật chất quan trọng với họ. Khi con gặp Ki-tô, con có thể thấy là những điều trước kia rất quan trọng với con nay không còn quan trọng đến như vậy. Thày muốn cho các con ý tưởng này ở phần đầu hội nghị này. Con hãy quán chiếu nó khi con có chút thì giờ trong hội nghị hay sau hội nghị. Con có thể quán chiếu nó trước khi ngủ buổi tối. Con hãy quán chiếu: “Tại sao điều tôi coi là quan trọng lại quan trọng với tôi?” Tại sao điều con coi là quan trọng lại quan trọng với con? Con quán chiếu câu này.

Con sẽ thấy là có nhiều điều con coi là quan trọng. Các điều này không nhất thiết có hình tướng vật lý. Nó có thể là cách người khác nhìn con. Hay con nghĩ người khác đang nhìn con như thế nào. Hay con muốn người khác nhìn con như thế nào. Hay cách con thực sự nhìn chính mình, dựa trên cách người khác nhìn con – và vân vân và vân vân và vân vân. Khi con bắt đầu quán chiếu các điều này, con có thể thấy có nhiều điều mà con coi là quan trọng và có cái gì ẩn núp đằng sau mỗi điều mà con coi là quan trọng đó? À, lẽ dĩ nhiên là một ngã tiềm thức.

Đâu là chìa khóa thiết yếu để giải quyết bí ẩn tại sao điều con coi là quan trọng lại quan trọng với con? Đó là con tự hỏi: “Chúng quan trọng với cái ‘ta’ nào? Có phải là cái ta mà con thật sự là, cái Ta Biết? Hay đó là một cái ta vỏ ngoài?” Một cái ‘ta’ nào đó mà có thể con đã tạo ra nhiều kiếp trước, có thể do chấn thương nhập đời hoàn vũ, khiến con nghĩ cách thế gian nhìn con quan trọng với con. Cái ta này chỉ có thể nghĩ như vậy vì nó được tạo ra dựa trên tin tưởng, ảo tưởng là cách thế gian nhìn con quan trọng với con, cách hình tướng nhìn con quan trọng với con, cái Ta Biết.

Có bất cứ hình tướng nào quan trọng với cái Ta Biết chăng? Không, khi cái Ta Biết biết nó là nhận biết thuần khiết, là biểu hiện của Hiện diện TA LÀ. Khi nó biết nó là một sinh thể tâm linh đã đi xuống thế giới vật chất này và đang biểu hiện chính nó, đang tương tác với thế giới vật chất, qua nội dung của bốn thể phàm. Khi cái Ta Biết nhận ra rằng: “Tôi không phải là nội dung của bốn thể phàm này,” thì cái Ta Biết có thể tới điểm nhìn vào một điều đặc thù mà con coi là quan trọng, đã coi là quan trọng suốt đời này, suốt nhiều kiếp trước. Nó nhìn vào đó và trải nghiệm: “Ừ đúng rồi, nó quan trọng với cái ‘ta’ ngoài kia trong bốn thể phàm của tôi, nhưng nó không quan trọng với tôi.” Đó là lúc con được giải thoát, khi con thấy điều đó không quan trọng với con. Nó chỉ quan trọng với cái ta vỏ ngoài.

3.3. Cái ta thấy có chuyện quan trọng

Sau đó con có thể bắt đầu nhìn cái ta vỏ ngoài đó và con có thể bắt đầu thấy là có thể có một tình huống đặc thù, có thể có một tin tưởng đặc thù mà con đã chấp nhận, cho rằng cách thế gian nhìn con, cách thế gian phản ứng lại con, cách thế gian chấp nhận hay bác bỏ con, là điều quan trọng với con. Nhưng nó chỉ quan trọng với cái ngã đã được tạo ra và ngã này được tạo ra vì do một lý do nào đó con đã nghĩ cách thế gian phản ứng lại biểu hiện Ki-tô của con quan trọng với con, việc thế gian bác bỏ hay chấp nhận con quan trọng với con.

Điều này dễ hiểu. Như các thày đã nói, tất cả những người đã đầu thai trên Trái đất đều kinh qua cùng một tiến trình. Tất cả những người đã đầu thai trên Trái đất như những avatar, chúng ta đã tới đây vì muốn làm một điều gì. Chúng ta muốn thay đổi một điều gì. Bằng không chúng ta đã không tới đây. Khi con bắt đầu thấy một ngã và thấy là điều quan trọng với ngã không quan trọng với cái Ta Biết và con trải nghiệm con có thể thoát khỏi ngã đó – và khi con đã trải qua tiến trình này nhiều lần – thì con có thể tới điểm cái Ta Biết nhận ra thế gian chấp nhận hay bác bỏ biểu hiện Ki-tô của con chẳng quan trọng gì với con. Điều quan trọng là quả vị Ki-tô được biểu hiện. Hình thức của biểu hiện, phản ứng đối với biểu hiện không quan trọng, chính sự biểu hiện là quan trọng. Điều quan trọng là ánh sáng được cho phép tỏa sáng.

