Làm thế nào bạn có thể giúp chân sư thay đổi thế giới

Hầu hết những ai nhiệt tình với giáo lý của các chân sư thường trực nhận, nhiều khi từ nhỏ, rằng cuộc đời mình có một mục đích. Chúng ta sống trên địa cầu là để giúp cải thiện cuộc sống chung quanh, đem lại những thay đổi tích cực khiến cho thế giới tốt đẹp hơn trước. Cac chân sư thăng thiên giải thích rằng đó là vì nhiều dòng sống đã tình nguyện đầu thai trên hành tinh này vào một thời điểm vô cùng quan trọng.   

Địa cầu chúng ta hôm nay đang đi hết một chu kỳ tâm linh có tên là Thời đại Song ngư để bước vào chu kỳ tiếp theo là Thời đại Bảo bình. Vị thày trông coi chu kỳ 2000 năm kế tiếp này là chân sư Saint Germain, và thày đã có những hoạch định để đem lại một thời hoàng kim với những bước tiến vượt bực  trong mọi lãnh vực cuộc sống. Nhiều người trong chúng ta đã tình nguyện hiện thân để giúp Saint Germain đem thời hoàng kim này vào hiện thực. Chúng ta sẽ làm như thế nào?

Mỗi chúng ta đều có một Sứ vụ Thiêng liêng đặc biệt cho mỗi người. Chúng ta đã thảo ra sứ vụ này cùng với các chân sư của mình trước khi ra đời trong kiếp này. Đối với một số người, sự đóng góp của họ cho thời hoàng kim là đi vào một lãnh vực cụ thể của xã hội và giúp mang lại thay đổi trong lãnh vực đó. Những người đó không cần biết đến các chân sư hay học hỏi giáo lý của các thày.

Nhiều người khác thì có sẵn trong Sứ vụ Thiêng liêng của mình là mình sẽ tìm kiếm một giáo lý của chân sư rồi, trong sự ý thức, nỗ lực giúp chân sư thị hiện thời hoàng kim. Chúng ta có thể thực hiện điều này bằng nhiều cách: 

  • Chúng ta có thể nâng cao nhận thức và hiểu biết về cách vận hành của thế giới, về những động lực căn bản quyết định độ tiến bộ của xã hội, và qua đó chúng ta có thể đóng góp phát huy nhận thức của tâp thể về những diễn biến âm thầm đằng sau dáng vẻ bên ngoài. Các thày đã cho chúng ta rất nhiều những bài dạy và sách vở để chúng ta hiểu biết về điều này.
  • Chúng ta có thể nâng cao tâm thức cá nhân bằng cách bước đi con đường tâm linh do các chân sư đề xướng. Khi nâng cao tâm thức, chúng ta cũng kéo theo tâm thức tập thể (vì chúng ta đang đầu thai trong thân vật lý) và điều này giúp mọi người trong mọi tầng lớp xã hội chấp nhận những ý tưởng mang lại tiến bộ dễ dàng hơn. Một lần nữa, các thày đã giảng dạy rất nhiều trên trang mạng và sách vở để giúp chúng ta bước trên đường tâm linh.
  • Vì chúng ta có thể cầu thỉnh ánh sáng tâm linh từ các chân sư để chuyển hóa những năng lượng sợ hãi trong năng trường cá nhân, chúng ta cũng có thể làm điều tương tự trong năng trường tập thể. Điều này sẽ thanh lọc tâm thức tập thể và giúp mọi người thoát khỏi những khuôn nếp tư tưởng cũ để họ mở tâm ra chấp nhận những ý tưởng mới. Trong trang web này có hẳn một mục gồm nhiều Dụng cụ Thăng vượt cho mục tiêu này. Ngoài ra một số sách cũng đăng tải những dụng cụ đó.
  • Chúng ta có thể nhận thức rõ ràng hơn về các tà lực đang ráo riết hoạt động chống lại tiến bộ và về phương cách chúng thao túng và bịt mắt loài người. Chúng ta có thể nhất quyết không để cho những hiện tượng này được chấp nhận trên hành tinh này. Do Luật Tự quyết, một khi có đủ túc số những người đang đầu thai quyết định như thế, các chân sư có quyền loại bỏ các tà lực đã xâm nhập vào một số hiện tượng. Chẳng hạn, nếu có đủ túc số những người quyết định nạn ấu dâm không thể được dung thứ, các thế lực đứng đằng sau có thể bị loại bỏ.
  • Chúng ta có thể gọi lên những lời thỉnh cầu cụ thể để các chân sư yêu cầu sự phán xét của Ki-tô đối với tà lực và cho phép cac chân sư loại bỏ chúng.

Động lực cơ bản trên địa cầu là các chân sư có quyền năng loại bỏ nhanh chóng mọi đen tối khỏi hành tinh này, nhưng không phải lúc nào các thày cũng có thẩm quyền để ra tay bởi vì loài người đang đầu thai phải quyết định những gì không thể được chấp nhận. Khi chúng ta thỉnh cầu các thày, chúng ta cũng cho phép các thày sử dụng quyền năng để hành động. Các thày có quyền năng, còn chúng ta có thẩm quyền. Khi chúng ta sử dụng thẩm quyền của mình để kêu gọi các thày ra tay trên địa cầu, các thày mới có ủy quyền sử dụng quyền năng của mình, và đó là yếu tố duy nhất khả dĩ đem lại thực sự những thay đổi đáng kể cho hành tinh tăm tối này.

144 tầng tâm thức

Trong bài này, xin trình bày khái quát về 144 tầng tâm thức có thể có trên địa cầu – và tại sao lời dạy này lại quan trọng. Đối với chúng ta là người đang đầu thai trên trái đất, tâm thức của mỗi chúng ta nằm ở một trong số 144 tầng tâm thức này. Khi hiểu rõ các tầng tâm thức thì chúng ta cũng sẽ có cái nhìn bao quát hơn về đường tu tâm linh cũng như về sự tương tác với người khác.     

Toàn bộ 144 tầng tâm thức có thể chia làm ba phân nhóm chính như sau:

  • Tâm thức thấp hơn tầng 48,
  • Tâm thức nằm giữa hai tầng 48 và 96,
  • Tâm thức cao hơn tầng 96.

Khi một dòng sống lần đầu tiên hiện thân trên địa cầu, thường thường dòng sống đó đầu thai ở tầng tâm thức thứ 48. Người đó có hai chọn lựa:

  • Hoặc khởi sự bước đi lên, tìm cách thực hiện sự khai ngộ sẽ đưa người đó lên tầng 49 để rồi tiếp tục lên mãi cho đến tầng cao chót thứ 144, là điểm sẽ thăng thiên trở lại với cõi tâm linh,
  • Hoặc từ chối cuộc khai ngộ hướng thượng và bắt đầu đi xuống tầng 47 và thấp hơn nữa.

Ở tầng thứ 48

Khi bạn khởi sự ở tầng 48, bạn mang hai đặc tính. Thứ nhất, bạn ý thức rằng bạn vẫn có sự nối kết với một cái gì rộng lớn hơn bản ngã của mình. Cái rộng lớn đó là Hiện diện TA LÀ của bạn, nhưng ở tầng 48, bạn không chiêm nghiệm được Hiện diện một cách rõ ràng, trực tiếp. Tuy nhiên, bạn vẫn có cảm nhận về một thực tại cao hơn, vẫn cảm thấy mình là thành phần của một toàn thể rộng lớn trong cõi vật chất. Quan trọng nhất, bạn cảm thấy hành vi của mình sẽ đem lại hậu quả cho mình và cho người khác. Vì vậy ở mức 48 này, có rất nhiều loại hành động ích kỷ mà bạn sẽ gạt đi không làm.

Đặc tính thứ nhì, bạn cảm nhận rằng cuộc sống hay thực tại có nhiều điều mà mình chưa hiểu biết hoàn toàn. Vì thế mà bạn giữ một tinh thần cởi mở đối với các giáo lý hay các vị thày tâm linh, và đó là cách duy nhất để bạn vượt qua các cuộc điểm đạo và tiến bước cao hơn.   

Bởi vì bạn không thể đứng yên một chỗ, bạn bắt buộc phải chọn đi lên tầng 49 hay đi xuống tầng 47. Nếu bạn chọn đi xuống, bạn sẽ từ chối cuộc khai ngộ có tiềm năng nâng bạn đi lên. Nói cách khác, tầng 47 là sự tha hóa của tầng 49, và cứ thế nói rộng ra, tầng tâm thức thấp nhất là sự tha hóa của tầng 96. Hãy thử nhìn cách phân nhóm này cặn kẽ hơn.

Dưới tầng thứ 48

Tại sao một dòng sống lại có thể chọn đi xuống thấp hơn tầng thứ 48? Có hai lý do chính. Một là vì người đó quan sát thấy người khác ở những tầng thấp hơn dường như có thể hành động ích kỷ mà không phải lãnh chịu bất cứ hậu quả nào. Và nó quyết định nó cũng muốn kinh nghiệm những hành vi của một sinh thể tách biệt. Rất có thể nó cũng đã bị luận lý phản-Ki-tô lừa dối, bảo nó đây là cách duy nhất để nó có thể quyết định một cách thực sự tự do.  

Lý do thứ hai là dòng sống đó coi những người đang hành động ích kỷ là mối đe dọa cho chính mình hay cho một công cuộc gì lớn hơn mình, thậm chí đe dọa cả kế hoạch của Thượng đế cứu vớt thế gian. Và nó cảm thấy nó phải tìm cách cứu nguy những người đó, hay buộc họ phải ngừng những hành vi ích kỷ. Khi làm vậy, nó rơi vào ngụy biện rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Điều cốt yếu bạn cần hiểu là bạn chỉ có thể đi xuống dưới mức 48 bằng cách vô hiệu hóa cảm nhận nối kết mà bạn đang có với cái ta tâm linh của mình cũng như mọi sự sống. Để thực hiện điều này, bạn tạo ra tự ngã thấp kém hầu biện minh cho những lựa chọn và hành động của bạn trong cương vị một sinh thể tách biệt. Như thế, tự ngã ra đời từ luận lý phản-Ki-tô, cũng gọi là lý luận gian manh của rắn. Cách dùng từ này lấy thẳng từ Kinh thánh và câu chuyện Eva bị rắn lừa dối ăn trái cẩm.

Câu chuyện của Eva mang một ý nghĩa biểu tượng thâm sâu, trong đó trái cấm chính là tâm thức coi mình là một sinh thể tách biệt, gọi là tâm thức tách biệt hay tâm thức nhị nguyên. Đúng ra, nó không là cái gì cấm kỵ đâu, nhưng nó biểu tượng cho một sự khai mở đặc thù, bởi vì một khi bạn chuốc lấy tâm trạng này thì bạn sẽ đánh mất cái khung nền để có thể thoát ra trở lại. Trong hoàn cảnh lý tưởng, bạn sẽ không phải giải quyết vấn đề này cho tới khi gần đạt đến tầng 96.    

Bạn chỉ có thể đi vào tâm thức nhi nguyên bằng cách vô hiệu hóa cảm nhận mình có sự kết nối với thực tại rộng lớn, và bạn làm điều này khi bạn tin vào luận lý bảo rằng bạn có quyền định ra một thực tại riêng của mình. Bạn trở thành “giống như một Thượng đế biết thiện ác”, có nghĩa là bạn định đoạt cái gì là thiện, cái gì là ác, và như thế bạn luôn luôn có lý và bất cứ ai chống đối bạn sẽ luôn luôn sai trái.

Vấn đề là một khi bạn bước vào tâm thức này, bạn sẽ mất liên lạc với thực tại có khả năng giúp bạn rút trở ra. Tâm thức này biến thành một vòng xoáy ngày càng mãnh liệt, khiến bạn tin chắc rằng bạn có khả năng, và có quyền, định nghĩa thế nào là thật hay giả, bất kể thẩm quyền nào bên ngoài ngã tách biệt của bạn. Ví dụ điển hình của những nhân vật lịch sử bị kẹt cứng trong tư duy này là các nhà độc tài tin rằng mình hoàn toàn chính đáng khi mình sát hại bất cứ ai cả gan chống lại mình, thậm chí còn sát hại cả một dân tộc. Và bạn cũng có thể thấy tấm gương của một số nhà lãnh đạo tôn giáo hay tâm linh xem mình là đại diện duy nhất của Thượng đế trên thế gian, kể cả cho mình là hiện thân độc nhất của Thượng đế.

Khi bạn bị cuốn vào vòng xoáy đi xuống như vậy, bạn sẽ không còn mở tâm ra để lắng nghe vị thày tâm linh nơi cõi thượng thăng nữa. Thế nhưng bạn vẫn có khả năng mở tâm ra trở lại khi bạn trải qua một kinh nghiệm thức tỉnh do đã “chạm đáy”, và bạn nhận ra là mình cần thay đổi chính mình. Khi đó, bạn sẽ khởi sự một vòng xoáy đi lên, nhưng bạn phải biết rằng tiến trình ngoi lên này sẽ khó khăn gấp bội hơn là nếu bạn đã khởi hành từ mức thứ 48.

Lý do là vì bạn sẽ chỉ có thể lật ngược hành trình khi bạn trải qua một kinh nghiệm vật lý đập vỡ cái ý thức muốn kiểm soát và tự túc độc lập. Để thoát khỏi nhà tù của ngã riêng biệt, một cái gì đó phải đập cho ngã riêng biệt này tan vỡ – hay ít ra làm rạn nứt. Đương nhiên, kinh nghiệm này thường vô cùng khó khăn, đau đớn.

Sau khi quay đầu hoàn toàn, bạn vẫn phải đối mặt với một chặng đường gian nan để leo ngược lên cấp 48 hay cao hơn. Lý do là vì bạn vẫn phải vác theo cái tự ngã mà bạn đã tạo ra nơi mình. Tỷ đụ như bạn đã xuống đến tầng tâm thức thấp tột cùng thì bạn sẽ không bỏ được cái ngã kềm chế này cho tới khi bạn đạt sự khai ngộ của tầng 96. Và nếu bạn từ chối thực hiện sự khai ngộ này, bạn sẽ “rớt” trở xuống tầng thấp nhất.

Giữa tầng thứ 48 và 96

Nếu bạn khởi hành từ tầng 48 và leo lên từ đó, bạn sẽ bước vào một chặng đường dẫn bạn đi qua toàn bộ các khai ngộ của bảy tia sáng tâm linh. Từ tầng 48 đến 54 là tia thứ nhất, hay tia gốc, tia Alpha. Nhưng bạn cũng có một tia phụ là tia Omega. Xin được giải thích như sau.  

Ở tầng 48, Alpha của bạn là tia thứ nhất, và Omega của bạn cũng là tia thứ nhất. Ở tầng 49, Alpha là tia thứ nhất nhưng Omega là tia thứ hai – và cứ như thế cho đến tầng 54, ở đó Alpha của bạn là tia thứ nhất và Omega của bạn là tia thứ 7. Qua tới tầng 55, Alpha đổi sang tia thứ hai và Omega là tia thứ nhất, vân vân và vân vân.

Mục đích của cách sắp đặt này là khi bạn bước qua trọn đường tu, bạn sẽ lần lượt học hỏi cách sử dụng cả bảy năng lượng cơ bản mà các Elohim đã sử dụng để tạo ra vũ trụ vật chất. Bạn cũng sẽ tìm được sự quân bình nơi cả bảy tia sáng để bạn có thể sử dụng mà không rơi vào cực đoan. Chẳng hạn, tia thứ nhất là tia của ý chí và quyền lực, và tất nhiên bạn không muốn noi theo những tấm gương đầy rẫy trong lịch sử của những nhân vật lạm dụng quyền lực.    

Càng tới gần mức 96, bạn nhận biết càng rõ rệt – qua sự nhận biết nội tâm và trực nghiệm – rằng mình là nhiều hơn một sinh thể vật chất. Bạn bắt đầu nhận ra là thế giới vật chất không còn quyền năng gì trên Tánh linh của mình.

Bạn cũng bắt đầu chấp nhận mình không là một cái ngã tách biệt, họăc hoàn toàn độc lập như khi còn ở dưới tầng thứ 48, hoặc được kết nối với một cái gì cao thượng hơn. Thay vào đó, bạn bắt đầu xem mình là phần nối dài của Hiện diện TA LÀ của mình. Bạn thấy được sự hợp nhất chiều dọc với Hiện diện và sự hợp nhất chiều ngang với mọi sự sống.

Sự khác biệt mấu chốt là liệu bạn có nhận ra được rằng, ngược với giai đoạn ở dưới tầng 96 khi bạn còn phải nâng ngã lên – cái ngã tuy nối kết nhưng vẫn riêng biệt – khỏi tâm thức đại chúng, thì ở trên tầng 96, bạn chỉ có thể tiến bước bằng cách bỏ hẳn ý muốn nâng ngã riêng biệt mà chỉ còn tập trung vào việc nâng cao toàn thể. Nếu bạn không buông được ngã riêng biệt, rất có thể bạn sẽ rơi tuột xuống tầng tâm thức thấp nhất (y như bạn cũng có thể rơi từ một tầng giữa 48 và 96 xuống tầng tâm thức tương ứng).

Ở tầng thứ 96

Tầng thứ 96 là tầng nơi đấng Ki-tô xuất hiện, và bạn chuyển tiếp từ một ý niệm bản ngã cá nhân sang một ý niệm về cái ta đại đồng. Tất cả các tầng từ 96 đến 144 chỉ là những cấp thành tựu quả vị Ki-tô khác nhau, nơi bạn đạt được tầm nhìn ngày càng toàn bộ và rộng khắp vũ trụ. Dần dà, bạn sẽ càng trở nên tự đủ, trong ý nghĩa là bạn không còn phụ thuộc vào một giáo lý hay một vị thày vỏ ngoài, mà sẽ khởi sự nhận được hướng dẫn từ Hiên diện TA LÀ của mình cũng như trực tiếp từ các chân sư.   

Tuy nhiên, khả năng tự đủ này không phải là cùng cái ảo giác độc lập mà bạn từng có khi còn ở dưới mức 48, vì bây giờ bạn đã buông bỏ cái ngã cá nhân và chỉ còn xem mình đơn giản là cánh cửa mở cho Hiện diện, như đã được giải thích trong bài giảng về cái Ta Biết.

Khái quát

Các giáo lý và phương tiện tu tập trên trang mạng này chủ yếu nhắm tới những hành giả đang ở giữa hai tầng 48 và 96 trên bước đường đi lên. Đây là đường tu bảy tia sáng, con Đường Thăng vượt.

Tất nhiên, giáo lý này cũng sẽ hữu ích cho những ai tuy còn ở dưới mức 48 nhưng đã quay đầu toàn diện và đã sẵn sàng tạo ra cho mình, hoặc đẩy mạnh thêm, một vòng xoáy ốc hướng thượng. Bạn đã phải xuống thấp hơn mức 48 do đã từ chối một trong những cuộc khai ngộ của bảy tia sáng, thì bây giờ bạn cũng có thể sử dụng các giáo lý và phương tiện này để chứng đạt các khai ngộ đó.

Ngoài ra cũng có một số lời dạy cùng dụng cụ đề cập tới tia sắng thứ 8 là Tia Hội nhập, để bạn hội nhập toàn bộ bảy tia sáng. Bạn cũng sẽ tìm thấy một số giáo lý về bất nhị, là thử thách chính yếu ở những tầng cao hơn tầng 96.

Cất bước trên đường tu tâm linh

Bài này chỉ nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về những bước khởi đầu trên đường tu tâm linh mà các chân sư thăng thiên giảng dạy. Trang mạng này có đăng nhiều bài giảng đầy đủ hơn của các chân sư về đề tài này. Bạn có thể tìm thấy bài truyền đọc của các thày dưới hình thức bài rời hay sách in, hoặc bạn cũng có thể tham khảo lời giải đáp của các thày cho những câu hỏi của người tầm đạo.   

Đường tâm truyền và đường công truyền

Thời nay, mạng internet đã giúp cho việc tra cứu đường tu tâm linh trở nên dễ dàng hơn bao giờ, vì vậy nhiều người đã có dịp đọc được những bài giảng về đường đạo được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, không chắc là ai ai cũng đã nắm được đường tu tâm linh thực sự là gì. Điều quan trọng mà bạn cần hiểu là đường tu mà các chân sư chủ trương hôm nay rất khác với cách trình bày cố hữu của đa số các tôn giáo về sự cứu rỗi hay giải thoát.

Phần lớn các tôn giáo dạy rằng con người bị chìm đắm trong một tâm trạng khiến mình không thể chiêm nghiệm được sự sống vĩnh hằng nơi một cõi thanh cao được mô tả bằng nhiều cách. Để được phép nhập vào cõi đó, chúng ta phải hội đủ một số yêu cầu, và thường thường đó là những yêu cầu vỏ ngoài. Nói cách khác, nếu bạn là tín đồ của một tôn giáo công truyền, hết lòng tuân thủ mọi đòi hỏi và vâng lời các bậc lãnh đạo tôn giáo mình, bạn sẽ chắc chắn được lên cõi trời cho dù bạn không thay đổi mảy may tâm thức của mình.

Hầu hết chúng ta khi lớn lên đều bị cái nhìn này ảnh hưởng, và chúng ta có thể nghĩ rằng để được cứu rỗi, chúng ta chỉ cần chiều lòng một vị Thượng đế xa vời ở trên trời với quyền năng đáp ứng mọi lời cầu của mình, và ngài sẽ mở cửa cho chúng ta bước vào vương quốc của ngài mà không đòi hỏi chúng ta xét lại tâm lý mình. Bạn có nhớ lời dạy của Giê-su về những người chỉ nhìn thấy cái giằm nhỏ xíu trong mắt người khác mà bỏ qua cái xà to tướng trong chính mắt mình? Suốt hàng ngàn năm, nhiều tôn giáo đã duy trì niềm tin cho rằng chúng ta có thể bước vào cõi trời bằng cách thỏa mãn một số đòi hỏi vỏ ngoài, nghĩa là có thể được cứu rỗi mà không cần phải thay đổi chính mình, thay đổi tâm lý và tâm thức mình. Giê-su bảo đó là một lối suy nghĩ hoàn toàn sai lầm.  

Rất có thể chính bạn cũng đã từng nghi hoặc về con đường công truyền này, vì thế mà bạn mới mở lòng ra cho các giáo lý tâm linh. Nếu đường công truyền cho phép bạn vào cõi trời mà không cần cải thiện bản chất tâm lý mình, cõi trời đó nhất định phải đầy rẫy những con người ích kỷ, ghen tị, nhỏ nhen. Thật là vô lý, và điều này dẫn đến một kết luận thâm sâu.

Vào được cõi cao hơn KHÔNG PHẢI chỉ là chuyện thỏa mãn một số đòi hỏi vỏ ngoài. Hội đủ tư cách bước vào cõi thanh cao là cả một tiến trình NỘI TÂM đòi hỏi chúng ta thanh lọc toàn bộ tâm lý mình để vượt qua mọi tâm tính vị kỷ đã khiến cho cuộc sống trên địa cầu đầy xung đột và đối xử tồi tệ. Bản chất của đường tu tâm linh là nâng cao tâm thức mình để thăng vượt mọi xu hướng nhỏ nhen, ích kỷ mà nhiều người coi là bản tính bình thường của con người. Các chân sư dạy rằng đó không phải lả chân tính của chúng ta. Thượng đế đã không sinh tạo ra chúng ta là những sinh thể ích kỷ, mà chính chúng ta đã trở thành ích kỷ khi mình bước xuống những tầng tâm thức thấp kém. Cách duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là lật ngược tiến trình hầu vươn lên những tầng tâm thức cao hơn.  

Tất nhiên là sẽ cần thời gian để thích ứng với thực tế này. Nhiều người tìm thấy đường tu dưới hình thức một con đường công truyền đưa lên tâm thức cao hơn. Nhiều giáo lý và vị thày tâm linh giảng đạy một con đường tiệm tiến thay vì đốn ngộ, nhưng các vị đó vẫn chủ trương phải học hỏi một số giáo lý và tu tập một số kỹ thuật nhất định, có nghĩa là bạn vẫn không phải xem xét đến phần tâm lý sâu xa bên trong.  

Nếu bạn đang theo một đường tâm linh như thế ở một trình độ phù hợp với bạn thì điều đó không có gì sai trái. Tuy nhiên, một đường công truyền như vậy không phải là con đường được các chân sư giảng dạy ở đây. Những giáo lý được trình bày ở đây dành cho những ai đã sẵn sàng bước vào đường tu tâm truyền, sẵn sàng nhìn thẳng vào tâm lý mình mà nhìn nhận rằng “Chính tôi cần thay đổi chứ không phải ai khác, không phải thế giới và cũng không phải Thượng đế. Không, tôi mới là người phải thay đổi”. Một khi chấp nhận điều này rồi thì làm thế nào cất bước trên con đường nội tâm này?

Bản chất của đường tu tâm linh là nâng cao tâm thức

Như đã trình bày trong bài về 144 tầng cấp tâm thức, có sự cách biệt mênh mông giữa tầng tâm thức thấp nhất và tầng cao nhất mà nhân loại có thể có trên địa cầu. Không ai có thể lấp trọn khoảng cách đó trong một bước nhảy vọt, nghĩa là sự đốn ngộ không thể xảy ra cho những ai còn ở những mức thấp. Vì thế các chân sư dạy rằng chúng ta cần bước tới lần hồi từ thấp lên cao.

Có nhiều cách để trình bày vấn đề này và đây là một cách. Tỷ như bạn đang đứng ở tầng tâm thức cao nhất (tầng thứ 144) và bạn lần lượt bước xuống các tầng thấp hơn. Mỗi lần bạn bước xuống một nấc như thế là một lần bạn chuốc lấy một ảo tưởng nào đó về chính bạn, về thế gian và về cách bạn tương tác với thế gian. Càng xuống thấp hơn thì tâm bạn sẽ càng bị vây bủa mù mịt trong ảo tưởng. Tâm ý thức của bạn không thể nhìn rõ ràng nữa mà chỉ thấy mọi thứ qua hàng hàng lớp lớp ảo tưởng.    

Nếu toàn bộ những lớp ảo tưởng này bỗng nhiên được gỡ bỏ, bạn có thể rơi ngay vào một cuộc khủng hoảng bản sắc, vì các ảo tưởng đó đã sáp nhập thành một phần không thể thiếu trong ý niệm bản sắc của bạn. Mỗi chúng ta đều cần đến một ý niệm bản sắc để sinh hoạt trên hành tinh dày đặc, cam go này. Chúng ta cũng cần sự liên tục, cho nên nếu bất chợt bị lột mất mọi ảo tưởng, chúng ta sẽ không còn biết mình là ai nữa và rất có thể sẽ trở nên điên dại (như đã xảy ra cho một số người).

Vì vậy các chân sư chủ trương một đường tu tuần tự. Chúng ta khởi sự ở mức tâm thức hiện thời của mình khi lần đầu tiên chúng ta nhận ra có đường tu dẫn đến những tầng tâm thức cao hơn. Rồi chúng ta sẽ tiến từng bước một, và với mỗi bước, chúng ta sẽ vượt qua một ảo tưởng cụ thể. Một khi thoát được ảo tưởng đó, chúng ta sẽ cần chút thời gian để điều chỉnh ý niệm bản sắc của mình trước khi có thể đi bước kế tiếp.

Vậy nếu bạn nhận ra đường tu tâm linh ở tầng tâm thức thứ 48, bạn sẽ không có nhu cầu biết đến những giáo lý sẽ phơi bày toàn bộ mọi ảo tưởng ở các tầng trên, mà chỉ cần vượt qua ảo tưởng của tầng 48 này, rồi bước lên tầng 49 giải quyết tiếp ảo tưởng ở đó.

Hai khía cạnh của phát triển tâm linh

Vậy thì cốt lõi của sự phát triển tâm linh nằm ở chỗ khắc phục ảo tưởng, nhưng ảo tưởng nằm ở đâu? Như đã giải thích trong một bài khác, mỗi chúng ta đều có bốn tầng của tâm, hay bốn thể phàm. Các thể này được tạo bằng năng lượng với độ rung khác nhau. Dày đặc nhất là thể xác vật lý (và cái tâm gắn liền với thể xác), rồi đến cảm thể, trí thể, và bản sắc thể là phần tương đối thanh nhẹ nhất. Nơi mỗi thể, chúng ta đều mang ảo tưởng.

Điều quan trọng là hiểu rằng chúng ta được nuôi dưỡng bởi một dòng năng lượng xối xuống từ chân ngã, và năng lượng này đầu tiên sẽ đi qua bản sắc thể trước khi chảy tiếp xuống các thể kia. Có nghĩa là các ảo tưởng chúng ta mang nơi bản sắc thể nằm ở mức cao hơn trí thể, và ảo tưởng đó không thể bị cái trí lý luận, phân tích thách đố. Cũng vậy, ảo tưởng nơi trí thể không thể bị cảm thể thách đố.

Chức năng của ảo tưởng là gì? Ảo tưởng giống như một cái phin lọc tô màu năng lượng chảy xuống từ chân ngã. Chẳng hạn, nhiều người mang ảo tưởng nơi cảm thể rằng sự nóng giận là một điều có thể chấp nhận trong một số tình huống, thậm chí còn là cách phản ứng duy nhất. Khi chúng ta phản ứng nóng giận trước ngoại cảnh, năng lượng chảy qua ảo tưởng này sẽ bị giảm độ rung, nên nó không thể chảy ngược trở lên chân ngã. Có nghĩa là năng lượng bắt buộc phải tích tụ lại trong cảm thể, với hai hệ quả:

  • Năng lượng chất chứa sẽ lôi kéo tâm chúng ta về phía nó, tức là chúng ta sẽ có xu hướng phản ứng với cùng năng lượng này trong tương lai. Có càng nhiều năng lượng nóng giận trong cảm thể thì chúng ta sẽ càng dễ phản ứng nóng giận trong nhiều tình huống. Do vậy mà một số người luôn luôn phản ứng nóng nảy trong mọi hoàn cảnh và còn căm giận cả cuộc sống nói chung.
  • Năng lượng chất chứa sẽ tạo thành một chướng ngại khiến tâm ý thức không làm sao thấy được cái ảo tưởng đằng sau năng lượng, và chúng ta không thể hướng nhìn lên những thể cao của mình.     

Bây giờ giả tỷ bạn đã nhận biết được đường tu tâm linh và quyết định mình sẽ tu tập để phát triển tâm linh. Cốt lõi sự phát triển của bạn nằm ở chỗ bạn nhìn thấu được một số ảo tưởng, rồi hóa giải hay thăng vượt chúng. Nhưng nếu nơi bốn thể phàm, bạn có mang năng lượng sợ hãi (như mỗi chúng ta đều mang trên địa cầu rối ren này), chính năng lượng đó sẽ ngăn cản bạn thấy được ảo tưởng. Năng lượng cảm xúc cũng sẽ ngăn cản bạn nhìn xa hơn những ảo tưởng ở mức vật lý hay cảm xúc.  

Đối với đa số chúng ta, vấn đề hàng đầu khi chúng ta mới tìm thấy đường tu là năng lượng của sợ hãi trong cảm thể. Nói vậy nghe hơi trừu tượng, khó hiểu, nhưng thật sự không có gì bí ẩn. Năng lượng chỉ đơn giản là sóng rung động ở một độ rung nào đó. Nhưng năng lượng cũng có thể được nâng lên độ rung cao hơn hay kéo xuống độ rung thấp hơn. Vậy làm sao đưa năng lượng nóng giận lên độ rung cao hơn? Chúng ta phải hứng lấy những sóng năng lượng với độ rung cao và hướng nó về năng lượng nóng giận. Đây là một quy trình khoa học: khi hai sóng năng lượng gặp gỡ, chúng tạo ra cái mà các khoa học gia gọi là hình giao thoa, có nghĩa là cả hai sóng phối hợp lại thành một hình thức năng lượng mới với độ rung mới.

Để giúp chúng ta biến đổi năng lượng của mình nơi bốn thể phàm, các chân sư đã trao cho chúng ta một số dụng cụ để mở khóa dòng năng lượng xối xuống từ các thày, và hướng nó về những điểm nơi năng lượng bị tắc nghẽn trong bốn thể phàm. Khi làm điều này một cách hệ thống, chúng ta sẽ lần hồi biến hóa năng lượng sợ hãi đã tích trữ từ nhiều kiếp, đưa đến một số kết quả:

  • Chúng ta giảm bớt náo động và hỗn loạn nơi các trường năng lượng, hay tâm, của mình.
  • Chúng ta bắt đầu cảm thấy làm chủ đời mình nhiều hơn.
  • Chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm, bằng lòng hơn.
  • Chúng ta ít đau đớn hơn khi nhìn thẳng vào tâm lý mình để phát hiện những vết thương và cản trở ở đó, do năng lượng đã bớt gay gắt.
  • Chúng ta dần dần nhận ra một số khuôn nếp phản ứng cùng những tin tưởng đứng đằng sau, và điều này giúp chúng ta vượt qua ảo tưởng và tiến thêm một bước trên đường tu.
  • Với tâm bớt mê mù, chúng ta nhìn xa hơn những cái tâm cảm xúc để nhìn vào các tầng cao hơn của tâm, rồi giải quyết các ảo tưởng ở đó. Như thế chúng ta có thể hiểu sâu các giáo lý tâm linh cao hơn mà lúc đầu chúng ta không thể nắm bắt.         

Từ thập niên 1930, các chân sư thăng thiên đã phổ biến những dụng cụ cầu thỉnh ánh sáng tâm linh như trên, và hàng triệu người sử dụng đã nghiệm thấy hiệu quả trong việc biến hóa năng lượng. Nhưng cho dù biến hóa năng lượng là động cơ phát triển tâm linh, chúng ta vẫn phải biết cách cầm tay lái để hướng sự phát triển đó về những mục tiêu xây dựng đem lại thành quả lớn nhất. Và ở điểm này, sự hướng dẫn của chân sư thật là quý báu vì các thày đã từng bước trên con đường chúng ta đang đi và có thể dìu dắt chúng ta vượt qua mỗi chặng đường.

Giai đoạn khởi đầu trên đường tâm truyền

Các chân sư bảo rằng khi đầu thai lần đầu trên địa cầu, một sinh thể sẽ giáng thế ở tầng tâm thức thứ 48. Sinh thể đó có hai chọn lựa, hoặc đi lên về hướng tầng thứ 144, hoặc đi xuống các tầng thấp hơn. Do các điều kiện khuấy động trên hành tinh này, đa số chúng ta trong tiền kiếp đã bước xuống những vùng thấp hơn tầng 48. Chúng ta không cần phải cảm thấy tội lỗi về sự thể này, bởi vì địa cầu chỉ giản dị là một cái máy giả thực tại để mình sống qua một số trải nghiệm. Đa số chúng ta cần đi xuống dưới tầng 48 để chiêm nghiệm đời sống ở đó.

Nhưng khi dấn thân xuống dưới tầng 48, chúng ta cũng đánh mất sự tiếp xúc ý thức với Hiện diện TA LÀ của mình cũng như với các chân sư. Chúng ta vẫn có thể nhận được sự hướng dẫn nào đó từ các thày nhưng chỉ trong một số hoàn cảnh cùng cực. Vì mất liên lạc ý thức, chúng ta bước vào cái mà các chân sư gọi là Trường đời Cay đắng. Nghĩa là chúng ta sẽ học hỏi từ những sự việc xảy ra cho mình nơi cõi vật lý, học hỏi qua sự chọn lựa rồi nếm mùi hậu quả của chọn lựa. Và chúng ta học hỏi bằng cách lặp đi lặp lại một số khuôn nếp cho đến khi mình cảm thấy chán ngấy và quyết định bỏ lại đằng sau tầng tâm thức đó.  

Như vậy chúng ta có khả năng tiến bước để leo lên trở lại tầng thứ 48, là tầng mình sẵn sàng tìm kiếm đường tu nội tâm. Đây là khi chúng ta mở tâm ra học hỏi từ các vị thày tâm linh, kể cả qua sự quan sát người khác. Hay nói cách khác, chúng ta mở tâm ra để học hỏi từ kinh nghiệm của người khác thay vì phải học từ mỗi lỗi lầm của chính mình.     

Đây cũng là giai đoạn khi mình nhận ra sự khác biệt then chốt giữa hai con đường công truyền và tâm truyền. Chúng ta ngộ ra rằng những gì xảy ra trong tâm – là kinh nghiệm cuộc sống, hay kinh nghiệm SỰ SỐNG – không phải là kết quả bắt buộc của những gì xảy ra ở ngoài tâm. Sự phát triển tâm linh để điều ngự bản thân chính là làm chủ được các tình huống tâm lý nội tâm, hầu chúng ta có thể toàn quyền chọn lựa trạng thái tâm mà mình muốn, bất kể ngoại cảnh là gì. Điều này đã được Giê-su, Phật và các vị thày tâm linh khác minh chứng qua cuộc đời của các thày.    

Có một quy luật vũ trụ nói rằng: Khi trò sẵn sàng thì thày xuất hiện. Điều này có nghĩa khi đạt đến tầng thứ 48, chúng ta phải cố tìm một giáo lý tâm linh nào giúp mình đi theo con đường nội tâm. Xin mở ngoặc ở đây, bạn không cứ là đang ở tầng 48 khi bạn tìm thấy giáo lý tâm linh trong kiếp này, bởi vì nhiều người tâm linh đã đạt cao hơn thế trong những kiếp trước và khởi bước trong kiếp này ở một mức cao hơn.

Nhưng tầng 48 đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn vô cùng quan trọng trên đường tu dẫn tới tầng thứ 96. Giai đoạn này có nhiều đặc điểm, mà quan trọng hơn cả là khả năng tự kéo mình ra khỏi từ lực kềm tỏa của tâm thức đại chúng. Theo các chân sư, người ở dưới mức 48 thường bị tác động nặng nề bởi tâm thức đại chúng, và một số còn trở thành những con rối ngờ nghệch bị đại chúng giật dây từ tứ phía. Hiện tượng a dua này thấy rõ nơi nhiều người, dù là theo đạo hay theo thời trang. Đa số hành giả tâm linh đã vượt qua giai đoạn này suốt đời, và đó là lý do chúng ta hay bị người đời bài xích vì không làm giống mọi người.

Để thoát khỏi sự lôi kéo của đại chúng, chúng ta phải giải thoát bốn thể phàm của mình khỏi các ảo tưởng có mặt nơi các tầng từ 48 đến 96, và cũng phải chuyển hóa những năng lượng sợ hãi ở bốn thể phàm, là những năng lượng mà tâm thức đại chúng lôi kéo. Và các ảo tưởng là yếu tố khiến chúng ta cảm thấy mình bị áp lực phải chiều theo chuẩn mực của đại chúng. Và đây là sự phối hợp của những tin tưởng với năng lượng đã tích tụ, tạo ra một khuôn nếp phản xạ – hay hồn bóng nội tại, hay ngã – khiến chúng ta có xu hướng phản ứng tự động trước một tình huống nào đó mà không chọn lựa cách đáp ứng một cách ý thức. Hay cũng có thể nói rằng phát triển tâm linh là sự giành lấy tự do đáp ứng của mình trước ngoại cảnh, là chọn lựa tự do thay vì bị buộc vào một khuôn nếp sẵn có.

Vì đây là một giai đoạn vô cùng quan trọng nên các chân sư đã cho đăng tải một loạt sách độc đáo nhằm dẫn dắt chúng ta từng bước từ tầng tâm thức 48 đến tầng 96 (xem dưới đây). Khóa học Điều ngự Bản thân này là những bài học tâm linh trực chỉ và dễ theo học nhất từng được ban cho nhân loại. Bộ sách này là một phương tiện tuyệt vời cho mọi hành giả tầm đạo, kể cả ở những mức tâm thức cao hơn vì nó giúp chúng ta vượt qua mọi cuộc điểm đạo mà không thiếu sót một yếu tố nào.  

Một khúc rẽ quyết định

Khi đạt đến tầng tâm thức thứ 96, chúng ta đối mặt với một cuộc khai ngộ chủ chốt. Suốt thời gian nâng tâm thức từ mức 48 đến 96, chúng ta đã cần xây dựng một ý niệm bản ngã mạnh mẽ để không bị tâm thức đại chúng kéo xuống. Điều này hoàn toàn thích đáng vì bản ngã này sẽ chở chúng ta cho tới mức 96. Nhưng ở điểm mốc này, cái ngã đã đưa mình tới tầng 96 sẽ không thể đưa mình lên tiếp những tầng cao hơn. Đây là sự nhận thức cốt yếu mà ít giáo lý tâm linh nào nói đến.

Trong suốt giai đoạn trước, cái ngã này đã đặt trọng tâm để đứng riêng biệt khỏi tâm thức đại chúng, hay nói cách khác, nó chú tâm vào việc làm sao hơn người, làm sao tinh tấn hầu vượt trội hơn người khác. Đây là lý do nhiều hành giả tâm linh mơ ước đạt được những khả năng phi thường hay siêu nhiên, và ngay cả một số thày tâm linh cũng tuyên bố mình có khả năng như thế.