Đây có thể là điểm khởi đầu mà Mẹ Mary đã nói tới, khi con tới điểm Ki-tô trong con đã trưởng thành tới mức sẵn sàng biểu hiện trên thế gian. Lúc đó, con có thể biểu hiện Ki-tô với tâm thái không dính mắc: phản ứng của thế gian với biểu hiện Ki-tô trong con không quan trọng với cái Ta Biết. Nó không quan trọng với bất kỳ ngã nào, vì ngã đã được giải trừ. Con đã cho nó chết, như Ki-tô đã cho ngã cuối cùng chết trên thập tự để được tự do. Tất cả chúng ta đều đã phải làm cùng chuyện này để thăng thiên, nhưng con có thể làm mà chưa thăng thiên ngay lập tức. Con có thể đạt mức đó trong khi vẫn còn nhiều năm hay nhiều thập niên sống trong thân vật lý và do đó con có thể biểu hiện. Chuyện gì tới cứ tới, con vẫn biểu hiện. 

3.4. Tại sao có chuyện quan trọng?

Có điểm quan trọng cần quán xét để giải quyết bí ẩn của việc làm sao biểu hiện Ki-tô trên thế gian là xem xét: “À, tại sao tôi nghĩ có gì đó quan trọng?” Con có thể có một ngã đặc thù và có một hoàn cảnh đặc thù quan trọng với nó. Con có thể có nhiều ngã như thế. Đằng sau tất cả là con có cảm nhận con tới Trái đất với một ý định nào đó, như các thày đã đề cập tại hội nghị Hòa Lan. Vì vậy con có cảm nhận, ngay cả ở tầng cái Ta Biết, là cách người khác đón nhận hay bác bỏ con trên Trái đất quan trọng với con. Con nghĩ hình tướng quan trọng với con. Có một hình tướng đặc thù: “Tôi được chấp nhận hay tôi bị bác bỏ?” quan trọng với con, hình tướng này khác nhau với mỗi người trong chúng ta.

Trong dài hạn, con có thể quán xét điều sau: “Tại sao, như một sinh thể tâm linh, tôi nghĩ có điều gì đó trong vật chất quan trọng với tôi?” Sau đó con có thể xem xét: “Khi nào điều đó quan trọng với tôi? Khi nào trong thời gian điều đó quan trọng với tôi?” Con sẽ thấy có những ngã nhìn lại điều gì đó đã xảy ra trong quá khứ. Có thể năm phút trước. Có thể trước đây trong kiếp sống này. Có thể nhiều kiếp trước. Có thể trong kiếp đầu tiên của con đến Trái đất khi con gánh chịu chấn thương nhập đời hoàn vũ. Có một ngã nhìn về quá khứ và nghĩ: “Ồ, có chuyện gì đó đáng lẽ không được xảy ra nhưng lại xảy ra. Giờ đây tôi phải tìm cách bù đắp, giải thích, biện minh, phân tích, tìm hiểu nó.” Con có thể thay đổi chuyện xảy ra trong quá khứ chăng? Thậm chí điều xảy ra năm phút trước?

(Sứ giả thỉnh chuông)

Có bất kỳ uy lực nào trên Trái đất thay đổi được âm thanh từ cái chuông này chăng? Rút lại âm thanh đó chăng? Không đâu. Nhưng âm thanh đó bây giờ đâu rồi? Âm thanh đó ở đâu? Nó ở đây một phút trước, một lúc trước. Nó ở đâu bây giờ trong vật chất? Đúng âm thanh này ở trong vật chất. Con có thể nghe thấy nó bằng hai tai vật lý. Do đó, âm thanh có trong vật chất. Con có còn nghe thấy nó chăng? Âm thanh bây giờ ở đâu? Nó không còn ở đó nữa. Cái xảy ra trong quá khứ không còn có mặt trong vật chất. Nếu nó không còn trong vật chất nữa, thì tại sao nó lại quan trọng với con? Bởi vì con đã tạo ra một cấu trúc trong tâm con và với ngã đó, điều xảy ra trước kia trong vật chất vẫn quan trọng với nó trong lúc này. Nó có cần quan trọng trong lúc này chăng khi nó không còn nữa trong vật chất?

3.5. Điều đã xảy ra không còn nữa trong vật chất

Con thấy đấy, vấn đề là con thay đổi cách con nhìn vật chất và thời gian. Cái không còn nữa trong vật chất không có tác dụng vật lý trên con. Nó chỉ có thể có tác dụng mà con mang theo trong bốn thể phàm của con. Đó là một ngã, đó là năng lượng. Năng lượng có thể được chuyển hóa. Ngã có thể cho chết đi. Con có thể quán xét: “Tôi có những ngã nào nhìn về quá khứ, muốn giải quyết điều gì đó xảy ra xa xưa đến độ không ai ngoài tôi còn nhớ tới? Có lẽ không ai ngoài tôi chú ý tới?” Cái “tôi” ấy là một ngã, không phải là cái Ta Biết. Và khi cái Ta Biết bước ra ngoài ngã, nhìn ngã, thì nó có thể nói: “Tại sao điều không có mặt nữa trong vật chất lại quan trọng với tôi?”

Con có thể cho những ngã nhìn về quá khứ này chết đi, từng ngã một. Sau đó, con có thể nhìn những ngã khác đang nhìn tới tương lai và mong chờ điều gì phải xảy ra hay điều kia không được xảy ra. Những ngã này từ đâu tới? Ấy, một số được tạo ra trên Trái đất vì con từng trải nghiệm hành tinh Trái đất là một nơi rất khó sống. Con không thể kiểm soát điều gì xảy ra hay không xảy ra. Con không thể tiên đoán điều gì xảy ra hay không xảy ra. Nó chỉ xảy ra một cách bất ngờ. Con học cách tạo ra những ngã có thể tiên đoán chuyện có thể xảy ra vì con nghĩ: “Không gì tệ bằng bị chuyện bất ngờ mà không chuẩn bị. Nếu ít nhất tôi tiên đoán trước thì tôi sẽ không bị bất ngờ. Và khi ấy, tôi có thể đối phó tốt hơn.” Con nghĩ thế. 