Ở tầng thứ 96, cuộc điểm đạo mà chúng ta đối diện bắt buộc mình phải tự hỏi, liệu mình sẽ xây dựng tiếp cái ngã đó và khiến nó càng đặc biệt hơn nữa, hay là mình sẽ sẵn sàng nghe lời gọi của Giê-su mà từ bỏ đời sống đề bước chân theo thày? Câu hỏi đặt ra là mình có chấp nhận buông bỏ cái ngã riêng biệt này, từng mảnh một, để nhận lấy tâm thức cao hơn vượt ngoài mọi sự chú tâm vào ngã? Liệu mình sẽ đi tiếp đường tu với động lực trụ vào bản thân, hay là mình sẽ chuyển đổi động lực đó thành sự phụng sự tha nhân, hay sự phụng sự chân sư là những bậc đang phụng sự toàn thể nhân loại?

Trang mạng này đăng tải rất nhiều giáo lý của các chân sư về đường tu này dẫn đến quả vị Ki-tô. Ngoài các bài truyền đọc, còn có hai quyển sách này (chưa dịch ra Việt ngữ):

  • Master Keys to Personal Christhood
  • Master Keys to Spiritual Freedom

Những giai đoạn cao hơn

Người tầm đạo thường mơ ước mãnh liệt rằng một ngày nào đó mình sẽ đạt được một tâm thức tối hậu, sẽ giải thoát khỏi mọi tự ngã và có được những khả năng phi thường hay siêu phàm. Trong một số tổ chức tâm linh, người ta tin rằng vị sáng lập hay vị đạo sư đã đạt được tâm thức như thế. Các chân sư dạy rằng tuy chúng ta sẽ nâng tâm thức tới những tầng ngày càng cao hơn, nhưng khi nào chúng ta còn hiện thân trong cõi vật lý thì chúng ta không thể đạt được trạng thái tối hậu. Lý do là vì trái đất này là một hành tinh vô cùng dày đặc và người nào đạt được tâm thức cao như vậy sẽ không thể cầm giữ được thể xác của mình mà sẽ thượng thăng.

Các chân sư dạy rằng chúng ta sẽ tiếp tục lần hồi tiến bước và sẽ ngày càng nhìn thấu rõ hơn những ảo tưởng cực kỳ vi tế, cho đến khi đạt tới tầng tâm thức thứ 144 là điểm chúng ta thăng thiên. Và một lần nữa, các chân sư đã có giảng dạy rất nhiều về con đường này dẫn đến mức 144, trong sách in lẫn trong bài truyền đọc trên trang mạng này.

Giai đọan chót từ tầng 96 đến 144 đòi hỏi chúng ta đi sâu xa hơn nữa vào tâm lý mình, đi trở ngược lại mỗi kiếp sống cho tới kiếp đầu thai đầu tiên trên địa cầu, và có thể còn xa hơn nữa. Đây là một lời dạy sâu xa gấp bội mọi điều mà bạn có thể tìm thấy trong ngành tâm lý chính mạch hay hầu hết các giáo lý tâm linh. Các chân sư đã cho chúng ta nhiều lời dạy để hướng dẫn chúng ta trong giai đoạn chót này, trong đó có một bộ sách thâm sâu nhất từ trước tới giờ mô tả cuộc giáng thế của nhiều người tâm linh từ những hành tinh gọi là “tự nhiên” nơi xung đột và chiến tranh hoàn toàn vắng bóng. Đây là hai quyển đầu trong nguyên bộ sách đó (chưa dịch ra Việt ngữ):

  • My Lives with Lucifer, Satan, Hitler and Jesus
  • Healing Your Spiritual Traumas

Một khóa học điều ngự bản thân không tìm thấy ở đâu khác

Các chân sư thăng thiên luôn luôn tìm cách tạo mọi dễ dãi để thật nhiều người phát hiện được đường tu tâm linh của mình rồi cất bước đi theo. Một đằng, các thày không ngừng đưa ra những giáo lý ngày càng cao cấp hơn, và đằng khác, các thày cũng trình bày giáo lý làm sao cho dễ hiểu, dễ áp dụng hơn đối với nhiều người hơn. Trong nỗ lực mới nhất, các chân sư đã cho phát hành một loạt sách nhằm dẫn dắt hành giả qua các mỗi điểm khai ngộ từ tầng tâm thức 48 cho đến 144.    

Bộ sách này có tên là “Con đường điều ngự bản thân”, gồm có một quyển mở đầu và một quyển cho mỗi tia sáng tâm linh trong số bảy tia. Mỗi quyển như thế gồm có bảy chương được truyền đọc bởi vị thượng sư của mỗi tia sáng, cùng với một loạt bài thực tập để giúp bạn hấp thụ bài giảng.

Đây là một cơ hội quý báu chưa từng thấy cho người tầm đạo, một khóa học có hệ thống để vượt qua từng cuộc điểm đạo từ tầng 48 đến tầng 96. Bạn có thể theo học toàn khóa cho dù bạn đang ở một mức cao hơn 48, bởi vì đây là cơ hội để bạn duyệt lại một số bước tu tập mà bạn có thể đã bỏ sót hoặc chưa hấp thụ đầy đủ trước đây. Làm vậy, bạn sẽ bảo đảm không còn gì có thể kéo bạn trở xuống mức thấp hơn tầng thứ 96 được nữa.    

Đây là nguyên bộ sách (chưa dịch ra Việt ngữ):

  • Flowing with the River of Life
  • The Creative Power Within
  • The Mystical Initiations of Wisdom
  • The Mystical Initiations of Love
  • The Mystical Initiations of Intention
  • The Mystical Initiations of Vision
  • The Mystical Initiations of Peace
  • The Mystical Initiations of Freedom

Hiểu biết các thành phần của ngã có thể biến đổi trải nghiệm cuộc sống

Có thể loạt bài này về các thành phần của con người toàn diện đã khiến bạn nghĩ rằng con đường tâm linh phức tạp và đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn là bạn tưởng? Nếu vậy thì bạn không nên nản lòng. Như trang web này có giải thích, quả là có một hệ thống tu tập sẽ lần hồi cải thiện cuộc sống của bạn. Tuy nhiên, bạn cũng có thể thay đổi cách nhìn cuộc đời với kết quả an lạc tức khắc.    

Một số giáo lý tôn giáo hay tâm linh hứa hẹn một lối thoát dễ dàng, một con đường tu tập sẽ tự động dẫn bạn đến cứu rỗi. Nhưng trên thực tế, cách chân chính duy nhất là xây dựng lại ý niệm bản sắc của mình một cách hệ thống cho đến khi bạn hoàn toàn chấp nhận con người mà bạn thật là. Và điều này sẽ khôi phục sự hợp nhất giữa chân ngã và phàm ngã của bạn. Con đường này sẽ đòi hỏi công sức, bởi vì bạn phải thanh lọc cả bốn thể phàm cho không còn tin tưởng nhị nguyên hay năng lượng tha hóa nào nữa. Tuy nhiên vẫn có một lối thoát dễ dàng… tương đối.

Lối thoát đó là nhận ra rằng cái Ta Biết luôn là cái gì nó nghĩ nó là. Cái ta ý thức của bạn có khả năng tự đồng hóa với bất cứ gì nó chọn, và nó có thể thay đổi ý niệm bản sắc đó trong nháy mắt. 

Có thể nói, tự ngã đã xây dựng một nhà tù tư duy làm bằng các tin tưởng ích kỷ cùng năng lượng tha hóa trong bốn thể phàm. Bạn thử mường tượng nhà tù đó giống như một cái hộp nhỏ bằng gạch với một cửa sổ nhỏ xíu nằm ngay cửa ra vào. Tự ngã đã lường gạt cái Ta Biết bước vào nhà tù rồi tin rằng không thể nào thoát ra. Như vậy, cái ta ý thức của bạn đang nhìn ra thế giới, và nhìn vào chính mình, từ góc độ hạn hẹp của một người ngó ra từ nhà tù của tự ngã. Đây là nguyên nhân khiến bạn cảm thấy bế tắc, bạn cho rằng cuộc đời là khổ não và dường như không có lối thoát.

Kỳ thực, cửa nhà tù không có khóa. Cái Ta Biết có khả năng – vào bất cứ lúc nào – quyết định mở cửa ra và bước ra ngoài nhà tù. Làm như thế không có nghĩa là nhà tù đã biến mất, vì bạn vẫn phải giải hóa các tin tưởng vị kỷ cùng các năng lượng tha hóa hầu lại làm chủ bốn thể phàm. Nhưng một khi bạn đã bước ra ngoài thì quan điểm của bạn về cuộc sống sẽ thay đổi lớn lao. 

Bạn sẽ không còn cảm thấy bị giới hạn hay bế tắc nữa, và cuộc sống sẽ không còn hiện ra là một chuỗi đau khổ triền miên. Bạn sẽ nhận ra sự thật trong câu châm ngôn xưa cổ rằng bạn không là một con người đang cố trải nghiệm cõi tâm linh, mà là một sinh thể tâm linh đang có một trải nghiệm thế gian. Và nếu bạn không ưa trải nghiệm thế gian này, thì bạn có thể thay đổi trải nghiệm đó bằng cách đi theo con đường tâm linh.

Bây giờ bạn có thể dùng cái ta Ki-tô của mình như là vị dẫn đường để bạn tìm lại bản sắc chân thực. Bạn sẽ bắt đầu nhận ra và chấp nhận rằng mình là một sinh thể tâm linh. Bạn sẽ khởi sự cảm được sự tự do cùng niềm vui của một người tìm ra mình là ai, tại sao mình lại ở đây, và làm thế nào mình thực hiện được những mục tiêu cao cả nhất. Mục đích duy nhất của trang mạng này là trao cho bạn sự hiểu biết cùng những phương tiện để giúp bạn nắm được niềm tự do tâm linh đó.   

Nhiều tín đồ Cơ đốc giáo đã lớn lên và được dạy rằng chỉ có Giê-su mới có khả năng hợp nhất với Thượng đế bởi vì thày là đứa Con một của Thượng đế, và bạn sẽ mang tội báng bổ nếu bạn dám nghĩ mình cũng làm được như Giê-su. Nhưng Giê-su không hề xưng mình là đứa Con một của Thượng đế. Thày nói rõ:  

“Ta không thể tự mình làm nổi việc gì”. (John 5:30)

“Ta không tự mình làm điều gì, nhưng ta nói những gì Cha ta đã dạy ta” (John 8:28)

Giê-su dùng từ “Cha” để biểu tượng cho Hiện diện TA LÀ của thày, hoặc vị thày tâm linh của thày. Như thế, chính Ánh sáng của Hiện diện TA LÀ đã ban cho Giê-su quyền năng làm những điều mà thày làm. Chỉ vì bốn thể phàm của thày hoàn toàn thuần khiết – để cho ánh sáng từ Hiện diện TA LÀ có thể chảy xuống thông suốt – mà thày đã có những quyền năng sáng tạo vượt xa con người bình thường. Bí mật đã bị hầu hết các tôn giáo chính mạch bưng bít là mọi con người đều có một Hiện diện TA LÀ, và Hiện diện TA LÀ trong bạn cũng có cùng quyền năng như Hiện diện TA LÀ trong Giê-su. Vì vậy Giê-su mới dạy: 

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các con, kẻ nào tin ta cũng sẽ làm những việc ta làm, lại còn làm những việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha ta” (John 14:12)

Bạn, tức là phàm ngã bạn, sẽ không thể làm được những việc của Giê-su, thế nhưng Thượng đế có thể làm cùng những việc qua bạn như ngài đã làm qua Giê-su. Giê-su chỉ phi thường vì thày không còn chối bỏ Thượng đế ở trong thày, và vì vậy Thượng đế đã làm việc qua thày mà không gặp trở ngại nào. Còn bạn thì đã bị lập trình để ngăn chặn dòng Ánh sáng và Tình thương của Thượng đế chảy vào phàm ngã, nhưng bạn có thể vượt qua lập trình đó nhờ tâm Ki-tô. Và khi đó bạn sẽ biết, sự thật Ki-tô sẽ giải thoát bạn khỏi các ảo tưởng của tự ngã.

Khi bạn biết sự thật này, bạn có khả năng đạt được cùng tâm thức hợp nhất với Hiện diện TA LÀ như Giê-su đã chứng tỏ. Giê-su đã hiện thân để chỉ cho bạn con đường mà mọi người đều có tiềm năng đi theo. Giê-su muốn ai ai cũng xem thày như một tấm gương để noi theo, chứ không là một thần tượng để thờ cúng. Giê-su đã đến để chứng thực một nguyên lý căn bản của đường tu tâm linh, đó là: Khi một người làm được thì tất cả cũng làm được.

Tâm thức hợp nhất với Hiện diện TA LÀ là tiềm năng lớn nhất của bạn trên trái đất, và một khi bạn đạt tới, bạn sẽ hoàn thành chức năng của mình là đồng sáng tạo với Thượng đế. Chỉ khi nào có đủ túc số những người đạt được tâm hợp nhất này trong nhân loại thì ngày trở về của Ki-tô mới xảy đến, nước Trời mới thị hiện trên địa cầu, mở ra một thời Hoàng kim thanh bình, giác ngộ.

Rất có thể bạn đã tình nguyện đầu thai trong thời buổi này để góp sức đem lại Thời Hoàng kim. Rất có thể bạn đã luôn luôn cảm nhận địa cầu có điều gì không ổn, thiếu sót, cần thay đổi. Rất có thể bạn đã luôn luôn mong mỏi một điều gì tốt đẹp hơn, phong phú hơn – một thiên đàng đã đánh mất, tức sự hợp nhất với chân ngã của mình. Chính vì vậy mà chìa khóa để bạn hoàn thành bản thân và cải thiện thế giới là đi theo tiếng gọi muôn thuở: “Loài người, hãy tự biết mình – tức là hãy biết cái Ta của mình là Thượng đế.”

Con người thật của bạn là Hiện diện TA LÀ. Cái Ta Biết chính là Hiện dịên TA SẼ LÀ. Hãy cả gan biết được điều đó. Hãy cả gan thể hiện được ở dưới tất cả những gì mình là ở Trên.

Điều ngự tâm tiềm thức

Tiềm thức là một đề tài vô cùng phức tạp, cho nên muốn hiểu hay muốn điều ngự tiềm thức không phải là chuyện đơn giản. Hiện có nhiều luận thuyết (trong các môn tâm lý, tự cải tiến hay tâm linh) đưa ra những phương thức giản tiện để giúp bạn vượt qua mọi khó khăn. Tuy nhiên một khi bạn tìm hiểu thêm về tiềm thức, bạn sẽ biết là không có cách giải quyết nhanh chóng. Nhưng bạn cũng sẽ nhìn ra là có một giải pháp dài hạn khả dĩ đưa đến thăng vượt.

Như đã có giải thích, tâm tiềm thức có bốn tầng lớp, tương ứng với bốn tầng bản sắc, lý trí, cảm xúc và vật lý. Các tầng này hình thành một cấu trúc có trên có dưới, tức là không có gì ở tầng dưới (như trong tâm vật lý chẳng hạn) có thể đi ngược lại tầng trên (như tâm xúc cảm trong ví dụ này). Tại sao điểm này quan trọng? Xin thưa, nếu bạn muốn điều ngự đời mình, bạn cần chỉ đạo được tiềm thức, bởi vì đối với hầu hết mọi người, chính tiềm thức định đoạt cách bạn phản ứng trong phần lớn các tình huống. Và tiềm thức không là gì khác hơn một chiếc máy tính tinh vi. 

Lập một chương trình máy tính

Hãy lấy một trải nghiệm thường tình nào đó. Nếu bạn lặp đi lặp lại trải nghiệm này, bạn sẽ tạo ra trong tiềm thức một “chương trình điện toán” có khả năng hoạt động mà không cần đến tâm ý thức của bạn góp phần vào. Lấy chuyện đi xe đạp chẳng hạn; một khi bạn đã tập được cách đạp xe, bạn sẽ không bao giờ quên nữa. Bạn có thể không đi xe hàng chục năm trời nhưng khi bạn ngồi lên yên xe trở lại, chương trình trong máy tính tiềm thức của bạn sẽ lập tức tiếp quản.

Điều quan trọng ở đây là nếu bạn gặp một tình huống nào đó nhiều lần, và nếu mỗi lần bạn có phản ứng giống nhau, máy tính của tiềm thức sẽ tạo ra một chương trình dựa trên giả thuyết là bạn sẽ luôn luôn muốn có cùng phản ứng đó trong một tình cảnh tương tự. Và một khi chương trình được thiết lập, nó sẽ nằm im trong tiềm thức, chờ dịp kích hoạt khi một tình huống thích hợp xảy ra. Và khi điều này xảy đến, chương trình liền đứng ra thay thế phản ứng của bạn, và nó sẽ làm hết sức để vô hiệu hóa ý chí có ý thức của bạn. Đây là lý do rất nhiều người cảm thấy bất lực khi muốn thay đổi một cách ý thức một số khuôn nếp phản xạ.     

Vấn đề lớn là rất nhiều chương trình như thế đã được lập ra trong quá khứ, trong tiền kiếp hay vào thời thơ ấu. Hãy lấy ví dụ một chương trình khá phổ biến. Giả dụ khi còn nhỏ, bạn bị một khuôn mặt uy quyền như một phụ huynh hay một thày giáo mắng mỏ, nhục mạ. Bạn lập ra một chương trình trong tiềm thức để bạn chịu đựng mọi sự hành hạ mà không có lời biện bạch. Đây là một phản ứng bình thường đối với một đứa trẻ không có chọn lựa nào khác, vì nó không thể cãi lại hay bỏ đi nơi khác. Nhưng một khi chương trình đã đặt vào máy tính tiềm thức rồi, chương trình này sẽ ở lại đó suốt đời.

Cho nên khi bạn lớn lên, hoặc nhiều kiếp sau đó, bạn lại gặp một khuôn mặt uy quyền có thói hay mắng mỏ, chương trình tiềm thức được kích hoạt và bạn sẽ phản ứng y như khi chương trình được tạo ra lúc trước. Cái khác là bây giờ bạn đã trưởng thành và bạn có nhiều chọn lựa hơn khi còn nhỏ. Bạn có khả năng đáp lại hay bỏ đi nơi khác, nhưng không, trong chương trình không có những giải pháp này, và nó chỉ có thể lặp lại mãi mãi.    

Lối thoát

Cách duy nhất bạn có thể thoát khỏi khuôn nếp là sử dụng tâm ý thức, và đây là chỗ mà nhiều người bị mắc bẫy khi họ dùng một cách thức không mấy hiệu nghiệm hoặc chỉ gây thêm vấn đề cho họ. Cách thức này là sử dụng ý chí có ý thức của mình để gạt bỏ lập trình của tiềm thức. Làm vậy có thể thành công nhưng bạn sẽ phải trả giá.

Hãy lấy một ví dụ cụ thể. Có anh kia mang sẵn một chương trình trong tiềm thức khiến anh luôn tin mình kém cỏi, và mỗi khi tình huống kích hoạt tin tưởng đó, cảm xúc lại đau nhói lên quá sức chịu đựng của anh. Vì anh tin anh không có cách nào trốn tránh nỗi đau, anh chỉ thấy một cách duy nhất để bớt đau là làm cho tâm mình tê dại. Anh nốc một ly rượu hay tìm một lối thoát tạm bợ nào khác, nhưng anh chỉ rơi thêm vào những tình huống khiến mình càng cảm thấy kém cỏi.

Rồi một ngày kia có điều gì đó khiến anh hiểu ra là anh không thể tiếp tục say rượu, và anh nhất quyết không uống nữa. Anh dùng sức mạnh ý chí có ý thức để tự cảnh giác mỗi khi thèm rượu, rồi anh bác bỏ và gạt đi cơn thèm. Lúc đầu, chiến lược này đòi hỏi một nỗ lực phi thường, nhưng sau một thời gian, nó trở nên dễ dàng hơn. Lý do là vì anh đã tạo ra một chương trình tiềm thức mới nhằm bãi bỏ chương trình cũ.

Vấn đề hiển nhiên là chương trình cũ vẫn nằm nguyên ở đó trong tâm tiềm thức của anh. Cái mới đã gạt bỏ được cái cũ trong một vài tình huống mà anh đã gặp, nhưng bất cứ lúc nào một tình huống mới có thể hiện ra khiến chương trình cũ lại hiệu nghiệm trở lại, gạt bỏ chương trình mới sang một bên. Nếu thế thì anh sẽ lại rơi vào thói cũ mà thôi.

Vậy có phương cách nào khác hay không? Thưa có, và đó là sử dụng khả năng của tâm ý thức để vén lên bức màn của tiềm thức và nhìn thẳng vào cái chương trình nguyên thủy đã khiến mình cảm thấy kém cỏi. Một khi thấy rõ nó là gì thì cũng thấy nó bắt nguồn từ một quyết định cụ thể. Và một khi thấy được quyết định này là sai lầm, anh ta có thể dùng khả năng của tâm ý thức để thay thế bằng một quyết định tốt đẹp hơn, và chương trình cũ tiêu tan.