Sau đó, con mang ngã này trong con từ kiếp này sang kiếp khác, lúc nào cũng canh chừng chuyện gì có thể xảy hay chuyện gì không được xảy ra. Nhưng tương lai có mặt chăng trong vật chất ngay bây giờ? Không. Tại sao điều không có mặt ở đây trong vật chất lại quan trọng với cái Ta Biết khi nó không ở trong vật chất vì nó là tâm linh. Con có cần biết chuyện gì sắp xảy ra chăng? Con có cần chuẩn bị cho mọi chuyện có thể xảy ra chăng? Không đâu, nếu con buông bỏ những ngã này và nhận ra: “Nếu tôi là cái Ta Biết, thì tôi không ở trong vật chất, cho nên bất kỳ gì xảy ra trong vật chất không quan trọng với tôi khi nó xảy ra. Cũng chẳng quan trọng với tôi nếu nó không xảy ra.” Một lần nữa chỉ là vấn đề tôi xoay chuyển tầm nhìn.

3.6. Ki-tô không có mặt trong quá khứ hay tương lai

Khi con dần dần buông bỏ những ngã này, thì con còn lại gì trong con? Hiện tại. Ki-tô có mặt trong quá khứ chăng? Ki-tô có mặt trong tương lai chăng? Không đâu. Ki-tô vượt lên trên vật chất. Thời gian là một chức năng của vật chất. Cho nên Ki-tô vượt lên trên thời gian. Có nghĩa là Ki-tô có mặt trong hiện tại. Không có quá khứ trong tâm Ki-tô. Không có tương lai trong tâm Ki-tô. Chỉ có hiện tại, nhưng hiện tại không đứng yên. Hiện tại là hiện tại vĩnh cửu tuôn chảy không ngừng: đó là Dòng sông sự Sống.

Giờ đây, tâm vỏ ngoài sẽ nói: “Nhưng thời gian cũng tuôn chảy. Thời gian tuôn chảy không ngừng. Tôi có thể nhìn đồng hồ. Có mũi kim đếm giây. Một giây, hai giây, ba giây. Nó không ngừng đếm. Nó không bao giờ ngừng.” Có thể khi con còn nhỏ con thường nhìn chiếc đồng hồ lớn của cha mẹ treo trên tường và con thấy kim đồng hồ cứ kêu tích tắc và tích tắc và tích tắc và cứ chuyển động. Tâm con bị thu hút bởi điều này. Con không thể rời mắt được và con tự hỏi: “Chuyện này có nghĩa là gì? Chuyện gì đang xảy ra? Làm sao thời gian có thể cứ tiến tới?”

Con thấy chăng, có khác biệt giữa thời gian trong vật chất và Dòng sông sự Sống. Vì thời gian trong vật chất dựa trên quá khứ và tương lai, nhưng Dòng sông sự Sống ở trong hiện tại miên viễn, hiện tại tuôn chảy. Khi con đạt quả vị Ki-tô con không còn kéo lê theo con một quá khứ. Con không còn trông chờ một tương lai mà con sẽ xây dựng với lòng mong ngóng hay niềm sợ hãi run sợ. Con chỉ tuôn chảy từ hiện tại tới hiện tại. Bất kỳ hiện tại đem tới gì, con biểu đạt Ki-tô trong hoàn cảnh đó.

Đây là lý duyên khởi. Nó chuyển động không ngừng. Lúc ấy, con không có quá khứ trì kéo con, con không có tương lai xô đẩy con. Con chảy theo dòng chảy và con biểu đạt sự hơn nữa của tâm Ki-tô trong mọi hoàn cảnh. Con không có ý niệm điều gì đã xảy ra, điều gì đáng lẽ phải xảy ra, điều gì đáng lẽ không được xảy ra. Con không có ý niệm điều gì sắp xảy ra, điều gì phải tới hay không được tới. Cho nên con không có cấu trúc nói: “Tôi không thể biểu đạt Ki-tô trong hoàn cảnh này. Tôi cần hoàn cảnh thích hợp để có thể biểu đạt Ki-tô.” Khi con ở trong hiện tại, hoàn cảnh hiện tại luôn là hoàn cảnh thích hợp vì con đã thăng vượt đúng hay sai. Con chỉ đơn thuần biểu đạt trong hiện tại. Vì chỉ có hiện tại là quan trọng. Hiện tại nào? Hiện tại này. Này. Này. Này. Cái hiện tại có mặt ở đó.

Thày biết thày đã làm tâm đường thẳng của con bị rối loạn và đấy chính là ý định của thày vì con không thể dùng suy nghĩ để đạt quả vị Ki-tô. Con không thể hiểu nó. Con không thể nắm bắt nó. Con không thể quy định nó dựa trên vật chất và nói: “Quả vị Ki-tô phải được biểu đạt như thế này”.

Thày đã phát biểu những gì thày muốn phát biểu trong hiện tại này và thày cảm kích được có cơ hội này. Cho nên thày niêm các con trong tình thương của trái tim thày. TA LÀ PadmaSambhava và Ta vượt lên trên thời gian. Ta luôn luôn ở trong Hiện tại.