Đây là một phương cách khả thi. Nói cho đúng, đó là phương cách khả thi duy nhất để tiến bước vững chãi trên con đường điều ngự bản thân – và cũng là nền tảng để điều ngự mọi hoàn cảnh trong thế giới vật chất. Chỉ có một vấn đề nhỏ là nó không nhanh chóng. Nó cần thời gian và nỗ lực, nhưng trên hết, nó cần mình phải sẵn sàng nhìn sâu vào tiềm thức và quyết định sáng suốt hơn. 

Hiểu cách thăng vượt các chương trình tiềm thức

Bây giờ hãy trở lại trường hợp anh bạn nghiện rượu do mặc cảm tự ti. Uống rượu là một hành vi vật lý, được kích hoạt bởi một chương trình tiềm thức nơi tâm vật lý, khiến cho cơ thể thèm thuồng cảm giác tê dại do rượu đem lại. Và mặc dù cơn thèm có thể khó giải quyết hay đòi hỏi biện pháp vật lý, ở nguyên thủy nó được kích hoạt bởi một chương trình của tâm. Mỗi chương trình của tâm đều khởi nguồn từ một tin tưởng, cho nên cách hiệu nghiệm để đánh bại chương trình là khiến cho tin tưởng bước ra khỏi tiềm thức, lộ diện trong ý thức, rồi được thay đổi một cách ý thức.   

Ở mức xác thân, có thể có những tin tưởng bảo rằng chuyện uống rượu để giải tỏa nỗi đau là chính đáng hay cần thiết. Nhưng sâu bên dưới là nỗi bất lực thoát khỏi nỗi đau tinh thần, cho nên chỉ có một cách là loại trừ mọi cảm giác. Một khi bạn nhận ra điều này, bạn sẽ thấy rõ chương trình này dựa trên tin tưởng là bạn không thể thoát khỏi nỗi xúc cảm đau đớn. Điều này phần nào không sai, bởi vì ở mức vật lý, bạn không thể giải quyết hay chấm dứt một xúc cảm đau đớn. Tuy nhiên, cái Ta Biết không phải lả tâm vật lý. Cái Ta Biết là cái gì nhiều hơn tâm vật lý.

Nhận ra điều này rồi, bạn có thể suy nghĩ rằng nếu nỗi đau khởi nguồn từ tầng cảm xúc, thì bạn có thể vén thêm tấm màn lên để nhìn vào cảm thể một cách ý thức. Nếu bạn giải quyết được vấn đề ở đó thì nỗi đau tinh thần sẽ không còn nữa, và bạn cũng không còn lý do gì làm tâm mình tê dại. 

Tất nhiên, chiến lược này cũng có một nhược điểm, bởi vì khi bạn bắt đầu dùng ý thức nhìn vào cảm thể, bạn sẽ gặp tận mặt xúc cảm đau đớn nằm ở đó, và điều này có thể vừa đáng sợ vừa quá sức chịu đựng. Thật sự, nhiều người sẽ chỉ bước vào cảm thể bởi vì một nguyên cớ nào đó (như nghiện rượu chẳng hạn) đã gây ra quá nhiều nỗi đau tinh thần đến độ họ chấp nhận đau đớn ngắn hạn để thay đổi cuộc sống dài hạn.     

Các dụng cụ thăng vượt còn cho bạn một chọn lựa khác. Như đã có giải thích, một chương trình của tiềm thức khởi nguồn từ một tin tưởng. Tin tưởng này giống như một hòn đá ném xuống dòng suối, rồi sỏi nhỏ lẫn bùn đất sẽ tụ lại chung quanh, khiến cho bạn nhìn từ hạ nguồn không thể thấy được hòn đá.

Tuy nhiên, “bùn đất” trong tâm chỉ đơn giản là năng lượng. Ở nguyên thủy, năng lượng này đến từ cái ta tâm linh, rồi bị hạ thấp độ rung, bị tha hóa, bởi những tin tưởng gây giới hạn. Khi bạn nhìn vào cảm thể, đầu tiên bạn sẽ gặp một đống năng lượng cảm xúc, khiến bạn bị choáng ngợp không thấy được tin tưởng sai lầm lẩn trốn đằng sau cái đống đó.

Các dụng cụ thăng vượt sẽ cho bạn khả năng nâng cao rung động của năng lượng qua sự chuyển hoá hay tái tạo phẩm chất. Và như thế, bạn sẽ có thể bước sâu vào cảm thể mà không còn cảm thấy đau đớn, hay bớt đau hơn, hầu phơi bày tin tưởng nằm bên dưới dễ dàng hơn.      

Là người đã dùng thử cả những cách trị liệu truyền thống lẫn không truyền thống, tôi (Kim Michaels) có thể bảo đảm với bạn rằng các dụng cụ thăng vượt có khả năng cải thiện đáng kể mọi tu tập khác của bạn.

Nhưng trước khi bàn quá xa, hãy trở về với tiến trình trước mặt. Một khi bạn phơi bày một tin tưởng gây giới hạn nơi tâm cảm xúc, bạn sẽ thấy nó chỉ là kết quả của một xung lực đến từ tâm lý trí. Chẳng hạn, tâm cảm xúc có thể tin rằng trong một số tình huống, bạn thực sự kém cỏi và bạn không thể có phản ứng nào khác hơn là cảm thấy tự ty. Nhưng khi bạn xem xét tin tưởng này, bạn sẽ thấy nó đến từ niềm tin rằng bạn bị bế tắc, không có chọn lựa nào khác. Và khi bạn xem xét niềm tin này đến từ đâu, nó dẫn bạn vào tâm lý trí. Một lần nữa, bạn sẽ gặp một số năng lượng tha hóa, nhưng thay vì gây cho bạn đau đớn trong cảm xúc, nó sẽ chỉ khiến bạn nghi ngờ, bối rối. Và một lần nữa, năng lượng này có thể được giải thể bằng các dụng cụ thăng vượt.

Rồi bạn sẽ phơi bày ra những tin tưởng sâu thẳm hơn nơi tâm lý trí, thường thường liên quan tới một cách nhìn nào đó về thế giới. Trong thế giới quan này, bạn chia con người làm hai loại: những người bề trên (các khuôn mặt uy quyền) và những người bề dưới thấp kém, không làm sao ngoi lên khỏi vị thế hiện tại của mình.     

Rồi bạn có thể tự hỏi niềm tin đó từ đâu đến, và nó sẽ dẫn bạn vào tầng bản sắc, là tầng sâu nhất của tâm phàm. Ở đây, rất có thể bạn sẽ phơi bày ra một niềm tin sâu hơn nữa, rằng trên căn bản bạn chỉ là một sinh thể hạn chế, bất lực. Bạn cũng có thể tìm thấy niềm tin rằng mình là một con người với tất cả những giới hạn của người phàm phu. Hoặc bạn có thể tìm ra niềm tin rằng bạn thuộc về một giai cấp sinh thể phải phục dịch cho một giai cấp cao hơn mình.     

Một lần nữa, bạn sẽ đối mặt với những năng lượng vô cùng dày đặc, trọng trược, nhưng chúng cũng có thể được chuyển hóa. Một khi bạn chất vấn các niềm tin mà bạn gặp gỡ, bạn có thể nhận biết được mình là cái Ta Biết, là sự nối dài của Hiện diện TA LÀ của mình. Và thật là chuyện vô nghĩa nếu muốn đánh giá chính mình trên căn bản một thước đo nhị nguyên, tương đối, chia con người thành cao với thấp. Bạn là một sinh thể độc nhất, và khi bảo là độc nhất thì không thể đem ra so sánh. Bạn cũng có thể nhận biết mình là một sinh thể tâm linh mà không một giới hạn thế phàm nào có thể ảnh hưởng.   

Hiển nhiên, nơi bốn tầng của tâm chứa đựng nhiều tin tưởng sai lạc, được vun bồi suốt nhiều kiếp đầu thai. Bạn cũng sẽ phải đối mặt với tâm thức tập thể, cũng được bồi đắp từ rất lâu. Mặc dầu vậy, với kiên trì và bằng cách sử dụng mọi phương tiện sẵn có (như các kỹ thuật trị liệu và tự lực bổ sung cho các dụng cụ thăng vượt) bạn có thể tiến bước. Khi nghĩ rằng các tin tưởng tiềm thức đã mất bao nhiêu kiếp để tạo dựng, thật là điều đáng kinh ngạc khi bạn có khả năng vượt qua tất cả chỉ trong một kiếp – nếu bạn thực sự chuyên cần.  

Tự ngã gây rối như thế nào

Bạn nên biết là tự ngã sẽ khiến cho tiến trình trên phức tạp hơn nếu bạn không hiểu rõ tự ngã vận hành thế nào. Vấn đề căn bản là tự ngã sẽ chỉ sai khiến được bạn khi nó có thể ẩn núp khỏi tầm nhận biết ý thức của bạn. Và nơi nào là nơi tốt nhất để nó lẩn trốn? Trong tâm tiềm thức, dĩ nhiên. Và điều này có nghĩa, tự ngã sẽ mong muốn tiềm thức tiếp tục tiềm ẩn như cũ.

Có một bài giảng quan trọng nơi Giê-su giải thích cách tự ngã giành lấy quyền quyết định của bạn, nhưng vẫn có một số quyết định mà chỉ có bạn mới có thể lấy được. Bạn cần ghi nhớ điều này, vì cách duy nhất để vô hiệu hóa tự ngã là hiểu rằng trong quá khứ, bạn đã từng quyết định rằng có những quyết định bạn không muốn lấy, và vì vậy bạn đã cho phép tự ngã quyết định dùm bạn. Thậm chí bạn đã tạo ra tự ngã để nó làm chuyện đó.   

Cách duy nhất để bạn phá vỡ sự kềm kẹp của tự ngã là quyết định một cách ý thức là bạn sẵn sàng lấy những quyết định đó. Ấy nhưng khi ở khởi đầu bạn quyết định từ chối quyết định, bạn tưởng rằng mình không có chọn lựa nào tốt cả, và cũng không có chọn lựa nào mà không đem lại cảm xúc tiêu cực. Khi sử dụng các dụng cụ thăng vượt ở đây, bạn có khả năng vô hiệu hóa năng lượng cảm xúc, và vì thế khi bạn hòa điệu với chân ngã, bạn có thể nhìn thấy nhiều chọn lựa khác hơn. Nhờ vậy, bạn sẽ hiểu ra rằng mình luôn luôn có giải pháp giúp mình tăng trưởng. 

Tâm xác thịt

Để vẽ ra toàn bộ bức tranh của tâm tiềm thức, chúng ta cần xét đến bộ phận mà các chân sư gọi là tâm xác thịt. Ngay trong tên gọi cũng đã hàm ý một tầng trong tâm liên quan đến các chức năng của cơ thể vật lý. Chẳng hạn, bạn không cần dùng đến ý thức để bảo tim đập hay tế bào sản xuất protein. Bạn thử tưởng tượng, nếu phải ý thức từng hoạt động của hàng tỷ tế bào và phải ra lệnh cho chúng hoạt động, thì có lẽ bạn sẽ không còn sức chú tâm ý thức nào để làm bất cứ việc gì khác, chứ đừng nói tới chuyện vui hưởng cuộc đời.

Một phần nào đó, tâm xác thịt chỉ đơn giản là một máy siêu điện toán điều khiển các chức năng của một cơ thể cực kỳ phức tạp được Tánh linh sử dụng như phương tiện biểu hiện trong thế giới vật chất. Vấn đề hiện ra khi chiếc siêu máy tính đó xử sự như một sinh vật riêng rẽ, tựa như trong sách truyện khoa học viễn tưởng.

Nghĩa là điểm mấu chốt là như sau: Bộ não xác thịt là một máy tính nhằm giúp bạn sử dụng cơ thể vật lý, nhưng nếu bạn không để ý – và tất nhiên không ai trong chúng ta đã được dạy dỗ điều này – kẻ phục dịch có thể trở thành chủ nhân. Và nhất định chuyện này sẽ ngăn cản bạn tăng trưởng tâm linh.   

Trong nhiều tôn giáo và ngay cả một số giáo lý tâm linh, cơ thể vật lý được mô tả là xấu xa, hay ít nhất cũng là kẻ thù của sự tinh tấn tâm linh. Các chân sư không hề dạy như vậy. Các thày dạy rằng cơ thể vật lý là phương tiện cho chúng ta tinh tấn tâm linh, và như thế chúng ta cần tôn trọng và chăm sóc nó. Song song, chúng ta cũng không được cho phép cơ thể cùng những ham muốn của nó điều khiển đời sống mình.

Chúng ta sẽ làm được điều này nếu nhận thức chiếc máy tính điều hành cơ thể thật ra không biết suy nghĩ. Nó đơn giản chỉ biết thi hành các chương trình, và nó sẽ tiếp tục chạy mãi cho đến khi tâm ý thức chúng ta đặt ra những lằn ranh. Cơ thể có một số nhu cầu căn bản, và bộ não xác thịt sẽ tìm cách đáp ứng các nhu cầu đó mà không cần cân nhắc các vấn đề nhân đạo hay tinh thần.     

Ví dụ, một nhu cầu căn bản của cơ thể là sự an toàn, và đối với tâm xác thít, không có gì sai trái nếu bạn ra tay giết người, hoặc bạn vô hiệu hóa một mối đe dọa nào đó, kể cả khi đó là một người. Một số nhà độc tài hay trùm ăn cướp có thể sát hại bừa bãi bất cứ ai họ coi là đe dọa mà không cần nghĩ xem đe dọa đó có hợp lý hay không. Lý do là vì những người như vậy đã cho phép bộ não xác thịt chiếm lấy đời họ – ít ra là ở khía cạnh này.   

Một ví dụ khác là thức ăn. Tâm xác thịt sẽ ăn bất cứ gì có sẵn mà nó thích, và nó sẽ ăn nhiều tối đa. Nó không biết tự hạn chế, và đây là trường hợp những người ăn quá mức hoặc ăn những thức độc hại chỉ vì họ bị sai khiến bởi tâm xác thịt.

Một ví dụ nữa là nhu cầu sinh sản truyền giống. Tâm xác thịt không có giới hạn nào về tình dục, và không những thế, nó còn được lập trình để tìm kiếm tình dục tối đa với càng nhiều người càng tốt. Một số người tự xem mình là sành điệu khi họ cố tình đi ra ngoài chuẩn mực một người phối ngẫu duy nhất, nhưng khi làm vậy, họ không biết rằng họ đang bị tâm xác thịt điều khiển.

Vậy làm thế nào tránh được tâm xác thịt cai quản đời mình đây? Điều này là một phần tự nhiên trong tiến trình bước vào tâm tiềm thức. Tâm xác thịt đúng ra phải là kẻ phục dịch cho bạn, có nghĩa bạn là người định ra các ranh giới nơi nó được phép sinh hoạt tình dục chẳng hạn. Thế nhưng ở một thời điểm trong quá khứ, một số người đã quyết định họ không muốn lấy quyết định ý thức về chuyện này, và như thế họ đã để yên cho tâm xác thịt thay thế họ điều khiển cơ thể. Đứng đằng sau quyết định buông xuôi này là một niềm tin tưởng. Một khi bạn phơi bày tin tưởng đó ra, bạn sẽ lấy lại chủ quyền khỏi sự chi phối của tâm xác thịt và các lằn ranh ý thức của bạn sẽ được tái thiết lập.

Tự ngã con người

Tương tự như “linh hồn”, từ “tự ngã” cũng đã được sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo giáo lý tâm linh, các bộ môn tâm lý hay tự cứu. Việc định nghĩa tự ngã vốn khó khăn chính vì tự ngã làm méo mó cái nhìn của chúng ta. Vì vậy khi bước trên đường tu tâm linh, bạn sẽ phải đối đầu với những biểu hiện khác nhau của tự ngã.

Như được trình bày trong nhiều bài khác, trên địa cầu có tất cả 144 tầng tâm thức. Khi lần đầu tiên cái Ta Biết xuống đầu thai nơi địa cầu, tâm thức của nó ở mức thứ 48. Lúc đó chọn lựa mở ra cho nó là nó có thể tiến lên ngày càng cao hơn trong một vòng xoáy hướng thượng. Từ tầng 48, nó có thể tuần tự nâng cao tâm thức cho đến khi đạt tầng thứ 144 rồi thăng thiên.  

Mỗi tầng tâm thức như thế tương ứng với một khía cạnh của tự ngã. Chính tự ngã này khiến cho tầng tâm thức đó có vẻ như thực, như có một sức mạnh giữ cái Ta Biết ở lại mức đó. Nói cách khác, tự ngã sẽ tìm cách khiến cho cái Ta Biết tin rằng mình không thể, hoặc không được phép, hoặc không cần vượt lên trên mức hiện tại. Cho nên để bước từ một tầng tâm thức lên tầng trên, cái Ta Biết sẽ phải thăng vượt khía cạnh đặc thù của tự ngã ở tầng này.   

Mặc dù điều này nghe có vẻ khó khăn, nhưng thật sự không khó lắm đâu một khi bạn dùng trực giác mà thấy được cách vận hành của tự ngã. Tự ngã chỉ có một vài lựa chọn giới hạn, một vài mánh khóe ở mỗi tầng tâm thức mà bạn có khả năng nhận diện.

Thủ thuật chính của tự ngã là đánh lạc hướng sự chú ý khiến bạn không quay vào nội tâm. Giê-su có nói một câu thật chí lý khi thày hỏi tại sao chúng ta cứ tìm cái dằm gỗ trong mắt anh em mà không nhìn thấy cái xà to tướng trong mắt mình. Lý do chính là vì tự ngã có tài đánh lạc hướng khiến bạn tưởng mình phải làm một cái gì đó, phải giải quyết một vấn đề, phải chú ý vào một chuyện gì đó ở bên ngoài mình.    

Chìa khóa để nâng tâm thức từ một tầng lên tầng trên là nhìn vào nội tâm mình và đi đến hai kết luận:

  • Tầng tâm thức hiện tại của tôi đang hạn chế tôi và tôi không còn muốn ở mức này nữa.
  • Tôi, nghĩa là cái Ta Biết, là nhiều hơn tầng tâm thức hiện hữu, tức là tôi có khả năng tự tháo gỡ ra khỏi ý niệm bản ngã hiện thời để vươn lên – hay tái sinh – ở một ý niệm bản ngã mới.

Nhưng trước khi bạn tới mức sẵn sàng để cho cái ngã cũ ra đi, bạn phải nhìn thấy rõ chân tướng của nó. Và bạn sẽ không thể làm điều này khi nào bạn còn hướng nhìn ra ngoài, còn cố thay đổi người khác hay thế giới chung quanh theo nhãn quan của mình ở tầng tâm thức hiện tại của mình.

Như đã có giải thích, tâm thức hiện tại của bạn hình thành một phin lọc nhận thức. Khi nào bạn còn nhìn thế gian xuyên qua phin lọc, bạn bắt buộc thấy thế gian một cách nào đó, và tự ngã sẽ cố thuyết phục bạn rằng cách đó là thực tại tối hậu, là chân lý tuyệt đối và là cách duy nhất để nhìn cuộc đời. Nghĩa là bạn không thể, không có quyền và không cần đặt ra bất cứ nghi vấn nào.

Bạn cứ tưởng tượng một ván cờ tướng mà người ta đã thay đổi luật lệ đến độ bạn không thể chiếu tướng đối thủ, hay nói cách khác, bạn không thể thắng ván cờ cho dù bạn có đi những bước tài tình thế nào chăng nữa. Cho nên, hoặc bạn cứ tiếp tục chơi trò này vĩnh viễn, hoặc sẽ tới một lúc bạn tỉnh giấc và từ chối chơi tiếp. Dù bạn có làm gì thì bạn sẽ không thể thăng vượt tâm thức hiện thời của mình cho tới khi bạn bắt đầu chất vấn phin lọc nhận thức – và tự ngã sẽ làm đủ mọi cách để ngăn cản bạn.

Tự ngã đã tạo ra một con đường giả hiệu mà chúng ta có thể gọi là con đường vỏ ngoài, con đường công truyền. Nó muốn bạn nghĩ rằng bạn có thể hội đủ điều kiện để thăng thiên bằng cách thay đổi người khác hay thay đổi thế giới. Nhưng con đường chân chính là con đường nội tâm, nơi bạn thấy rõ cách duy nhất để bạn có đủ tư cách thăng thiên là phải thay đổi chính mình – thay đổi ý niệm của mình về bản ngã. Và cách duy nhất để vươn lên một ý niệm bản ngã cao hơn là cho phép ngã cũ chết đi. Muốn ngã cũ ra đi thì phải thấy được nó đang hạn chế mình, nó là không thực. Phải thấy được cái Ta Biết là nhiều hơn ngã, nghĩa là Ta Biết sẽ không chết khi ngã tiêu. Và để đạt tới mức đó, bạn phải nhìn xuyên qua lớp hỏa mù mà tự ngã đã tung ra trong tâm bạn.  