1 | Quả vị Ki-tô không xảy ra tức khắc

Bài truyền đọc của chân sư thăng thiên Mẹ Mary qua trung gian Kim Michaels, ngày 6 tháng 6 năm 2025, nhân dịp hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc với chủ đề: là Ki-tô Hằng sống trong đời sống hàng ngày.

TA LÀ Chân sư Thăng thiên Mẹ Mary và thày cảm ơn tất cả các con đã có mặt hôm nay – các con hiện diện tại đây và các con hiện diện qua mạng Internet – và chào đón các thày, các chân sư thăng thiên, đến Hàn Quốc. Lẽ tự nhiên, khi thày nói “chào đón các thày” thì nghe như các thày ở rất xa và đến đây tham dự hội nghị này, nhưng như nhiều người trong các con đã trải nghiệm, các thày luôn luôn ở bên các con – vì các thày không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Giờ đây, nếu các con nhìn ngược lại năm 2002, khi các thày bắt đầu làm việc với vị sứ giả này, thì con thấy là các thày đã trao truyền một lượng giáo lý to lớn chung quanh chủ để quả vị Ki-tô. Lẽ tất nhiên, các thày cũng đã trao truyền giáo lý về quả vị Ki-tô trong các đợt truyền giáo trước, với các tổ chức Phong trào TA LÀ (I AM Movement) lẫn Hải đăng trên Đỉnh (Summit Lighthouse). Con có thể nói là đã có rất nhiều giáo lý về quả vị Ki-tô. Còn có thể nói gì thêm nữa? À, chắc chắn chân sư MORE sẽ nói là lúc nào cũng có thể có điều gì hơn nữa mà ta có thể nói. Chắc chắn là thày cũng nói như vậy. Các thày cảm ơn các con ở Hàn Quốc đã có thể hòa điệu với chủ đề “Là Ki-tô trong đời sống hàng ngày” và lẽ tất nhiên đây là thách đố lớn nhất liên quan đến quả vị Ki-tô.

1.1. Thách thức lớn nhất liên quan đến quả vị Ki-tô

Khi chúng ta nhìn ngược về các thời đại trước, nhìn về các đợt truyền giáo trước và đợt truyền giáo này, thì ta thấy là nhiều người rất dễ đạt được một hiểu biết trí năng về quả vị Ki-tô – nó là gì, có thể định nghĩa nó ra sao. Thách thức luôn luôn là làm sao áp dụng nó, và đặc biệt là áp dụng nó vào đời sống hàng ngày. Khi con nhìn lại thiên niên kỷ vừa qua, con thấy là nhiều người đã tìm ra một giáo lý tâm linh, một con đường tâm linh đề cập đến những trạng thái tâm thức cao hơn. Họ đã cảm thấy cần phải rút lui khỏi thế gian, ở một nơi cách ly với thế gian, và sau đó tìm cách trau dồi trạng thái tâm thức cao hơn đó.

Rất ít đã có thể sau đó ra khỏi trạng thái thiền định đó để áp dụng và chứng minh trạng thái tâm thức cao hơn đó trong đời sống hàng ngày. Một số ít hơn nữa đã có thể biểu lộ, chứng đạt trạng thái tâm thức đó khi sống một cuộc sống bình thường, năng động. Như các thày đã giảng, đây chính thực là thách thức của Thời đại Bảo bình. Các con đã sẵn lòng chiêm nghiệm chủ đề này và là những người tiên phong trong cuộc xoay chuyển tâm thức này, sẽ trở nên, sẽ chắc chắn trở nên một hiện tượng toàn cầu trong hàng ngũ các người tâm linh. Họ sẽ nhận ra là đời sống tôn giáo và đời sống thế tục có thể cách biệt, nhưng quả thực không có phân cách giữa tâm linh và đời sống hàng ngày.

Thách thức của Thời đại Bảo bình chính là đem tâm linh vào mọi khía cạnh của đời sống. Đây là một chủ đề mà lẽ tất nhiên các thày sẽ giảng giải thêm trong suốt hội nghị này. Các thày sẽ trình bày một cách hơi khác cách mà các thày đã dùng trước kia. Các thày sẽ trình bày từ nhiều góc độ khác nhau. Cách các thày trình bày sẽ có thể khiến con cảm thấy bối rối – và, con yêu dấu, đây không những là các thày cố ý làm như vậy, nhưng nếu con cảm thấy bối rối thì con hãy ghi nhớ khái niệm bối rối tuyệt vời. Bị bối rối về quả vị Ki-tô là điều rất tốt, ít ra là trong một thời gian. Quả thực những người không bị bối rồi về quả vị Ki-tô và nghĩ rằng họ đã biết hết mọi chuyện thường là những người xa cách nhất việc đạt và áp dụng quả vị Ki-tô, chắc chắn là áp dụng quả vị Ki-tô vào đời sống hàng ngày.

1.2. Giáo lý bên trong về quả vị Ki-tô

Vậy thày muốn nói gì để khai mạc hội nghị này? À, thày muốn nói về câu chuyện thụ thai và sinh ra Giê-su. Giờ đây, nếu con đọc kinh điển, Tân Ước kinh, thì có một câu mà rất ít người Cơ đốc giáo để ý, nhưng đó là một câu cơ yếu trong bộ kinh. Câu đó giản dị là: “Giê-su dùng ẩn dụ để giảng dạy cho đại chúng. Nhưng khi ở riêng với các đệ tử thì thày giảng giải cặn kẽ mọi thứ cho họ.” Ngay đây, con có câu nói không chối cãi được trong kinh điển về việc Giê-su giảng dạy hai trình độ khác nhau, một trình độ phổ quát cho giới đại chúng và một trình độ bí truyền, thần bí, trực tiếp hơn cho các tông đồ.   

Câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra là: sau hai ngàn năm, 17 thế kỷ sau khi giáo hội Công giáo được thành lập, tại sao có quá ít người tự gọi mình là tín đồ Cơ đốc giáo tìm hiểu giáo lý thần bí, bên trong mà Giê su trao truyền cho các tông đồ đó là gì? Vì sao họ lại chú tâm quá nhiều vào những gì ghi trong kinh điển thay vì suy ngẫm những điều mà chính kinh điển nói là không có trong kinh điển? Lúc đó, họ có thể nào góp ý này với câu sau đây của Giê-su: “Ta sẽ luôn luôn ở bên các con,” và “Ta sẽ gửi đến một đấng an ủi sẽ ở bên các con”. Họ có thể nào với vào trong tim để chạm được giáo lý thần bí trực tiếp từ chính Giê-su? Một ít người được gọi là Cơ đốc thần bí đã làm được điều này, nhưng chỉ có rất ít. Lẽ tất nhiên, thời nay có nhiều người hơn sẵn sàng làm điều này, trong đó có các con.

Giáo lý bên trong đó là gì? À, sau đây chắc chắn là một cách để định nghĩa nó. Giáo lý bên trong là giáo lý vượt quá giáo lý bên ngoài, nhưng giáo lý bên ngoài là gì? Ấy, con thấy gì nơi đa số người theo Cơ đốc giáo, những người không sẵn lòng với lên giáo lý thần bí? Họ nhìn giáo lý bên ngoài, họ nhìn kinh điển, họ muốn áp dụng kinh điển theo sát nghĩa đen. Họ muốn diễn giải kinh điển theo sát nghĩa đen, ít nhất là theo đúng học thuyết, của Giáo hội Chính thống Phương đông hay Giáo hội Công giáo, nhưng làm sao lại có thể có một lối diễn giải sát nghĩa đen? Ta có thể có một cái gì sát nghĩa đen hay một diễn giải, và không có diễn giải nào không phải là một cách diễn giải.

1.3. Tất cả là một biểu tượng mang một ý nghĩa thâm sâu hơn

Thày muốn nói gì qua câu trên? À, nếu con mở lòng đón nhận giáo lý thần bí của Ki-tô, thì con hãy suy ngẫm điều này: mọi chuyện trong kinh điển, mọi điều mà Giê-su giảng dạy cho đại chúng, đều là một biểu tượng. Dụng ý của Giê-su là không nên hiểu theo sát nghĩa đen. Chúng là các biểu tượng mang một ý nghĩa thâm sâu hơn khi nhìn quá hình dáng vỏ ngoài. Đây chính là cốt lõi của phương pháp thần bí. Con nhìn quá hình dáng vỏ ngoài, và con dùng trực giác để nắm bắt ý nghĩa thâm sâu hơn mà con không thể nắm bắt bằng tâm vỏ ngoài, trí năng, tâm phân tích. Điều thày muốn dẫn tới là khi con lấy câu chuyện Giê-su sinh ra và lớn lên, thì có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Lẽ tất nhiên, có nhiều lớp ý nghĩa thâm sâu, nhưng có một ý nghĩa mà thày muốn các con chú ý.

Con thấy chăng, con có thể đọc kinh điển và nói: “Có một cô thiếu nữ tên Mary. Cô đang sống cuộc đời của mình, nghĩ cuộc đời cô đang đi theo một hướng nào đó. Rồi một ngày có một vị thiên thần xuất hiện và cho cô biết là cô sẽ sinh ra hài nhi Ki-tô.” Nhiều người đọc câu chuyện này và nghĩ: “Ồ, chắc hẳn phải có một thiên thần có thể mắt thấy tai nghe đã hiện ra cho Mary.” Nhưng thực ra đây chỉ là một cách trình bày biểu tượng. Thày có một trải nghiệm nội tâm, trực giác, thần bí. Thày không cần thấy một hình ảnh vật lý xuất hiện, vì thày sẵn lòng nghe theo trực giác của thày, và đa số các con cũng vậy.

Đây là sự khác biệt giữa một người thần bí và một người chưa lên tới trình độ thần bí. Những người chưa đạt tới trình độ thần bí muốn thấy một sự việc hấp dẫn tâm vỏ ngoài, tâm phân tích, tâm suy luận, một điều mà họ có thể hiểu, có thể nắm bắt, có thể dùng tâm trí để hiểu thấu sau nhiều nỗ lực và để vào một chiếc hộp tư duy nhỏ xinh xắn, và như vậy họ cảm thấy kiểm soát được nó và không bị nó làm xáo trộn. Chắc chắn là sự việc đó không đòi hỏi họ phải thay đổi cách sống, đình chỉ cuộc sống bình thường và bỗng nhiên đi theo một hướng khác.

1.4. Tâm linh là buông bỏ kiểm soát

Con thấy chăng, với những người chưa đạt tới trình độ thần bí thì cuộc đời cốt yếu là kiểm soát, tâm linh cốt yếu là kiểm soát. Nhưng khi con đạt trình độ thần bí thì con buông bỏ ý muốn kiểm soát. Con buông bỏ ý muốn làm chủ tình hình của tâm vỏ ngoài. Con sẵn lòng lắng nghe lời nói nhỏ, tĩnh lặng, thần bí đến từ bên trong và theo nó. Chẳng phải đó là lý do vì sao tất cả các con ở đây? Chắc chắn đây là lý do vì sao vị sứ giả này có mặt ở đây, vì ông không cần mắt thấy một hiện tượng vật lý để thay đổi cuộc đời theo một hướng hoàn toàn khác, và quả thực ông đã làm điều này nhiều lần. Con thấy chăng, khi con xem câu chuyện Giê-su giáng sinh, thì con thấy có một ý nghĩa biểu tượng thâm sâu hơn và đó là: Ki-tô có thể nảy sinh nơi tất cả mọi người, nhưng để Ki-tô có thể tăng triển và trưởng thành thì nó cần được nuôi dưỡng bởi yếu tố mẹ, Ngọn lửa Mẹ.

Điều này có nghĩa gì cho riêng cá nhân con? Nó có nghĩa là con phải bắt đầu nhìn nhận và chấp nhận là Ki-tô có thể nảy sinh trong con. Thêm nữa, con hãy ghi nhận là Ki-tô sẽ không nảy sinh như một người trưởng thành mà như một hài nhi cần được nuôi dưỡng. Con thấy có rất nhiều người, thậm chí những người đã tìm ra giáo lý tâm linh (và ngay cả giáo lý chân sư thăng thiên) và họ đến với giáo lý với ý muốn kiểm soát của tâm vỏ ngoài. Khi họ nghe nói tới quả vị Ki-tô thì họ nghĩ tất cả điều này phải xảy ra cùng một lúc. Cần phải có một xảo thuật thần diệu nào đó, một công thức bí mật nào đó, một hòn đá thần diệu có khả năng biến mọi thứ thành vàng, nhờ đó họ có thể búng ngón tay và ngay tức khắc họ là Ki-tô, trong sự trọn vẹn của Ki-tô. 

1.5. Quả vị Ki-tô không xảy ra tức khắc

Con thấy đấy, chuyện này không bắt đầu như thế cho bất cứ ai trong chúng ta. Quả vị Ki-tô bắt đầu như một hài nhi được sinh ra trong chúng ta. Lúc ban đầu, nó cần được bảo vệ, nó cần được nuôi dưỡng, nó cần được hướng dẫn vì nó chưa sẵn sàng giáp mặt thế gian và sự chống đối Ki-tô đến từ thế gian. Hình ảnh mà thày muốn đưa ra cho các con ở đây là quả vị Ki-tô không phải là một biểu hiện tức khắc. Trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ có một ai đã từ giây phút này sang giây phút sau xoay chuyển từ một trạng thái tâm thức bình thường sang trạng thái tâm thức cao nhất có thể có trên trái đất.

Con có thể nhìn trở về tất cả mọi truyền thống tâm linh, ít ra là các truyền thống đích đáng, và con sẽ thấy là họ đều nói cùng một chuyện tuy ngôn từ khác nhau. Họ có thể nói đến Niết bàn, giác ngộ, hay trạng thái tâm thức cao hơn, nhưng cốt yếu họ nói cùng một chuyện, đó là một trạng thái tâm thức cao hơn, là điều mà các thày ở đây gọi là quả vị Ki-tô. Nó phải bắt đầu như một hài nhi được sinh ra, dần dần lớn lên và trưởng thành cho tới khi nó sẵn sàng biểu lộ với thế gian. Đây là hình ảnh mà thày muốn đưa ra cho các con ở đây.

Một số trong các con đã theo đuổi con đường tâm linh từ lâu năm. Một số trong các con đã có Ki-tô nảy sinh trong mình trước đây khá lâu và nó đã tăng trưởng tới một tầm vóc nào đó. Tuy nhiên, con vẫn nên chiêm nghiệm là Ki-tô bắt đầu nảy sinh trong con như một hài nhi, sau đó dần dần lớn lên và trưởng thành. Tất cả các con sẽ đều được lợi lạc khi nhìn trở lại con đường tâm linh của mình từ khi tìm thấy giáo lý lần đầu, nghe thấy khái niệm Ki-tô và thấy: “Tôi đã có nuôi dưỡng đủ Ki-tô trong tôi chăng? Tôi đã có bảo vệ nó đủ khỏi các xàm xỡ của thế gian chăng? Tôi đã có thể chăng nuôi dưỡng nó hơn, hướng dẫn nó hơn, và cho nó thêm chút thời gian để lớn lên?”

Có những lúc con nghe các thày đề cập đến chuyện các con biểu lộ quả vị Ki-tô của mình, và con có thể quyết định với tâm vỏ ngoài là con sẽ làm chuyện này. Thày chỉ nói rằng có lẽ con nên bước lui lại và tự hỏi: “Em bé Ki-tô trong tôi có sẵn sàng giáp mặt thế gian chưa?” Nó có đã trưởng thành như lúc Joseph và thày dẫn Giê-su tới ngôi đền ở Jerusalem, là biểu tượng của việc em bé Ki-tô đã sẵn sàng giáp mặt thế gian? Hay có thể chăng là con cần được nuôi dưỡng thêm chút nữa trước khi con sẵn sàng? Con hãy nhìn chính mình. Con có trong tâm ý tưởng là Ki-tô sẽ đột nhiên phóng ra trong sự trọn vẹn của nó chăng? Từ lúc này sang lúc kế tiếp con sẽ xoay chuyển từ một người phàm thành Ki-tô trong sự trọn vẹn của Ki-tô. Nếu con thấy mình nghĩ như vậy thì các thày không nói điều này để trách cứ con nhưng muốn cho con biết đây là một hình ảnh rất xưa cũ mà con có thể tìm thấy nơi nhiều truyền thống tâm linh có đề cập đến các trạng thái tâm thức cao hơn – đó là khái niệm trạng thái tâm thức cao hơn biểu hiện tức khắc. Và như thày có nói, điều này không thiết thực.