Các tầng của tự ngã

Như có trình bày với 144 tầng tâm thức, đường tu tâm linh gồm có ba giai đoạn chính. Khi lần đầu tiên xuống cõi trần, bạn ở mức thứ 48, nghĩa là bạn nhận biết thế giới qua phin lọc nhận thức tương ứng với tầng tâm thức này. Ở mức này, bạn cảm nhận mình liên hệ với một cái gì cao rộng hơn mình, nhưng bạn chưa nhận thức rỏ ràng Hiện diện TA LÀ của mình.

Bạn cũng cảm nhận thế giới là một toàn thể, tức là việc làm của bạn sẽ ảnh hưởng đến toàn thể và do đó cũng ảnh hưởng đến bạn. Bạn không hiểu rõ tại sao sự thể lại như vậy nhưng bạn có thể cảm thấy qua trực giác, và vì vậy có những chọn lựa mà nhất định bạn sẽ không lấy. Chẳng hạn, bạn sẽ không có hành vi nào sẽ gây hại rõ ràng cho người khác, bởi vì bạn cảm thấy nó sẽ không có lợi cho bản thân mình.

Cái Ta Biết có quyền tự quyết và nó có trách nhiệm quyết định dựa theo phin lọc nhận thức hiện thời của nó. Vì thế ở mức thứ 48 này, bạn sẽ lưỡng lự không biết mình nên đi lên hay đi xuống, tạo một vòng xoáy hướng thượng hay một vòng xoáy hướng hạ.

Ở dưới tầng tâm thức thứ 48 là những tâm thức với một điểm chung, đó là niềm tin tưởng vi tế rằng cứu cánh có thể biện minh cho phương tiện. Hậu quả là khi bạn bước vào các tầng này, bạn đánh mất cảm giác nối kết với cái ta tâm linh, nối kết với mọi sự sống. Nói cách khác, một khi bạn xuống thấp hơn tầng 48, cái tự ngã mà bạn tạo dựng sẽ khiến bạn tin rằng mình là một sinh thể tách biệt, sinh hoạt trong một thế giới đầy những con người và đồ vật tách biệt. Và vì thế, bạn cảm thấy hoàn toàn chính đáng khi bạn làm một số chuyện chỉ có những sinh thể tách biệt mới làm, tức là bạn có quyền làm bất cứ điều gì mình muốn bất kể hậu quả cho người khác.  

Người bạn đồng hành bắt buộc của tâm thức này là một cảm giác lẻ loi, luôn bị đe đọa bởi người khác hay bởi ngoại cảnh vật chất. Và cũng không kém bắt buộc là một tâm trạng muốn kiểm soát người và vật cho bằng được, khởi sinh từ những đe đọa mà mình cảm nhận. Càng đi xuống các tầng tâm thức thấp thì càng gặp những con người muốn kềm kẹp, khống chế người khác, thậm chí còn giết hại những ai mình không thể kiểm soát.

Đối với những người này, cách cư xử như thế có vẻ hoàn toàn chính đáng và cần thiết, lý do là vì họ hoàn toàn đồng hóa với cái tự ngã tương đương với tầng tâm thức của họ. Họ hoàn toàn tin tưởng vào nhận thức mà họ nhận được qua tự ngã, và do đó hành vi của họ hiển nhiên là chính đáng, cần thiết hoặc không thể tránh được. Ở những mức tâm thức thấp nhất, bạn sẽ tìm thấy những người tuyệt đối tin rằng hành động của mình là cách phục vụ chính đáng cho những lý tưởng cao thượng, và ví dụ điển hình là Hitler, Stalin và Mao.

Như vậy chúng ta có thể thấy tự ngã có ba tầng cấp khác biệt:

  • Dưới mức thứ 48 là vùng tâm thức nơi tự ngã hung hãn tìm cách kiểm soát và thống trị người khác. Những người như thế luôn phải đấu tranh chống lại một cái gì đó ở ngoài họ. Tự ngã ở mức này thường xông xáo tìm cách giành lấy quyền quyết định thay cho bạn, hoặc it ra kiểm soát các quyết định của cái Ta Biết.
  • Giữa hai tầng tâm thức 48 và 96, tự ngã không có khuynh hướng hung hãn, kềm chế đối với người khác, mà tìm cách kiểm soát chính bạn. Đa số người tâm linh đều ở mức này, có nghĩa họ đấu tranh chống lại một cái gì đó bên trong.  
  • Giữa hai tầng tâm thức 96 và 144, tự ngã trở nên vi tế hơn. Ở đây, bạn nỗ lực tìm kiếm một sự quân bình tế nhị, một đằng không cho phép cõi vật chất sai khiến được mình – vì bạn tự xem mình là Tánh linh – và đằng khác trau dồi niềm tôn trọng hoàn toàn đối với quyền tự quyết của người khác, nghĩa là không rơi vào cạm bẫy bó buộc người khác phải cải thiện, mà chỉ đánh động họ qua sự nêu gương.

Điểm mấu chốt là tự ngã có thể được xem là một phin lọc tô màu nhận thức. Khi bạn ở tầng tâm thức thấp nhất, bạn mang tới 144 lớp màu của phin lọc này. Điều này có hai hệ quả. Thứ nhất, bạn không thể trải nghiệm trực tiếp ánh sáng thuần khiết xối xuống từ Hiện diện TA LÀ. Cái Ta Biết đồng hóa với tầng tâm thức của nó đến độ nó khó lòng nào tự chiêm nghiệm mình là nhận biết thuần khiết, và do đó nó không thể “thấy” được nó là cái gì nhiều hơn ngã của nó (đây là lý do một số người sẵn sàng giết người để bảo vệ cái ngã không thực của mình). Thứ hai, cái Ta Biết hoàn toàn bị thuyết phục rằng nhận thức của nó là thực, thậm chí còn tin là nó có quyền định đoạt thế nào là thực hay không thực.

Trong tâm trạng này, bạn nằm ngoài vòng tiếp cận của một vị thày tâm linh, đặc biệt là các chân sư thăng thiên. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bạn coi như “hư mất”, không có đường về, mà có nghĩa là bạn chỉ có thể học hỏi qua một cách mà thôi mà các chân sư gọi là Trường đời Cay đắng. Bạn học hỏi bằng cách không ngừng chiến đấu chống lại một đối lực nào đó, cho tới khi rốt cuộc bạn đi tới kết luận, “Chống đối nó như vậy là đủ rồi. Nhất định phải có cách nào khác hay hơn. Cuộc sống không thể chỉ có bây nhiêu.”

Và ở điểm này, một sự chuyển đổi tâm thức có thể xảy đến đưa bạn lên cao hơn, và bạn sẽ chiến đấu chống lại một đối tượng khác, cho tới khi bạn cũng chán ngán trải nghiệm này. Và sẽ tới lúc bạn leo lên được mức thứ 48, nơi tâm bạn mở ra để có thể đón nhận lời chỉ dạy của các chân sư qua trực giác.     

Khi bạn tiếp tục leo lên, bạn sẽ từ từ bóc vỏ từng lớp phin lọc nhận thức. Tiến trình này tiếp diễn cho tới tầng 144 khi bạn lột bỏ lớp cuối cùng và không thể duy trì thân thể vật lý nữa. Và bạn thăng thiên vào cõi tâm linh.

Tuy nhiên có một sự chuyển hướng quan trọng xảy ra ở mức 96, bởi vì ở mức này, bạn bắt đầu cảm nhận trực tiếp tính duy nhất chiều dọc với Hiện diện TA LÀ của mình, và đồng thời tính duy nhất chiều ngang với mọi sự sống. Giê-su đã đến để ban cho nhân loại tấm gương sáng của một người đã đạt tầng tâm thức thứ 96 và cao hơn nữa. Vì vậy thày có nói, “Ta và Cha ta là một”, và “Hễ con làm việc đó cho kẻ hèn mọn nhất trong anh em ta, con cũng đã làm cho ta.”     

Ở mức thứ 96, bạn bắt đầu trực tiếp nhìn thấy mọi sự sống là một – đây gọi là tâm thức Ki-tô. Ở mức này, bạn bắt đầu nhìn thấu qua phin lọc nhận thức do tâm phản Ki-tô tạo ra mà qua đó mọi sự sống đều tách biệt. Sự lừa dối về tính chất tách biệt của sự sống là lừa dối tối hậu mà bạn phải vượt qua trước khi có thể thăng thiên, bởi vì ở cõi tâm linh không hề có gian dối đó. Chỉ trong cõi vật chất, gian dối này mới có thể tồn tại, bởi vì vật chất dày đặc tạo ra cảm giác mọi “vật” đều có vẻ tách biệt, và thế giới vật chất cũng tách biệt khỏi Thượng đế.

Tới đây, chúng ta có thể liên kết với bài viết trước về linh hồn. Khi cái Ta Biết lần đầu giáng thế ở tầng thứ 48, có một tự ngã hiện diện như một thành phần của bản ngã mà bạn khoác vào ở mức này. Trong trường hợp bạn lựa chọn đi xuống các tầng thấp hơn tầng 48 (không phải ai ai cũng lựa chọn như thế), bạn sẽ tạo thêm một lớp tự ngã, là cái tự ngã hung hãn muốn kềm chế người khác. Tự ngã này sẽ gia nhập linh hồn bạn và bạn sẽ mang nó từ kiếp này sang kiếp khác cho tới khi bạn thăng vượt nó.

Bình chứa cái ta và bốn thể phàm

Trang web này đã có mấy chỗ trình bày cặn kẽ về bốn tầng của tâm, hay bốn thể phàm của bạn, cho nên bài này chỉ xin đưa ra một khái quát tóm lược.  

Trong biểu đồ sau đây, hình người ở giữa tượng trưng cho bạn, một dòng sống đang tiến hóa. Biều đồ cho thấy dòng sống của bạn trong tiềm năng cao nhất, nghĩa là bạn đã thoát khỏi tâm thức nhị nguyên và mang tâm Ki-tô. Vì vậy, phàm ngã phản ánh sự toàn hảo của Chân ngã bạn. Bạn ở bên dưới có khả năng là tất cả những gì bạn là ở bên Trên.   

Chartwebsite

Hình người đàn ông Vitruvian của Leonardo DaVinci, với tay chân dang rộng, tượng trưng cho phàm ngã bạn trong một thế hoàn toàn quân bình. Có một hình tròn bao quanh hình người đó, tượng trưng cho tính duy nhất của cõi tâm linh. Hình vuông tượng trưng cho vũ trụ vật chất, được sinh tạo trong một tiến trình “biến tròn thành vuông”, tức là tiến trình Tánh linh biến thành vật chất.

Hình vuông tượng trưng cho bốn nguyên tố cơ bản, là lửa, không khí, nước và đất. Số bốn cũng biểu tượng cho bốn tầng của cõi vật chất và bốn thể phàm của bạn, lả bản sắc thể, trí thể, cảm thể và thân thể vật lý.

fourbodieseps

Hình người dưới có thể gọi là bình chứa của cái ta, bởi vì nó chứa đựng cả bốn thể phàm của bạn. Những thể này gồm có năng lượng đan xen vào lẫn nhau. Chúng đồng hiện hữu trong cùng một khoảng không gian mà chỉ khác nhau về tần số rung động. Đó là:

  • Bản sắc thể, còn được gọi là thể ether, mang trong nó ý niệm bản sắc mà bạn có về chính mình. Chẳng hạn: tôi tự xem mình là thế nào, tôi nhìn Thượng đế ra sao, tôi nhìn thế giới như thế nào, và tôi nhìn sự tương tác giữa cả ba là gì? Tôi có xem mình là một sinh thể tâm linh, có mặt nơi đây để ngự trị trên địa cầu? Hay là tôi tự coi mình là một sinh thể vật chất, một sản phẩm của địa cầu mà tôi không có khả năng thay đổi?   
  • Trí thể chứa đựng mọi suy nghĩ của bạn. Ở nơi đây, bạn hình thành hình tư tưởng về những việc cụ thể mà bạn muốn làm trong thế giới vật chất cũng như cách hoàn thành những công việc đó. Hình tư tưởng này dựa trên ý niệm bản sắc mà bạn lưu giữ trong bản sắc thể, và chính bản săc này sẽ vẽ ra cái khuôn khổ định đoạt những gì bạn nghĩ bạn có thể làm hay không thể làm. Vì vậy, nếu bạn xác định mình là một con người phàm thế thì bạn sẽ hạn chế ngay những gì bạn nghĩ mình có thể thực hiện.
  • Cảm thể dĩ nhiên là trụ sở mọi cảm xúc của bạn. Cảm xúc là năng lượng trong chuyển động. Ý nghĩ chỉ đơn giản là hình tư tưởng, và để biến thành hành động hay thị hiện thành hình tướng cụ thể, ý nghĩ phải được đưa vào chuyển động và đây là điều xảy ra nơi cảm thể. Tuy nhiên, cảm thể cũng chứa đựng ham muốn của bạn, và những ham muốn này có thể đối chọi với những mục đích cao hơn của bạn. Trong điều kiện lý tưởng, cảm xúc phải là sự phản ánh của ý tưởng, và ý tưởng phải phản ánh bản sắc, và cao hơn, bản sắc phải phản ánh cá thể Thiêng liêng của bạn. Nhưng điều thường xảy ra là cảm xúc cứ khăng khăng muốn đi đường riêng của nó, và nó tìm cách điều khiển cuộc đời bạn thay vì để cho tư tưởng bạn chỉ đạo.         
  • Não bộ vật lý và bộ óc xác thịt. Nhiều nhà khoa học duy vật tin rằng mọi ý nghĩ, cảm xúc đều là sản phẩm của não bộ vật lý. Và mặc dù điều này không đúng, phải nói là quả thật não bộ là một máy tính rất phức tạp hoàn toàn đủ khả năng để sản xuất không ít ý tưởng và cảm xúc.  

Tuy nhiên, não bộ vật lý chỉ là cái phần cứng cho một tầng mức của tâm mà các chân sư gọi là tâm xác thịt. Đây là cái tâm phụ trách trông coi các nhu cầu của xác thân vật chất, chẳng hạn như các nhu cầu về an toàn, thực phẩm và truyền giống của con người.

Câu hỏi chủ yếu bây giờ được đặt ra là: trong số bốn thể phàm, tâm ý thức của bạn tập trung vào thể nào nhiều nhất?  

Đối với phần lớn nhân loại, sự nhận biết ý thức được tập trung vào xác thân vật lý và thế giới vật chất. Điều này có nghĩa, phần lớn ý nghĩ và cảm xúc của họ là sản phẩm của não bộ vật lý và tâm xác thịt. Ví dụ, rất nhiều người hướng hầu hết chú tâm của mình vào các nhu cầu bản năng của cơ thể là an toàn, thực phẩm, quần áo và tình dục.  

Trong khi đó thì số lớn những người tâm linh đã mở rộng tỉnh giác ý thức của mình để bao gồm ít nhất là một phần của ba thể cao hơn. Bạn cần tiếp tục phát triển nhận biết ý thức này, vì đây là chìa khóa để bạn điều ngự cả bốn thể phàm, biến chúng thành những phương tiện hữu ích trong sứ mệnh tâm linh của bạn trong thế gian.

Bạn đã mất liên lạc với cái ta tâm linh của mình như thế nào

Điều chủ yếu mà bạn cần nắm là bốn thể phàm của bạn tạo thành một phin lọc tô màu ánh sáng xối xuống phàm ngã từ Hiện diện TA LÀ. Tất cả là năng lượng và tất cả được tạo ra từ Ánh sáng Mẫu-Vật. Yếu tố giúp bạn sống còn và cho bạn khả năng hành động trong thế giới vật chất chính là dòng năng lượng chảy xuống từ Hiện diện TA LÀ của bạn vào bốn thể phàm.   

Lý tưởng nhất, bạn cần phú cho năng lượng này một rung động tích cực – sẽ nâng cao bản thân cùng mọi sự sống – để nó có thể chảy ngược trở lên cái ta tâm linh. Ở đó, năng lượng sẽ được sinh sôi khiến bạn nhận được dồi dào hơn nữa, và nhờ vậy khả năng sáng tạo của bạn cũng gia tăng. Cuộc sống của bạn cứ thế mà nhân lên, tựa như một vòng xoáy hướng thượng giúp bạn hoàn thành mục đích hiện thân của bạn, đồng thời bạn cũng ngự trị được các hoàn cảnh vật chất xung quanh.   

Dòng năng lượng này ví như luồng ánh sáng phát ra từ bóng đèn trong máy chiếu phim vậy. Khi dòng ánh sáng này đi qua bốn thể phàm, nó sẽ bị tô màu bởi nội dung được chứa ở đó – gồm những hình ảnh, tin tưởng cùng năng lượng. Cũng tương tự như ánh sáng trong máy chiếu phim bị tô màu bởi hình ảnh in trên cuộn phim, chỉ khác là ở đây bạn có tới bốn cuộn phim.  

Nếu nơi bốn thể phàm, bạn chứa những tin tưởng và hình ảnh không đồng điệu với Chân ngã bạn – nhất là những tin tưởng tự tôn và ham muốn ích kỷ – bạn sẽ áp đặt hình ảnh bất toàn lên ánh sáng tâm linh, dẫn đến những hành động thiếu quân bình đem lại khổ đau trong đời bạn. Điều này có thể tạo ra một vòng xoáy ốc đi xuống, tạo ra ngày càng nhiều đau khổ hơn.  

Mỗi khi bạn áp đặt hình ảnh bất toàn lên ánh sáng, bạn sẽ sản xuất năng lượng có độ rung thấp hơn. Năng lượng tha hóa này không thể vượt ngược trở lên cái ta tâm linh để vun bồi cho kho tàng mà bạn cất giữ nơi cõi trời, và nó cũng không thể nhập vào các rung động thanh cao của cõi tâm linh. Cho nên hành vi ích kỷ của bạn sẽ phá đứt dòng chảy hình số 8. Năng lượng tha hóa không có chỗ nào khác mà đi sẽ bắt buộc ở lại mãi mãi ở cùng độ rung, và vì nó không thể tự nhiên biến mất, nó phải tích tụ lại nơi bốn thể phàm.      

Năng lượng này hình thành một phin lọc, một tấm màn che. Trong tiếng Anh, “veil” là màn che, nếu đổi thứ tự chữ viết sẽ biến thành “evil” tức là xấu ác, hàm ý xấu ác chẳng qua chỉ là một tấm màn năng lượng. Tấm màn này sẽ ngăn chặn mối liên hệ của bạn với cái ta tâm linh, nó từ từ tạo ra một đám mây mù che mất tầm nhìn của bạn, khiến bạn tưởng mình là một con người phàm phu bị giam cầm trong vũ trụ vật chất và không còn biết gì khác hơn. Bạn cũng mất dần khả năng sáng tạo, đến nỗi bạn tưởng nơi địa cầu bạn không thể làm gì khác hơn là sử dụng thân thể vật lý của mình. Và như vậy, năng lượng tích tụ đã cướp đi quyền năng lý trí của bạn.    

Khi bạn hiểu rằng những gì xảy ra trong tâm ý thức – kể cả mọi tình huống ngoại cảnh – chỉ đơn giản là hình ảnh được chiếu lên màn ảnh của tâm mình và ánh sáng tâm linh, bạn sẽ biết rằng muốn thay đổi bộ phim cuộc đời, bạn phải đi thẳng vào phòng chiếu phim để thay đổi cuộn phim trên máy chiếu, tức là bốn cuộn phim nơi bốn thể phàm. Cuộc đời ở mức ý thức có thể ví như tầng cấp của màn ảnh. Nếu bạn không thích bộ phim đang chiếu trong rạp, làm sao bạn có thể thay phim khác nếu bạn chỉ cố thay đổi màn ảnh? Bạn sẽ dễ thành công hơn nếu bạn tác động thẳng lên gốc rễ của vấn đề là cuộn phim trên máy chiếu, tức là nội dung của bốn thể phàm.      

Khi bạn hiểu được cách vận hành này và muốn tinh tấn trên đường tâm linh, có hai yếu tố chủ yếu trở nên hiển nhiên:

  • Bạn phải thanh lọc mọi tầng lớp của tâm – cả bốn “thể” phàm của mình – để không còn những tin tưởng bất toàn khiến mình làm nhơ năng lượng tâm linh và đối đãi cuộc đời với những cảm xúc tiêu cực.
  • Bạn phải thanh lọc – chuyển hóa – năng lượng tha hóa đang tích trữ trong bốn thể phàm. Bạn phải trút bớt gánh nặng trước khi cất bước leo ngọn núi cao.   

Các dụng cụ thăng vượt chính là để giúp bạn thực hiện điều này.