1.6. Đạt quả vị Ki-tô tức khắc là một khái niệm của sa nhân

Đây chính thực là một hình ảnh mà sa nhân đã cài vào tâm thức tập thể vì, như các thày đã giải thích nhiều lần, họ làm tất cả mọi chuyện họ có thể làm để ngăn con người biểu lộ quả vị Ki-tô. Nếu con theo đuổi hũ vàng ở cuối cầu vồng là trạng thái tâm thức cao đột nhiên xuất hiện, thì con sẽ mãi mãi theo đuổi nó. Tại sao? Bởi vì hình ảnh đó là gì? Hình ảnh là: “Tôi đang không là Ki-tô, nhưng tôi có thể bỗng nhiên trở thành Ki-tô. Tôi chỉ không biết bằng cách nào. Nhưng một ngày kia chuyện đó sẽ xảy ra, nếu tôi cứ tiếp tục làm chuyện này hay làm chuyện nọ.” Con yêu dấu, quả vị Ki-tô sẽ không bao giờ xảy ra như vậy.

Nó sẽ xảy ra một cách từ lần giống như khi con nuôi dưỡng hài nhi Ki-tô, cho nó thời gian để trưởng thành cho tới khi nó sẵn sàng xuất hiện trước thế gian và biểu lộ chính nó qua con. Đây là cách duy nhất chuyện này đã xảy ra trong quá khứ, cách duy nhất chuyện này sẽ xảy ra trong tương lai. Tại sao? Bởi vì khi con quan sát em bé Ki-tô lớn lên trong con thì con giảm thiểu khoảng cách giữa con và Ki-tô. Con tăng trưởng cùng với nó. Bây giờ thày biết tâm vỏ ngoài của con có thể hỏi: “Vậy thì Ki-tô là gì? Chẳng phải nó là trạng thái tâm thức cao trội toàn hảo, biết hết mọi chuyện?” Con thấy chăng, ở đây chúng ta đang không nói tới Ki-tô trong trạng thái cao nhất của nó. Chúng ta đang nói tới việc thể hiện quả vị Ki-tô trong đời sống thường ngày.

Con có nắm bắt chăng biểu tượng đằng sau câu chuyện Giê-su sinh ra và lớn lên cho tới khi sẵn sàng khởi sự sứ vụ của mình? Lẽ tất nhiên, có nhiều tín đồ Cơ đốc giáo muốn nghĩ rằng Giê-su đã toàn hảo từ khi sinh ra, nhưng ngay cả kinh điển vỏ ngoài cũng không hỗ trợ quan điểm này, còn hiểu biết nội tâm thì chắc chắn không. Giê-su chứng minh một con đường tuần tự. Thày đồng ý là kinh điển không nói nhiều về điều này. Tuy nhiên, Giê-su đã chứng minh con đường tuần tự, ngay cả trong ba năm cuối của sứ vụ của thày.

Khi con xem xét câu chuyện – một lần nữa đây là một chuyện ngụ ngôn, một biểu tượng – bữa tiệc cưới ở Cana, thì tại sao thày, như nhân vật bà mẹ, đã phải can thiệp và bảo Giê-su phải tiến hành chương trình bằng cách ngưng than phiền và biến nước thành rượu?

1.7. Ki-tô cần được Mẹ nuôi dưỡng

Con thấy chăng, Ki-tô cần được mẹ nuôi dưỡng. Tại sao? Vì bà mẹ tiếp giáp với thế giới mẹ, thế giới Mẫu-Vật, như nó đang là ngay bây giờ – còn rất xa trạng thái toàn hảo. Con có thể nói là Ki-tô, tâm Ki-tô trong khía cạnh hoàn vũ, không biết những gì đang xảy ra trên một hành tinh như trái đất. Để Ki-tô có thể được biểu lộ trên trái đất dưới một hình thức có thể thực sự giúp những con người đang bị giam hãm trong tâm thức phản-Ki-tô, thì Ki-tô phải học cách thích nghi sự biểu lộ của mình theo các thực tại thực tế của đời sống trên trái đất. Ai có thể dạy em bé Ki-tô điều này hay hơn bà mẹ là người tiếp cận gần kề hơn cõi vật lý trong trạng thái hiện tại, rất bất toàn của nó trên trái đất.

Đó là vai trò của thày khi thày hướng dẫn Giê-su trong lúc khôn lớn: đó là giúp Giê-su nhận ra dù Giê-su có một viễn quan, có nhiệt huyết, nhưng có một thực tại thực tế trên trái đất. Để sứ vụ được thành công, Giê-su cần biết điểm này, cảm nhận được điều đó, trải nghiệm độ dày đặc của trái đất và thích ứng sự biểu lộ quả vị Ki-tô theo đó. Con có thể nói Giê-su đã có thể trở thành một đạo sư thiết lập một tu viện ở nơi nào đó xa xăm trong đồi núi và thu hút đệ tử tới ngồi dưới chân thày, tiếp nhận hào quang và lắng nghe các lời giảng hoa mỹ mà không ai hiểu được của thày. Nếu vậy thì Giê-su đã không hoàn thành được sứ vụ vào đầu thời đại Song ngư. Giê-su cần khoảng thời gian ba năm khi thày đi khắp các nẻo đưởng bụi bặm, nóng bức của vùng Palestine, gặp gỡ người dân, tiếp cận họ và trao truyền một giáo lý ít ra cũng một phần thích nghi với trình độ tâm thức của họ. Tuy có nhiều lúc nhiệt huyết của thày đi quá trớn và thày nói những lời vượt quá xa những gì con người sẵn sàng tiếp nhận vào thời đó – và ngay cả nhiều người thời nay vẫn chưa sẵn sàng tiếp nhận.  

Con thấy đấy, chúng ta không nói chuyện con là Ki-tô một cách cao xa nào đó, trao truyền một minh triết vô biên, vĩnh cửu mà không ai sẵn sàng đón nhận. Chúng ta đang nói chuyện là Ki-tô trong đời sống hàng ngày. Ấy vậy, con cần phải biết đời sống thường ngày như thế nào, phải không con? Vậy con nên thích ứng cách biểu lộ quả vị Ki-tô vào các thực tại của đời sống thường ngày. Với tâm thức của con người khi họ tham gia ngay lúc này vào đời sống thường ngày trên hành tinh tăm tối này. Một lần nữa, con nên nhớ câu chuyện chén nước mát nhân danh Ki-tô. Con không giúp người đang sắp chết khát bằng cách cho họ những lời minh triết hoa mỹ khi điều họ thực sự cần là một chén nước mát. Giê-su đã có thể truyền một giáo lý thâm sâu hơn nhiều những gì thày dạy, nhưng thày đã rất mau chóng nhận ra là đa số con người không sẵn sàng đón nhận giáo lý đó.

1.8. Ki-tô thích ứng với hoàn cảnh hiện hữu

Bây giờ thì thày trở lại điều thày giảng lúc đầu bài này: “Khi Giê-su ở riêng với các đệ tử thì thày giảng cặn kẽ mọi chuyện cho họ.” À, “mọi chuyện” là nói hơi quá đáng, nhưng tuy thế khi ở riêng với các đệ tử (không phải chỉ có 12 tông đồ nhưng nhóm thân cận chung quanh Giê-su) thì thày đôi khi là một sứ giả trao truyền một thông điệp cao hơn, một thông điệp đến từ các chân sư thăng thiên. Ngay cả các đệ tử cũng không sẵn sàng đón nhận thông điệp đó và đa số đã không thấu hiểu. Những lúc đó Giê-su học bài học là vì các thực tại của thời đó, những gì có thể biểu lộ có giới hạn.

Vì lý do đó các thày, là những chân sư thăng thiên ngày nay có thể làm việc qua một sứ giả được bảo trợ trong cõi vật lý, rất biết ơn được cơ hội trao truyền một giáo lý cao hơn không thể trao truyền 2000 năm trước đây. Hay 2500 năm trước, khi đức Phật hiện thân trong cõi vật lý. Ngày nay, tâm thức con người cao hơn và các thày có thể trao truyền nhiều giáo lý hơn. Tuy thế, các con có thể xem xét tất cả các giáo lý mà các thày đã trao truyền trong 100 năm vừa qua và thấy là còn có thể trao truyền hơn rất nhiều nữa. Như các thày có nói trước đây, toàn bộ giáo lý có thể được trao truyền trong bầu cõi chưa thăng thiên này có thể ví như đại dương, và những gì các thày đã trao truyền cho tới nay chỉ là một muỗng. Đó là một muỗng không quá nhỏ, tuy thế, nếu so với đại dương thì, à, còn có thể có nhiều hơn nữa.

Thày không có ý định giảng một bài dài, vì còn có nhiều chân sư khác cũng muốn lên tiếng tại hội nghị này, và các thày sẽ trình bày từ nhiều tầm nhìn, nhiều góc độ khác nhau. Do đó, thày cảm ơn đã có cơ hội khai trương hội nghị này, và thày khuyến khích các con suy ngẫm hình ảnh Ki-tô đang được nảy sinh trong các con.

Nếu con là người mới tới với giáo lý này, thì có thể là Ki-tô hài đồng đang được sinh ra trong con ngay lúc này. Nếu con đã ở với giáo lý một thời gian rồi, thì có thể điều này đã xảy ra trước đây khá lâu. Tuy thế, em bé này ngày nay đã phát triển tới đâu rồi? Có thể chăng nó cần được nuôi dưỡng thêm? Có thể chăng nó cần vài lời khuyên răn, của mẹ hiền, từ con? Hay đôi lời tham vấn, một chút hướng dẫn? Phải chăng nó cần một chút giới hạn, để nó không bộc lộ với nhiệt tâm làm người khác kinh ngạc, và thay vào đó nhạy cảm hơn với trình độ hiện tại của họ?

Ki-tô không cần đạt được một thành quả tối hậu. Đây lại là một lời gian dối khác mà sa nhân đã gieo vào tâm thức tập thể. Không có thành quả tối hậu nào trên một hành tinh như trái đất, cũng nhự thế trong một bầu cõi chưa thăng thiên, hay cũng như thế trong bầu cõi đã thăng thiên lên đến tận đấng Sáng tạo. Ngay cả tâm thức đấng Sáng tạo cũng không là một thành quả tối hậu, vì lúc nào cũng có sự tự thăng vượt. Ki-tô là gì? Đó là tiến trình tự thăng vượt. Tới đây  thì thày niêm các con trong tình thương của trái Tim Mẹ, và thày cảm ơn các con đã cho thày cơ hội có mặt ở đây với các con.