Hiểu sâu sắc hơn về linh hồn

Có một số từ ngữ đã trở nên gần như vô nghĩa vì quá nhiều người đã sử dụng với dụng ý khác hẳn nhau. Đó là trường hợp từ “hồn”, hay “tâm hồn” hay “linh hồn”. Trong nhiều thế kỷ, từ này đã khoác lấy bao nhiêu ý nghĩa khác nhau tùy theo tôn giáo hay giáo lý tâm linh, nhiều khi còn được sử dụng mà không có định nghĩa rõ ràng, chắc hẳn là vì người ta cho rằng ai ai cũng hiểu là gì rồi.    

Trong các đợt giáo lý trước đây, các chân sư cũng đã dùng từ “linh hồn” như hầu hết giáo lý khác, tức là không định nghĩa rõ ràng. Nhưng ngày nay, các thày cho chúng ta một cách hiểu trau chuốt hơn và chia linh hồn, hay phàm ngã, thành mấy phần riêng biệt.

Nhiều người tâm linh chia sẻ quan niệm đầu thai và người ta thường cho rằng linh hồn là bộ phận được đầu thai. Điều này dẫn đến ý tưởng khá phổ biến là linh hồn được tạo ra ở một cõi cao hơn trước khi nó đi xuống cõi vật chất. Và như thế, linh hồn cũng chính là cái sẽ thăng lên trở lại cõi tâm linh.

Nếu hiểu như vậy thì vấn đề được đặt ra là bạn phải làm gì để linh hồn có đủ tư cách trở lên cõi tâm linh, và điều này dẫn đến hai ý tưởng cũng khá phổ biến:

  • Linh hồn đã “sa ngã”, hay đã rơi suống một trạng thái thấp hơn và đã mất tư cách ở lại cõi tâm linh, cho nên bạn sẽ phải đền bù những lỗi lầm mà bạn đã phạm vào, phải gột rửa cho linh hồn trong sạch hay phải nâng nó thăng lên.
  • Linh hồn có khả năng trở nên hoàn thiện, cho nên bạn có nhiệm vụ cải hóa cho nó toàn hảo (tùy theo bạn định nghĩa thế nào là “toàn hảo”).

Nhưng gần đây với khái niệm về cái Ta Biết được các chân sư giảng dạy, cách hiểu của bạn về linh hồn sẽ hoàn toàn đổi khác. Điểm then chốt là hiểu rằng Ta Biết mới là cái đi xuống từ cõi tâm linh ở ban đầu để khởi sự một tiến trình hiện thân trong cõi vật chất. Và vì vậy, chính cái Ta Biết mới có tiềm năng thăng trở lại cõi tâm linh.  

Tuy nhiên, tiến trình thượng thăng KHÔNG xảy ra vì cái Ta Biết đã đền bù cho một trạng thái bất toàn nào đó hay cố gắng trở thành toàn hảo dựa theo một số tiêu chuẩn thế gian, nhân tạo. Trái lại, cái Ta Biết CHỈ có thể thượng thăng khi nó làm tròn tiềm năng cao nhất của nó, tức là đạt được tỉnh giác thuần khiết nơi nó là cánh cửa mở cho Hiện diện.     

Có hai điều xảy ra cùng một lúc. Thứ nhất, Hiện diện có thể tự biểu đạt qua cánh cửa mở của Ta Biết bằng cách để cho ánh sáng nó tràn xuống cõi vật chất. Và thứ hai, Hiện diện có thể trải nghiệm thế giới vật chất xuyên qua tấm kính trong suốt của Ta Biết.

Nói cách khác, ở tâm thức cao nhất, cái Ta Biết không có chút ý niệm cá thể nào hay ý niệm bản ngã tách biệt nào. Nó chỉ thấy, không hơn không kém, rằng nó là cánh cửa mở để Hiện diện biểu đạt trong thế gian và là tấm kính trong suốt để Hiện diện trải nghiệm thế gian. Cái Ta Biết thấy nó là khía cạnh Ta Sẽ Là của Hiện diện TA LÀ.

Cái Ta Biết trong tâm thức cao nhất không hề có phin lọc nhận thức. Vì vậy nó không ngăn chặn hay cản trở bất cứ biểu đạt nào của Hiện diện, đồng thời nó cũng không ngăn cản bất cứ trải nghiệm nào của nó đi lên Hiện diện. Cái Ta Biết không phán xét theo hình dạng bên ngoài, mà chỉ tạo cơ hội cho Hiện diện đánh giá các trải nghiệm của nó, rồi học hỏi từ trải nghiệm và lưu giữ thành quả trong căn thể. Bạn hãy so sánh tiến trình này với cách thức chúng ta thường dùng tiêu chuẩn thế gian để đánh giá những trực nhận của mình. Và không những thế, chúng ta còn thường hay có những chuyện giấu giếm Thượng đế. Bạn cần hiểu rằng cái Ta Biết đã không giáng thế với tâm thức thấp kém như vậy, và bạn cần hiểu tại sao.

Cái Ta Biết giáng thế như thế nào

Như đã trình bày, thế giới vật chất được tạo ra từ ánh sáng tâm linh đã bị hạ thấp độ rung, và tỷ lệ hạ giảm được thể hiện qua bảy tia sáng. Điều này có nghĩa là thế giới vật chất ở ban đầu có một độ rung đặc thù do được sinh tạo từ những năng lượng dày đặc hơn cõi tâm linh. Đó là lý do chúng ta không trực tiếp nhận biết được cõi tâm linh qua giác quan vật lý. Giác quan chúng ta đã được điều chỉnh để đồng điệu với tần số vật chất, ở một độ rung thấp kém đến nỗi chúng không tài nào vượt qua hố ngăn cách để mà bắt được các rung động tâm linh (tuy nhiều người tâm linh vẫn có khả năng cảm nhận năng lượng tâm linh, bằng trực giác chứ thường không bằng giác quan vật lý).

Cõi vật chất dày đặc có mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh thể tự nhận biết phát triển, là chúng ta. Khi đi xuống một cõi không còn nhận thức tâm linh trực tiếp, chúng ta mới có cơ hội nâng cao tâm thức lần hồi cho đến khi có thể phụng sự như một cánh cửa mở giữa hai cõi tâm linh và vật chất. Và khi đi muốt tiến trình này, chúng ta cũng giúp nâng cao rung động của chính cõi vật chất cho tới khi nó rung động đồng bộ với cõi tâm linh.

Trong phần trình bày ở đây, bạn cần nắm rõ là cái Ta Biết khi giáng thế vẫn chưa đạt được khả năng tự nhận biết cao nhất. Cái Ta Biết ra đời với một ý niệm về cái ta cô đọng tựa như đầu que diêm, nhưng lại có tiềm năng nâng lên qua nhiều tầng mức để đạt được cùng ý niệm bản ngã rộng khắp như Đấng Sáng tạo.

Khi đi xuống vùng rung động dày đặc của vũ trụ vật chất, cái Ta Biết cần một “cỗ xe”, một phương tiện biểu hiện, nghĩa là một ý niệm bản ngã được tạo bằng cùng những rung động của cõi vật chất. Và đây là điểm quan trọng cần hiểu rõ: cái Ta Biết chỉ khoác lên mình phương tiện đó, chứ nó KHÔNG trở thành phương tiện. Cái Ta Biết hoàn toàn KHÔNG thay đổi trong nguyên tiến trình này, mà chỉ có ý niệm bản ngã – tức sự nhận thức của nó – mới thay đổi. Một lần nữa, nó giống như một diễn viên mặc y phục vào và vẽ thêm hóa trang để diễn xuất một vai tuồng trên sân khấu, và tất nhiên diễn viên có thể cởi áo ra dễ dàng như khi mặc vào.   

Vậy thì ở ban đầu, cái Ta Biết giáng thế với một ý niệm bản ngã gồm cùng những rung động cơ bản như khi vũ trụ vật chất lần đầu tiên được sinh tạo. Chính cái ngã này, cỗ xe này, được chúng ta gọi là linh hồn khi chúng ta nhìn từ một góc độ cao hơn.

Xin bạn lưu ý, linh hồn này không hề được tạo ra nơi cõi tâm linh, nó cũng không được tạo ra bằng rung động của cõi tâm linh. Như Kinh thánh viết, nó sinh ra từ bụi, nghĩa là từ năng lượng vật chất. Vậy thì trong cách nhìn này, linh hồn đã không đi xuống thì cũng không thể thăng lên. Cái thăng lên là cái Ta Biết nhưng chỉ khi nào nó không còn đồng hóa với linh hồn nữa mà ngược lại đã đạt tới tiềm năng cao nhất – là sự tỉnh giác thuần khiết nơi nó thấy nó với Hiện diện là một.

Tuy nhiên, vẫn còn một sự phân biệt mà bạn cần nắm. Hầu hết mọi người đều xem linh hồn là cá tính, tính tình, nhân cách (personality) hoặc là cá thể, sắc tính (individuality) của mỗi người. Linh hồn ra đời và bị ảnh hưởng sâu đậm bởi những hoàn cảnh có mặt trong vũ trụ vật chất vào lúc cái Ta Biết giáng thế lần đầu. Tính tình và cá thể đó là sản phẩm của những trải nghiệm mà bạn sống qua trong suốt thời gian bạn ở lại thế gian, và hẳn nhiên bạn đã bỏ thêm rất nhiều thứ khác vào cái Ta Biết nguyên thủy.

Cá tính và cá thể vỏ ngoài nói trên không phải là con người thực của bạn. Thực sự bạn là cá thể trụ vững nơi Hiện diện TA LÀ. Cá thể này có thể được biểu đạt qua cái Ta Biết, nhưng sự biểu đạt sẽ bị ngăn trở, hoặc tô màu bởi cái cá tính vỏ ngoài mà bạn đã dựng lên khi bạn tương tác, phản ứng với các hoàn cảnh của cuộc sống vật chất.

Như vậy, mục đích của bạn KHÔNG PHẢI là làm cho cá tính vỏ ngoài của mình đẹp đẽ hơn, mà là thăng vượt hẳn cá tính. Điều này có hai hệ quả. Linh hồn được tạo ra từ một số tin tưởng khiến cho năng lượng tâm linh bị giảm độ rung. Có thể nói, những ý tưởng hay tin tưởng đã nhào nặn linh hồn bạn đã tạo ra một cái khuôn, hay một giỏ lưới, thành một cái “rọ” nơi năng lượng tha hóa chồng chất ngày càng dày đặc. Năng lượng càng dày đặc thì cái Ta Biết sẽ càng đồng hóa chặt chẽ hơn với linh hồn và bạn sẽ càng khó khăn hơn thoát khỏi đồng hóa.   

Vì vậy, chìa khóa phát triển tâm linh là nâng cao rung động của năng lượng đã tích tụ trong linh hồn, và trang web này có những pháp tu thăng vượt để giúp bạn làm việc đó. Khi độ dày đặc giảm bớt, cái Ta Biết sẽ bắt đầu hé thấy một tầng tỉnh giác cao hơn. Đầu tiên sẽ chỉ là một vài tia chớp trực giác ngắn ngủi, hay một cảm nhận mông lung rằng cuộc sống không chỉ có bây nhiêu. Sau đó sẽ là cảm nhận mình là một phần của sự sống rộng lớn. Và cuối cùng bạn sẽ thấy thoáng hiện tỉnh giác thuần khiết khi bạn trực nhận cái Ta Biết thực sự là nhiều hơn cá thể phàm phu.       

Và đây là lúc bạn thật sự chất vấn những tin tưởng tạo nên linh hồn bạn, và bạn sẽ lần hồi nâng cao ý niệm bản ngã đến mức hòa nhập vào Hiện diện. Song song, bạn cũng giúp nâng cao rung động của vũ trụ vật chất, tra vấn các tin tưởng trong tâm thức đại chúng, và giúp mọi người nâng tâm thức dễ dàng hơn. Và một ngày sẽ đến khi có đủ số người cũng thực hiện được điều này thì toàn thể hành tinh sẽ được nâng lên, và sự thật về thế giới tâm linh sẽ là chuyện tất nhiên đối với mọi người.

Nhưng hãy trở lại đề tài chính yếu của chúng ta ở đây. Cá tính và cá thể vỏ ngoài – tức là cái ngã vỏ ngoài – mà bạn hiện có đã được bạn bồi đắp suốt nhiều kiếp sống khi bạn phải phản ứng trước những hoàn cảnh bất toàn của thế giới vật chất. Vì vậy, nó không bao giờ có thể được hoàn thiện để thăng lên cõi tâm linh. Chỉ có cái Ta Biết mới có thể thượng thăng, tức là cùng cái Ta Biết đã từng giáng thế. Có điều là Ta Biết chỉ thượng thăng được một khi nó đã giải thoát khỏi sự đồng hóa với ngã vỏ ngoài.

Nó tự giải thoát bằng cách thăng vượt các tin tưởng gây giới hạn và nâng cao các năng lượng cấu tạo linh hồn. Cho nên cũng có thể nói rằng linh hồn được nâng lên, nhưng khi nâng lên, linh hồn không còn tách biệt nữa. Đúng hơn, các tin tưởng gây giới hạn được hóa giải, các năng lượng thấp kém được gia tốc lên rung động cao hơn. Tỷ như nếu bạn đặt nồi nước lên bếp và đun sôi cho tới khi cạn nước, liệu bạn sẽ bảo là nồi nước đã được đem lên một cõi cao hơn? Hay đúng hơn, nước đã gia tốc, biến hóa thành hơi nước là trạng thái cao hơn?  

Đa số chúng ta đã chẳng may đi lạc vào một con đường tu tập vỏ ngoài khi chúng ta sử dụng giáo lý tâm linh để làm đẹp linh hồn mình, để nó hoàn thiện theo một số tiêu chuẩn nào đó. Nhưng linh hồn sẽ không bao giờ toàn hảo, mà trái lại chúng ta phải để cho nó lần hồi giải thể. Thánh Paul có nói, “Tôi chết mỗi ngày”, có nghĩa là mỗi ngày một chút linh hồn lại chết đi khi các tin tưởng gây giới hạn được bỏ lại. Chính Giê-su cũng đã cho phép mình bị đóng đinh trên thập tự giá để biểu tượng cho cái Ta Biết bị đóng cứng trong sự đồng hóa với ngã vỏ ngoài, tức là linh hồn. Cử chỉ chót của Giê-su trên thập tự là “trút bỏ cái bóng”, tượng trưng cho mảnh vụn cuối cùng của linh hồn còn sót lại.    

Như Giê-su nói, “Không người nào có thể lên trời mà đã không xuống từ trời”. “Người” trong câu này chính là cái Ta Biết đã đi xuống rồi sẽ thăng lên một khi nó nhận biết được bản sắc chân thực của mình – là khía cạnh Ta Sẽ Là của Hiện diện TA LÀ. Nói cách khác, “linh hồn” không phải là cái gì đã đầu thai lúc ban đầu. Linh hồn chỉ là cái gì đã được tạo dựng và bồi đắp trong suốt nhiều kiếp sống. Cho nên tuy cái Ta Biết lẫn linh hồn đều tái đầu thai, nhưng chỉ có cái Ta Biết mới hiện thân lúc ban đầu.

Trong những trang kế tiếp, chúng ta sẽ xét đến một vài khía cạnh khác của phàm ngã, trong đó có cả những thành phần của linh hồn.

Ngọn lửa ba nhánh và ngọn lửa bảy nhánh

Các chân sư thường dạy rằng động lực cuộc sống là ánh sáng tâm linh xối xuống từ Hiện diện Ta Sẽ Là của bạn. Ánh sáng đi vào phàm ngã, đầu tiên qua luân xa thứ 8, gọi là “Phòng kín của tim” nằm ngay sau luân xa tim.

Nơi phòng kín, ánh sáng chia làm ba, gọi là ngọn lửa ba nhánh, mà người ta thường minh họa là một ngọn lửa vật lý bật ra từ một chấm sáng màu trắng, và gồm có ba “nhánh”. Ba nhánh đó là:

  • Xanh, tương ứng với tia sáng tâm linh thứ nhất, tia ý chí.
  • Vàng, tương ứng với tia sáng tâm linh thứ nhì, tia trí tuệ.
  • Hồng, tương ứng với tia sáng tâm linh thứ ba, tia tình thương.

Lời dạy này quan trọng ở chỗ là trên đường tu, bạn sẽ không tiến được quá một mức nào đó cho đến khi bạn quân bình cả ba nhánh lửa. Nếu bạn lạm dụng một trong ba nhánh (ý chí, trí tuệ hay tình thương), ngọn lửa ba nhánh của bạn sẽ bị giảm kích thước lần hồi cho đến khi ánh sáng chỉ còn đủ để giữ cho cơ thể vật lý khỏi chết.    

Chẳng hạn, có những người có quyết tâm và ý chí mãnh liệt, nhưng họ lại thiếu trí tuệ để biết sử dụng ý chí một cách khôn ngoan, hoặc họ thiếu tình thương để không bức hiếp hay làm tổn thương người khác. Cũng có những người có hiểu biết trí tuệ cao siêu nhưng lại thiếu quyết tâm để hoàn thành công việc, hoặc không đủ yêu thương cần thiết để nâng kiến thức lên thành minh triết. Còn một số khác nữa thì tuy có khả năng bày tỏ yêu thương cao độ, nhưng lại yêu thương một cách thiếu chín chắn, hoặc bị kẹt trong những mối quan hệ lệ thuộc chỉ vì họ không đủ nghị lực khước từ.   

Khi ngọn lửa ba nhánh của bạn thiếu quân bình, năng lượng cũng sẽ biểu hiện thiếu quân bình và bị tha hóa. Năng lượng này tích tụ lại trong trường năng lượng của bạn, nhưng nếu bạn dùng các pháp tu thăng vượt trong trang mạng này, bạn có thể biến đổi năng lượng, nâng nó lên cao hầu đưa nó chảy ngược lên Hiên diện của mình. Nhiều lời cầu thỉnh đăng tải ở đây sẽ giúp bạn vượt qua những tin tưởng tinh tế đang khiến bạn tỏ ra mất quân bình, và lần hồi bạn sẽ đưa ngọn lửa ba nhánh trở về cân bằng.

Một khi ngọn lửa ba nhánh cân bằng giữa ý chí, trí tuệ và tình thương, bạn có quyền lựa chọn sử dụng tia sáng thứ tư để gia tốc chính mình lên một tầng cao hơn. Và lúc đó, bạn sẽ bắt đầu biểu lộ những đức tính của các tia sáng thứ năm, sáu và bảy, và ngọn lửa ba nhánh của bạn biến thành ngọn lửa bảy nhánh, thể hiện toàn bộ tiềm năng của Hiện diện trên cả bảy tia sáng.

Điều này đòi hỏi bạn tìm được cách thể hiện quân bình giữa các tia thứ năm của viễn quan hay sự viên mãn, tia thứ sáu của hòa bình và phụng sự, và tia thứ bảy của tự do. Các dụng cụ thăng vượt cũng sẽ giúp bạn thực hiện việc này.

Cái ta Ki-tô của bạn

Trong biểu đồ cũ, hình người đứng ngay giữa, ở điểm gặp gỡ chính giữa hình số 8, biểu tượng cho cái ta Ki-tô của bạn.

Chartwebsite

Đó là thể làm trung gian giữa Hiện diện TA LÀ và cái phàm ngã bị chìm đắm trong vòng nhị nguyên, cụ thể là cái Ta Biết khi nó đồng hóa với phàm ngã. Có thể nói cái ta Ki-tô của bạn là vị thày tâm linh đã được gửi xuống sau khi bạn đánh mất liên lạc với chân ngã. Đấng ấy nằm bên trong bình chứa bản ngã, do đó bạn có thể tiếp xúc bất cứ lúc nào bằng cách chú tâm vào tim và kich hoạt khả năng trực giác của mình. Giê-su có giảng về cái ta Ki-tô trong những câu này:

“Ta sẽ cầu Cha , và Cha sẽ ban cho con một Đấng An ủi khác, để ở với con mãi mãi” (John 14:16)

“Nhưng Đấng An ủi, tức là Đức Thánh linh mà Cha đã nhân danh ta gửi xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ con mọi sự, nhắc nhở cho con nhớ mọi điều mà ta đã nói với con” (John 14:26)

Bạn không cần có khả năng tâm linh siêu phàm để nghe được tiếng nói nhỏ nhẹ, lặng im của cái ta Ki-tô của mình. Nhưng bạn cần lưu ý, cái ta Ki-tô KHÔNG nhìn bạn hoặc cuộc sống của bạn xuyên qua phin lọc nhận thức hiện thời của bạn. Kỳ thực, mục đích của cái ta Ki-rô là đưa ra cho bạn – trong mọi tình huống – một chọn lựa khác hơn là phin lọc hiện hữu.

Điều này không phải là cái ta Ki-tô sẽ trao cho bạn một chân lý tuyệt đối tối hậu nào đâu, bởi vì cái ta Ki-tô biết rất chính xác loại giải pháp nào bạn có thể chấp nhận được dựa trên phin lọc của bạn. Trên thực tế, mục tiêu của cái ta Ki-tô chỉ là mở ra một khung cảnh cao hơn phin lọc hiện thời của bạn một bước mà thôi.

Hành trình từng bước nhỏ

Cái ta Ki-tô của bạn biết rõ bạn cần phải lần hồi tiến bước trên con đường tu gồm nhiều bước nhỏ sẽ dẫn bạn từ tâm thức hiện tại đến tâm thức Ki-tô trọn vẹn. Đấng ấy không có ý định khiến bạn đi nguyên hành trình đó trong một bước nhảy ngàn dặm – như nhiều người tầm đạo cố làm – mà trái lại sẽ giúp bạn tuần tự tiến một bước, rồi lại một bước nữa. 

Điều này có nghĩa, KHÔNG BAO GIỜ có chuyện cái ta Ki-tô không thể đến được với bạn. Bạn luôn luôn có khả năng nghe được cái ta Ki-tô, và vấn đề duy nhất là liệu bạn có sẵn sàng mở tâm, và mở tim ra, để nhận đón cái gì nằm ngoài phin lọc nhận thức của mình hay không. Nếu bạn không sẵn sàng vươn ra ngoài phin lọc thì bạn sẽ không thể nghe thấy tiếng nói của cái ta Ki-tô. Thay vào đó, bạn sẽ chỉ nghe được những tiếng ồn ào của tự ngã, của tâm thức đại chúng hay các loại thày giả, đang rót vào tai bạn những gì bạn muốn nghe. 

Điều khôn ngoan là hiểu rằng ngã vòng ngoài luôn luôn mong muốn có ai đó xác nhận những gì nó đang làm hay đang tin tưởng. Vì cái ta Ki-tô muốn giúp bạn vượt khỏi hiện trạng cho nên nó sẽ không bao giờ xác nhận chuyện đó cho bạn. Tức là nếu chúng ta càng mong mỏi được xác nhận thì chúng ta sẽ càng mất đi khả năng nghe thấy tiếng nói nhỏ nhẹ, lặng im của cái ta Ki-tô.    

Cái ta Ki-tô thật sự không có ý định giúp bạn thoải mái dễ chịu mà chỉ muốn bạn tăng trưởng. Tự ngã mới là kẻ muốn bạn ngừng trệ, cho nên nó sẽ nói những điều để bạn mát lòng để bạn tiếp tục nằm dưới quyền kiểm soát của nó. (Tự ngã cũng sẽ không ngần ngại thao túng để bạn bị bực bội, lo lắng, nếu nhờ đó nó có thể kiểm soát bạn).

Giê-su có dạy về tầm quan trọng của sự hòa điệu với cái ta Ki-tô qua câu, “Nhưng trước hết, con hãy tìm Nước Thượng đế và sự công chính của ngài thì mọi điều khác sẽ được ban thêm cho con” (Matthew 6:33).

Bạn cần biết, tự ngã sẽ luôn luôn tìm cách thay thế cái ta Ki-tô. Một cách nó thường làm là khiến bạn dùng lý luận để bác bỏ những cảm nhận trực giác của bạn. Nói cho đúng, tự ngã luôn cố tự xưng nó là thẩm quyền tối thượng trong đời bạn, một địa vị mà đáng lý cái ta Ki-tô phải nắm giữ cho đến khi cái Ta Biết đạt được hợp nhất với Hiện diện TA SẼ LÀ. Tự ngã giàn dựng một số điều tin tưởng thành chân lý không thể chối cãi, và như thế nó tạo ra một chiếc hộp tư duy chung quanh tâm bạn. Chính vì lý do này mà nhiều người không dám nhìn ra ngoài hộp tư duy để lắng nghe tiếng nói của cái ta Ki-tô. Cái ta Ki-tô LUÔN LUÔN tìm cách dẫn dắt bạn ra ngoài BẤT CỨ hộp tư duy nào, và như vậy sẽ thách thức các tin tưởng mà tự ngã xem là không thể sai lầm.      

Khi bạn đi trên đường tu tâm linh, lần hồi bạn sẽ nhập vào tâm Ki-tô, có nghĩa là bạn có được tầm nhìn và phân biện sẽ giúp bạn nhìn thấu vô số ảo tưởng mà tâm phản Ki-tô tạo ra. Nhờ thế, bạn sẽ tái lập sự trong sáng trong bốn thể phàm khỏi vòng kềm tỏa của các tin tưởng ích kỷ là đầu mối của khổ đau. Chính nhờ tâm Ki-tô mà bạn sẽ ngự trị, trước tiên trên bốn thể phàm, và sau đó trên toàn cõi vật chất. 

Lúc đầu, cái Ta Biết sẽ xem cái ta Ki-tô là một vị thày bên ngoài, nhưng lần hồi bạn sẽ cảm nhận ngày càng sâu xa sự hợp nhất với vị thày đó, với kết quả là sự kết hợp thần bí khi bạn trở thành cô dâu của Ki-tô và đạt được hợp nhất với cái ta Ki-tô của mình. Lúc đó, bạn sẽ thừa nhận cái Ta Biết đã ngồi vào địa vị xứng đáng là đấng Ki-tô nơi chính bạn. Bạn đã trở thành Ki-tô Hằng sống.

Và bạn sẽ “như Trên, dưới vậy”, nghĩa là Hiện diện TA SẼ LÀ của bạn ở trên có khả năng tác động trong thế gian xuyên qua phàm ngã của bạn ở dưới. Ý niệm bản sắc của bạn trong thế gian phản ánh sắc tính tâm linh của bạn trụ vững nơi Hiện diện. Bạn đã ngự trị địa cầu, như được biểu tượng qua quả cầu nằm dưới chân hình người Vetruvian đang dang tay dang chân trong biểu đồ bên trên. Và lúc đó, bạn có thể nói cùng với Giê-su, “Cha ta làm việc cho đến bây giờ, nay ta cũng làm việc như vậy” (John 5:17).

.

Luồng năng lượng giữa cái ta tâm linh và phàm ngã

Trong biểu đồ dưới đây, bạn có thấy cái hình số 8 màu vàng chạy vòng quanh  hai vòng tròn ở trên lẫn dưới? Hình số 8 này tượng trưng cho dòng chảy năng lượng từ Hiện diện TA SẼ LÀ vào phàm ngã của bạn.

Chartwebsite

Khi bạn tự đồng hóa với ngã vỏ ngoài và có những chọn lựa thiếu ý thức, bạn khiến cho năng lượng bị mất phẩm chất, không thể thăng ngược trở lên cõi tâm linh. Đó chính là những năng lượng tha hóa chồng chất lại trong trường năng lượng cá nhân của bạn.

Năng lượng tha hóa này làm nghẽn sợi dây nối kết trực giác của bạn với tầng trên là Hiện diện, đồng thời nó siết giảm luồng năng lượng chảy xuống từ Hiện diện TA SẼ LÀ, và kết quả là khả năng sáng tạo của bạn bị hạn chế. Khi bạn lần hồi loại bỏ phin lọc nhận thức của ngã vỏ ngoài, dòng chảy hình số 8 được phục hồi, và giờ đây năng lượng có thể chảy trở lên cõi tâm linh (căn thể của bạn) nơi nó được sinh sôi và gửi trở xuống cho bạn. Và khi bạn sinh sôi của cải tâm linh thì khả năng sáng tạo cũng phát huy. Giê-su có giải thích điều này trong ngụ ngôn các ta-lăng:

“Kẻ nào đã có thì sẽ được ban cho nhiều hơn, và sẽ được dư giả. Còn kẻ nào không có thì sẽ bị lấy mất ngay cả những gì mình có” (Matthew 13:12)

Cách thực sự để sinh sôi của cải tâm linh là quên bản thân, nỗ lực nâng cao tất cả mọi sự sống. Để làm điều này, bạn cần trở thành cánh cửa mở cho Hiện diện mình, thay vì đeo đuổi những mục đích chỉ nhằm nâng cao cái ngã riêng biệt và hạ thấp hoặc tước đoạt từ tha nhân. Và việc làm này chỉ trọn vẹn một khi cái Ta Biết đạt được sự hợp nhất với Hiện diện, tức là khi tự ngã phàm phu đã được vượt bỏ. Khi đó, bạn mới thật sự thấy mình là người đồng sáng tạo với Thượng đế và bạn nhận ra mình là một với Hiện diện của mình.    

Qua chứng ngộ này, gọi là quả vị Ki-tô, bạn sẽ nhận ra mọi người đồng sáng tạo khác cũng đến từ cùng một nguồn gốc như mình, và như vậy mọi người đều là một phần của Thân thể Thượng đế trên địa cầu. Cách thực sự để tự năng mình lên là giúp đỡ một cách vô vị lợi mọi người khác vượt qua tự ngã và đạt được tự do tâm linh. Giê-su có mô tả tính duy nhất của toàn thể sự sống như sau:

“Ta nói thật với con: Khi con làm việc gì cho người hèn mọn nhất trong số anh em ta, thì con đã làm cho ta vậy” (Matthew 25:40)

“Còn kẻ nào muốn đứng đầu trong số các con, hãy làm tôi mọi cho các con” (Matthew 20:27).

“Còn ta, khi ta thăng lên khỏi địa cầu, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta” (John 12:32).

Tông đồ Paul cũng giảng dạy về sự duy nhất của sự sống như sau:

“Cho nên chúng ta là nhiều người mà lại là một thân thể duy nhất trong Ki-tô, và mỗi người đều là phần chân tay của nhau” (Romans 12:5)

“Như thân thể là một, và có nhiều chi thể, và mọi chi thể của một thân thể đó tuy nhiều nhưng lại là một thân thể duy nhất, thì Ki-tô cũng y như thế” (1Corinthians 12:12)

Căn thể của bạn

Trên biểu đồ bên dưới, bạn sẽ thấy một số vòng màu bao quanh hình cầu trong suốt ở giữa biểu tượng cho Hiện diện TA LÀ của bạn.

Chartwebsite

Các vòng tròn nhiều màu này miêu tả mức thành tựu mà bạn đã thu thập được suốt hành trình trong thế giới vật chất, là khả năng điều ngự mà bạn đã đạt được trên cả bảy tia sáng tâm linh. Sự điều ngự này là kết quả của những kinh nghiệm học hỏi tích cực của bạn – và xin lưu ý, ngay cả những điều mình tưởng là lầm lỗi cũng có thể chuyển thành kinh nghiệm hoc hỏi tích cực. Bất kể bạn làm gì dưới trần gian thì Hiện diện TA LÀ của bạn vẫn học hỏi và kết nhập bài học đó vào căn thể của bạn.

Cho nên điều sáng suốt là bạn nhìn được cuộc đời như một cuộc thử nghiệm khoa học và hiểu được quan hệ toàn hảo giữa Hiện diện và cái Ta Biết của mình. Cái Ta Biết có quyền tự quyết và nó sẽ có những chọn lựa trong đời dựa theo nhận thức của nó trong thế giới vật chất. Nó có thể tự xem nó là chân ngã hoặc là phàm ngã. Nếu như nó tự đồng hóa với ngã vỏ ngoài, thì nó sẽ chỉ có thể quyết định dựa trên phin lọc nhận thức, vì chính cái phin lọc này đã nặn ra ngã và là cái lăng kính mà xuyên qua đó nó nhìn mọi thứ.

Như vậy, không những cái Ta Biết quyết định dựa theo nhận thức, mà nó còn đánh giá kết quả những quyết định đó cũng dựa theo phin lọc nhận thức. Cho nên khi bạn tự phán xét mình, bạn cũng sử dụng chính cái phin lọc mà bạn đã dùng khi lấy quyết định. Điều này Giê-su gọi là “phán xét theo hình dạng bề ngoài”.   

Ngược lại, Hiện diện của bạn KHÔNG nhìn thế gian qua phin lọc nhận thức. Nó nhìn thấu qua sự trong sáng pha lê của tâm Ki-tô. Và nó KHÔNG phán xét bạn khi bạn tự phán xét mình hay khi người khác phán xét bạn. Bởi thế nên Giê-su mới dạy rằng, trừ khi chúng ta trở thành như trẻ nhỏ thì chúng ta không thể vào được Nước Trời. Nước Trời là một ẩn dụ để chỉ một trạng thái tâm thức khi cái Ta Biết tự thấy mình là phần nối dài của Hiện diện.

Điều này có nghĩa là bạn không còn tự phán xét qua phin lọc nhận thức của ngã vòng ngoài, mà bạn nhìn các chọn lựa cùng những hậu quả của chúng y như Hiện diện của mình đang nhìn. Và đây là cách DUY NHẤT để thăng vượt cảm giác tội lỗi nhức nhối mà tất cả chúng ta đã từng trải qua, một cảm giác dễ khiến mình bị tê liệt.

Kinh thánh có nói đến căn thể trong những câu sau đây:

“Các con chớ chứa của cải trong thế gian, nơi sâu mối và rỉ sét làm hư hại và kẻ trộm đục vách lấy đi. Nhưng phải chứa của cải ở trên trời, nơi chẳng có sâu mối, rỉ sét làm hư hại, cũng chẳng có kẻ trộm đục vách lấy mất. Bởi vì của cải con ở đâu thì tim con cũng ở đó” (Matthew 6:19-21).

“Giê-su nhìn người đó mà cảm thương, rồi nói: Nhưng con còn thiếu một điều. Con hãy đi về, bán hết gia sản, tặng hết cho người nghèo, thì con sẽ được của báu trên trời. Rồi con tới đây, vác thập tự giá và theo ta” (Mark 10:21).

Căn thể của bạn ví như một tài khoản ngân hàng vũ trụ nơi bạn có thể rút ra những gì mình cần để phát triển tâm linh và hoàn thành mục đích đầu thai của mình trên địa cầu. Một khi cái Ta Biết đã lột bỏ được ngã vỏ ngoài và phin lọc nhận thức, Hiện diện TA SẼ LÀ của bạn sẽ tự do biểu thị xuyên qua bạn, và điều này có nghĩa, những thành đạt của bạn nơi căn thể sẽ được biểu đạt một cách trọn vẹn xuyên qua bạn. 

Cái ta tâm linh

Hầu hết những người tâm linh đều biết mình không chỉ là xác thân vật lý mà thôi. Nhiều người tin rằng mình là một linh hồn cư ngụ nhất thời trong thân xác này và đã từng ngụ trong những thân xác khác trong quá khứ. Nhiều người tin là ở ban đầu chúng ta đều đến từ cõi tâm linh và vì vậy có tiềm năng trở về đó. Và nhiều người cũng tin rằng đấng đã gửi mình xuống thế gian này là chính chúng ta trong phần thanh cao của mình.     

Phần thanh cao đó thường có tên là cái ta tâm linh, hay cái ta cao hơn, chân ngã, chân nhân. Từ thập niên 1930, các chân sư thăng thiên đã gọi đó là “Hiện diện TA LÀ”. Từ này một phần diễn tả sự cảm nhận cốt yếu là chúng ta hiện hữu, tồn tại – sự cảm nhận rằng “ta là”. Phần khác, từ này cũng nói lên sự liên hệ của chúng ta với Thượng đế, là Đấng mà Moses từng gọi tên là “TA LÀ”. 

Trong quá khứ, mối quan hệ giữa Hiện diện TA LÀ và phàm ngã thường được mô tả theo cách như sau:

Chartwebsite

Hiện diện TA LÀ của bạn là quả cầu trắng chính giữa ở trên bạn, có các vòng màu bao quanh tượng trưng cho căn thể (xem giải thích ở một bài sau). Phàm ngã của bạn, hay linh hồn, là hình người nhỏ ở phía dưới, và phàm ngã này được kết nối với Hiện diện TA LÀ qua một ống ánh sáng, hay sợi dây pha lê. Nằm ở giữa cả hai là cái ta Ki-tô của bạn, đó là trung gian, là sợi dây kết nối Hiện diện của bạn với linh hồn bạn.

Biểu đồ trên thật không có vấn đề gì, duy bạn cần phải thận trọng vì đó chỉ là một trong nhiều cách để biểu tượng Hiện diện của bạn, và là một cách trình bày theo lối đường thẳng. Rõ ràng nó dựa trên cái nhìn cố hữu xem cõi trời, hay cõi tâm linh, là một địa điểm trong không gian nằm ngay trên bạn.    

Vào thời Trung cổ, nhiều tín đồ Cơ đốc giáo tin rằng nếu bạn từ mặt đất bay lên không trung, bạn sẽ đi xuyên qua một cái màng để vào Nước Trời. Thời nay, hỏa tiễn hiện đại đã chứng minh cách nhìn này không đúng lắm, vì vậy chúng ta nên xem lại biểu đồ trên với một con mắt thông thoáng hơn. Nhưng một lần nữa, biểu đồ dưới đây vẫn chỉ là một cách diễn đạt mà thôi – và tương đối vẫn còn đường thẳng – để biểu tượng cho mối quan hệ giữa phàm ngã và Hiện diện TA LÀ của bạn.

AANEWChartwebsite

Trong biểu đồ mới này, Hiện diện TA LÀ và căn thể bao trùm quanh bạn, tức là không có khoảng cách không gian nào cả. Cách trình bày này biểu hiện cấu trúc nhiều tầng của thế giới hiện tượng. Như trình bày ở một nơi khác, Đấng Sáng tạo đã sinh tạo bầu cõi đầu tiên từ chính Bản thể ngài, có nghĩa là Bản thể Thượng đế là cái tinh túy nằm ẩn sẵn trong mọi thứ. 

Sau khi bầu cõi thứ nhất thượng thăng, các sinh thể ở đó tạo ra bầu cõi thứ nhì từ bản thể của họ. Và tiến trình này cứ tuần tự trải ra cho đến bầu cõi chúng ta, trong đó vũ trụ vật chất này là một thành phần. Nói cách khác, cái nhìn cổ điển về một Thượng đế xa vời nằm tuốt trên cao, thật là không đúng. Có một hệ thống thứ bậc qua bảy tầng lớp dẫn lên Đấng Sáng tạo, nhưng mỗi tầng dưới không hề bị chia cách khỏi tầng trên, mà là sự nối dài liên tục của tầng trên.

Như vậy không có chia cách. Hiện diện TA LÀ của bạn là sự nối dài của một sinh thể nơi cõi tâm linh. Và cái Ta Biết – tức chính bạn khi bạn giáng thế lúc ban đầu – là sự nối dài của Hiện diện đó. Thực sự, bạn không tách biệt khỏi Hiện diện. Bạn hiện hữu trong cùng khoảng không gian, trong cùng quả cầu của Hiện diện mình.

Ý niệm tách biệt là sản phẩm của phin lọc nhận thức hiện thời của bạn. Nếu bạn nghĩ phin lọc này thể hiện thực tại thì đương nhiên bạn sẽ tự đồng hóa với những gì bạn nhìn thấy qua phin lọc – một sinh thể tách biệt. Nhưng nếu bạn tự gỡ mình ra khỏi phin lọc (là ý niệm bản ngã của bạn), bạn sẽ trở về trạng thái tỉnh giác thuần khiết, là sự tỉnh giác nguyên thủy khi bạn giáng thế. Khi đó, bạn sẽ chứng nghiệm sự hợp nhất ngày càng thâm sâu với Hiện diện TA LÀ cho đến khi bạn sẽ thốt lên cùng với Giê-su, “Ta với Cha ta là một”.

Tới điểm đó, bạn sẽ hoàn thành một lời dạy khác của Giê-su, “Ta là cánh cửa mở mà không người nào có thể đóng lại.” Bấy giờ bạn là cánh cửa mở để Hiện diện TA LÀ của mình có thể biểu thị tự do trong thế gian, bởi vì khi bạn vẫn còn đồng hóa với ngã vỏ ngoài, thì dòng tuôn chảy từ Hiện diện còn bị phin lọc nhận thức ngăn chặn, gạn bỏ – dù là toàn diện hay chỉ một phần.

Điều này có nghĩa là quan hệ của bạn với Hiện diện của bạn có mấy giai đoạn, từ thấp lên cao:

  • Ở thấp nhất, bạn không có quan hệ gì với Hiện diện. Bạn không biết gì về nó, hoặc nó chỉ là một khái niệm trừu tượng, không có bất cứ liên hệ nội tâm trực giác nào với bạn.
  • Bạn có sự kết nối nào đó với Hiện diện, nhưng bạn vẫn thấy nó bị tách biệt bởi một khoảng cách hay một rào cản. Bạn đang cố gắng tăng cường sự nối kết (thường hiện ra như là trực giác), nhưng nếu còn khái niệm nối kết thì vẫn ám chỉ còn có tách biệt. Ở giai đoạn này, chúng ta thường có linh hứng trực giác, có những kinh nghiệm thần bí hoặc giao cảm với một cái gì cao rộng hơn, khiến chúng ta mở tâm ra với con đường tâm linh. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn những phin lọc nhận thức kềm chế bước tiến của mình trên đường tu.
  • Bạn bắt đầu nhận ra nhu cầu phải tự tháo gỡ khỏi phin lọc nhận thức và đạt được tỉnh giác thuần khiết. Và bạn bắt đầu tra vấn phin lọc một cách hệ thống, và bạn nỗ lực nhìn thế giới không thông qua một phin lọc nào.
  • Bạn thấy bạn là một với Hiện diện của bạn, là sự nối dài của Hiện diện. Điều này có nghĩa, bạn biết rõ mình không phải là phàm ngã hoặc xác thân, cho dù bạn vẫn phải dùng cả bốn thể phàm của mình như một phương tiện biểu thị trong cõi vật chất. Bạn biết mình không phải là những cá tính vỏ ngoài, tự ngã hay ngã tách biệt. Bạn chỉ đơn giản là cánh cửa mở, một tấm kính trong vắt.

Bản mẫu thiêng liêng của bạn

Hiện diện TA LÀ chứa đựng bản mẫu thiêng liêng cho sắc tính của bạn, tức là tất cả những đặc tính khiến bạn là một biểu thị độc nhất của Bản thể Thượng đế. Bản mẫu này đã được tạo ra bởi cha mẹ tâm linh của bạn – là những Đấng hiện hữu nơi một trong nhiều cõi tâm linh – và bản mẫu này bất biến, thường hằng.    

Chính vì muốn biểu thị bản mẫu thiêng liêng như một món quà cho hành tinh mà Hiện diện TA LÀ của bạn đã tạo sinh ra bạn. Còn bạn thì là cái Ta Biết, được ra đời với chức năng làm cánh cửa mở để cho Hiện diện biểu thị món quà đó và đồng thời cũng trải nghiệm thế gian. Nói cách khác, tiềm năng lớn nhất của mình là làm cánh cửa mở, qua đó sắc tính được cất giữ trong Hiện diện có dịp biểu đạt tự do. Đây là điều mà Giê-su muốn nói đến qua câu, “Ta không tự làm được điều gì” và “Chính Cha trong ta làm mọi việc”.   

Vì Hiện diện TA LÀ ngụ ở một cõi có rung động cao hơn vũ trụ vật chất, cho nên nó không thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi bất cứ lỗi lầm nào bạn mắc phải trong cõi này. Dù bạn có phạm lỗi lầm nào đi nữa thì bản sắc chân thực của bạn cũng không bị tác động. Vì thế, dù bạn có cảm thấy đau khổ hay lầm lỗi đến đâu, bạn vẫn LUÔN LUÔN có khả năng nối kết lại với Hiện diện của mình, mở khoá tiềm năng tâm linh thực sự của mình.    

Đây là một cơ năng an toàn trong thiết kế vũ trụ của Thượng đế, và bạn không bao giờ có thể đánh mất ý thức hợp nhất với chân ngã của mình, cho dù tự ngã sẽ ra sức cưỡng lại sự hợp nhất đó để kéo giữ bạn trong tâm trạng tách biệt khỏi Thượng đế.  

Hai khía cạnh của Hiện diện TA LÀ

Một trong những lời dạy nền tảng của các chân sư thăng thiên là mọi thứ trong thế giới hình tướng đều là sự biểu đạt của Dấng Sáng tạo duy nhất, bất khả phân chia. Nhưng để tạo ra một thế giới gồm hình tướng đa dạng, Đấng Sáng tạo duy nhất phải trước hết biểu hiện như hai thái cực hỗ tương. Hai thái cực này có thể gọi là Âm và Dương, nam và nữ, lan ra và co lại, hay Alpha và Omega. 

Tuy nhiên, điểm mấu chốt ở đây là bất kỳ hình tướng nào muốn bền vững cũng phải sinh ra từ sự phối hợp hài hòa của cả hai. Vì thế trong bất kỳ hình tướng nào được tạo ra từ sự duy nhất của Đại đoàn Chưởng giáo, cả hai khía cạnh trên đều có mặt, có nghĩa là Hiện diện của bạn cũng có hai khía cạnh cơ bản đó.

Ở phần trên có nói đến tên gọi “Hiện diện TA LÀ” xuất xứ từ danh xưng mà Thượng đế đã phán cho Moses. Trong hầu hết các văn bản Kinh thánh, tên gọi này được dịch là “TA LÀ CÁI TA LÀ”. Tuy nhiên, một số học giả Kinh thánh có biết tới một cách dịch bản gốc tiếng Do Thái chính xác hơn, là “TA SẼ LÀ CÁI TA SẼ LÀ”  

Như vậy, Hiện diện của bạn có hai khía cạnh:

  • TA LÀ CÁI TA LÀ là khía cạnh Alpha của Hiện diện bạn. Đó là trung tâm bất biến, bất di bất dịch, kết nối bạn với Đại đoàn Chưởng giáo và, ở tột cùng, với cái TA LÀ CÁI TA LÀ của Đấng Sáng tạo.
  • Còn khía cạnh TA SẼ LÀ CÁI TA SẼ LÀ chính là động lực khiến Hiện diện của bạn biểu đạt trong thế giới vật chất. Có nghĩa cái Ta Biết của bạn là sự nối dài xuất thân từ khía cạnh TA SẼ LÀ này đây.

Bạn cần suy ngẫm điểm quan trọng này: khía cạnh TA LÀ là trung tâm bất biến, bất di bất dịch của Hiện diện, trong khi khía cạnh TA SẼ LÀ không ngừng thay đổi, hay đúng hơn, nó không ngừng tự vượt thăng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với bạn, bởi vì nó sẽ giúp bạn nhận rõ bạn thực sự có thể vượt thăng mọi hạn chế trong thế giới vật chất hoặc bất cứ “lỗi lầm” nào trong quá khứ.

Cách để thực sự thăng vượt là trụ vững trong dòng chảy không ngừng của khía cạnh TA SẼ LÀ, hầu bạn không làm mồi cho sự dối trá – do tự ngã và các thế lực thế gian đề xướng – rằng bạn bị trói chặt trong hoàn cảnh vật chất, hoặc không bao giờ thoát được các lỗi lầm đã phạm. Giê-su gọi dối trá đó là “ông hoàng thế gian”, nó chỉ muốn bạn – bạn trong nghĩa Tánh linh – bị trói buộc trong hoàn cảnh và lầm lỗi thế gian. Cái Ta Biết chỉ là phần nối dài của khía cạnh TA SẼ LÀ của Hiện diện, và một khi bạn chấp nhận điều này, bạn sẽ có khả năng thăng vượt mọi hoàn cảnh.  

Đù biết vậy nhưng ông hoàng thế gian là sự tẩy não mạnh mẽ, tinh vi, đã thấm sâu vào tâm thức tập thể từ rất lâu nay, ảnh hưởng tất cả chúng ta. Cách duy nhất để vượt qua nó là biết chắc rằng Tánh linh sẽ không bao giờ bị ràng buộc bởi bất cứ gì trong thế gian, và bất cứ lúc nào cũng sẽ tự biểu đạt hoàn toàn tự do. Đây KHÔNG PHẢI là cái tự do ích kỷ khiến bạn làm theo ý mình mà không chịu đối mặt với hậu quả.

Mong muốn của Tánh linh là cải hóa các điều kiện giới hạn của thế gian để thực hiện tiềm năng cao nhất. Và bạn không thể cải hóa thế gian nếu bạn nghĩ rằng mình bị các điều kiện hiện tại ràng buộc mình. Cho nên, chỉ khi nào cái Ta Biết trở thành một cánh cửa mở thì bạn mới có thể thật sự nhập dòng Hiện diện TA SẼ LÀ, sáng tạo và vô điều kiện, mà không gì có thể kềm chế.

Nói cách khác, cái Ta Biết thực sự không bao giờ nên nghĩ, hoặc nói, là “ta là”. Thay vào đó, nó luôn luôn nên xem mình là “ta sẽ là”. Nếu bạn nghĩ “ta là cái ngã hạn hẹp này” thì chọn lựa duy nhất để thoát khỏi ngã là bạn cố biến nó thành cái gì khác. Nhưng nếu bạn nghĩ “ta sẽ là”, bạn không cần thay đổi ngã mà chỉ cần đơn giản tự nhủ, “Ta sẽ là nhiều hơn cái ngã này”. Sự khác biệt thật là thâm sâu.

Cốt lõi của con người phàm là gì?

Bạn thử xem xét những câu sau đây:

  • Thực sự, tôi là cái tôi là.
  • Nhưng lúc này và ở đây, tôi là cái mà tôi nghĩ tôi là.
  • Hiện có một khoảng cách giữa cái tôi là và cái tôi nghĩ tôi là.
  • Mục đích tối hậu là khép khoảng cách này lại.

Ý nghĩa những câu trên thật đơn giản: Ngay trong lúc này, bạn đang nhìn tất cả mọi thứ – kể cả chính mình – qua một phin lọc nhận thức, một ý niệm về bản ngã. Nhưng cái ngã này không thực là bạn. Đó chỉ là một nhân cách vỏ ngoài mà con người thực của bạn đang sử dụng để trải nghiệm thế gian từ một góc độ nào đó.

Hãy thử nhìn ví dụ này. Quanh thế giới, chúng ta có thể thấy rất nhiều nơi có hai nhóm khăng khăng đối chọi với nhau. Hoặc chúng ta nhìn vào lịch sử thì có ví dụ các cuộc thập tự chinh vào thời trung cổ. Chúng ta chứng kiến hai nhóm người đều theo đạo nhưng lại tin rằng đạo của mình mới là chân đạo duy nhất. Cả hai nhóm tin rằng họ được Thượng đế ủy nhiệm để thiết lập tôn giáo tối thượng trên trái đất, và Thượng đế còn bảo họ rằng họ được quyền sát hại tín đồ tôn giáo kia vì lý do đó. Và hai bên cứ thế giết nhau mãi nhân danh cùng một Thượng đế.        

Chỉ có hai cách giải thích điều này mà thôi:

  • Hoặc Thượng đế là một Thượng đế kỳ lạ muốn con người nhân danh mình để giết hại lẫn nhau,
  • Hoặc cái nhìn của chúng ta về Thượng đế, và về mối quan hệ của mình với Thượng đế, có điều gì thật thiếu sót. 

Nói cách khác, khi có hai phe cho rằng chỉ có tôn giáo mình là đúng thì thường tình phải kết luận cả hai phe không thể nào đúng cùng một lượt. Nhưng nếu vượt lên trên sự thường tình thì chúng ta sẽ có thể hỏi: “Lỡ cả hai đều sai thì sao?”

Khoác lên một phin lọc nhận thức

Chẳng hạn, nếu bạn tự xem mình là một người đạo Cơ đốc thì có nghĩa gì? Có nghĩa là bạn đã khoác lên một phin lọc nhận thức. Khi bạn nhìn cuộc sống qua phin lọc này, sẽ có một số câu hỏi mà bạn sẽ tự động gạt ra. Có thể bạn tin những câu này cấm ngặt không được hỏi, hoặc bạn thấy không cần hỏi. Hoặc có những điều bạn cho là đương nhiên rồi, không cần nghi vấn hay đặt vấn đề.  

Vì vậy, nếu bạn nhìn cuộc sống qua một phin lọc nhận thức Cơ đốc giáo, bạn sẽ tin rằng để lên được thiên đường, bạn phải là một tín đồ Cơ đốc ngoan đạo, phải cố gắng làm sao để mọi người khác cũng trở thành người Cơ đốc như mình. Kết quả là bạn sẽ không bao giờ đặt câu hỏi thật giản dị này: “Liệu trên thiên đường có người nào đạo Cơ đốc hay không?” 

Về điều này, Giê-su có dạy một câu mà bạn cần để ý, “Không người nào lên được trời mà đã không từ trời đi xuống.” Hàm ý vô cùng thâm sâu: Chúng ta đã từng bước xuống từ cõi tâm linh với một tâm thức nào đó, nhưng khi sống dưới trần gian địa cầu, chúng ta đã khoác lấy một cái ngã vỏ ngoài, một phin lọc nhận thức. Và cách DUY NHẤT để thăng lên trở lại cõi tâm linh là phải thăng vượt MỌI phin lọc nhận thức có mặt ở địa cầu.  

Vậy thì trên thiên đường có người Cơ đốc hay người Hồi giáo nào không? Thưa không, trên thiên đường chỉ có những cá thể của Thượng đế mà thôi. Cách duy nhất để vào thiên đường là đã vượt qua và bỏ lại MỌI cái nhãn, mọi đặc tính được gán ghép dưới địa cầu. Mục đích KHÔNG PHẢI là trở thănh một người ngoan đạo Cơ đốc hay một người tâm linh tốt thiện, mà là nhận ra mình thực sự là một sinh thể tâm linh vượt ngoài mọi nhãn hiệu do thế gian định nghĩa.    

Phin lọc nhận thức hạn chế bạn như thế nào?

Bây giờ hãy rời lý thuyết để nhìn thẳng vào hiện trạng của bạn. Có lẽ bạn xem mình là một thể sống hạn chế vì bạn tin chắc rằng bạn bị một số hoàn cảnh bên ngoài gò bó. Nói cách khác, bạn tin rằng ngoại cảnh vật chất có quyền năng trên bạn.

Nhưng trải nghiệm sống của bạn có phải chăng là sản phẩm của một sự chọn lựa – là chọn lựa khi con người nguyên thủy của bạn quyết định khoác lên một cái ngã nào đó? Cái ngã đó vận hành như một phin lọc nhận thức, và khi nào bạn còn nhìn đời qua nó thì bạn sẽ còn thấy sự chi phối của ngoại cảnh hoàn toàn có thực.

Nói cách khác, ở một thời điểm của quá khứ – có lẽ trong một tiền kiếp xa xôi – con người nguyên thủy của bạn đã quyết định khoác lên mình một cái ngã giới hạn. Nó giới hạn vì nó định nghĩa một số điều kiện ngoại cảnh là hiện thực tuyệt đối, và bởi thế chúng mới có quyền năng trên bạn.

Nếu điều này nghe vẫn còn hơi lý thuyết thì bạn hãy thử nhìn vào một ví dụ cụ thể trong lịch sử. Khoảng 500 năm trước đây, hầu hết mọi người ở Âu châu đều tin chắc chắn, tuyệt đối, rằng trái đất này bằng phẳng. Bạn hãy tự hỏi: “Vậy 500 trước, trái đất có thật bằng phẳng hay nó vẫn tròn như bây giờ?”

Rõ ràng trái đất đã không thay đổi hình dạng và cái duy nhất đã thay đổi là cách nhìn trái đất của con người. Đó là một phin lọc nhận thức đặc thù khiến người ta tin vào một sự thật “không thể chối cãi” là địa cầu bằng phẳng. Phin lọc này đã giới hạn con người bằng rất nhiều cách, như khi người ta tin rằng vượt đại dương tìm đất mới là một chuyện nguy hiểm điên rồ.  

Cho tới khi bạn còn nhìn cuộc sống qua phin lọc đã nhào nặn bản ngã mình thì bạn sẽ không bao giờ đặt lại vấn đề liệu ngoại cảnh vật chất có thực và có quyền gì trên bạn hay không. Cách duy nhất để bạn thăng vượt các điều kiện ngoại cảnh là chất vấn chính cái phin lọc đã khiến chúng hiện ra như thật. Nhưng đằng khác, bạn sẽ không bao giờ làm được điều đó nếu bạn còn nhìn cuộc đời từ bên trong phin lọc nhìn ra. Đây là vòng luẩn quẩn muôn thuở của bài toán làm người.   

Bạn KHÔNG là cái ngã hiện tại

Vậy bạn có lối thoát nào chăng? Tất nhiên là có, và đó là nhận ra bạn không phải là cái ngã hiện tại. Kỳ thực, bạn là một sinh thể đã giáng thế từ cõi tâm linh, mà đã là tâm linh thì không thể bị bất cứ gì ở địa cầu tác động lâu dài. Bạn chì đơn giản khoác lấy một cái ngã hạn hẹp tạm thời. Bạn sẽ tưởng mình là ngã khi nào bạn còn nhìn qua phin lọc của ngã, nhưng dù bạn có tưởng mình là gì thì bạn vẫn luôn luôn là cùng sinh thể tâm linh đã giáng thế.   

Bước kế tiếp là xét xem bằng cách nào con người thuần khiết của bạn đã khoác lấy cái ngã hiện hữu? Để làm vậy, nó tự phóng chiếu vào ngã, tương tự như một diễn viên mặc bộ trang phục cùng trang điểm để diễn xuất trên sân khấu. Ngã hiện tại của bạn chỉ đơn giản là một vai tuồng mà bạn đã chọn trình diễn trên sân khấu cuộc đời. Rồi khi nào bạn chán ngấy chuyện diễn xuất thì bạn có thể cởi trang phục ra và trở về con người thật của mình. 

Làm thế nào bạn có thể thăng vượt được ngã hiện thời? Bằng cách nhận ra rằng con người thuần khiết của bạn đã tự phóng chiếu vào ngã, và như vậy cũng có tiềm năng tự tháo gỡ khỏi ngã. Để thực hiện điều này, bạn cần nhận ra con người thực của bạn có tiềm năng đạt được tâm thức trinh nguyên, tức là khi bạn không còn bất cứ phin lọc nhận thức nào nữa. Bạn chỉ đơn giản nhìn mọi tình huống của cõi vật chất mà không gán ghép bất cứ nhãn hiệu hay phán đoán nào, bởi vì dán nhãn với phán đoán là sản phẩm của phin lọc nhận thức.

Các chân sư thăng thiên đã đặt tên cho con người giáng thế nguyên thủy đó là cái “Ta Biết”. Tuy nhiên bạn không nên quá câu nệ danh xưng, bởi vì cùng khái niệm này cũng được tìm thấy trong các giáo lý huyền bí khác dưới những tên gọi khác. Chẳng hạn, vị sáng lâp Phật giáo Tây tạng, Padma-Sambhava, gọi đó là “tỉnh giác thuần khiết” hay “nhận biết trần trụi”. Thiền Phật giáo gọi là “tâm sơ” và Giê-su có dạy phải trở thành trẻ nhỏ để bước vào Nước Trời.  

Điều cần nắm rõ là cái Ta Biết không hề bị ngã hiện thời thay đổi lâu bền – tương tự như con mắt bạn không bị cặp kính màu vàng biến đổi. Cho nên cái Ta Biết hoàn toàn có khả năng đạt được một trạng thái tỉnh giác thuần khiết, không còn một phin lọc nhận thức nào của thế gian. Bạn thấy mọi thứ như là.

Đức Phật gọi đó là “tâm thanh tịnh”, và Giê-su cũng có đề cập trong câu, “Khi mắt con đơn nhất, toàn thân con tràn ngập ánh sáng”. Bạn thử suy ngẫm về câu chót này. Khi cái nhìn của bạn “đơn nhất”, tức là khi nó không còn bị bất cứ phin lọc nhận thức nào phân chia, bạn sẽ thấy mọi thứ trong vũ trụ vật chất được tạo bằng ánh sáng. Điều này sẽ giúp bạn thăng vượt giới hạn của mình như thế nào?   

Gỡ bỏ các phin lọc nhận thức

Như đã trình bày, mọi thứ trong vũ trụ vật chất được cấu tạo bằng ánh sáng tâm linh đã mượn lấy một hình dạng tạm thời. Khi bạn chứng nghiệm mình là một sinh thể tâm linh, bạn biết rõ các hình dạng tạm thời ấy của thế giới vật chất không thể sai khiến được Tánh linh của mình. Và như vậy, bạn khởi sự tháo gỡ một cách có hệ thống các phin lọc đã khiến bạn tưởng lầm mình là một thể sống hạn chế bất lực trước các điều kiện vật chất. Khi đó, bạn cũng bắt đầu hoàn thành lời hứa của Giê-su rằng mỗi chúng ta đều có khả năng làm được những việc mà thày đã làm và ngay cả những việc lớn hơn thế nữa.

Thế nào là phin lọc nhận thức? Nó gồm có hai phần tạo thành – một số tin tưởng (thường là những tin tưởng tiềm thức) và năng lượng mà phẩm chất đã bị các tin tưởng này biến đổi suốt nhiều kiếp đầu thai. Nói cách khác, ngã vỏ ngoài được tạo bằng những tin tưởng và năng lượng có tần số thấp.

Sự phối hợp giữa những tin tưởng mà chúng ta không bao giờ chất vấn – thường là vì chúng ta không thấy chúng chỉ là niềm tin tưởng – và năng lượng với tần số thấp, tạo thành một phin lọc ngăn chặn một số rung động, trong khi lại cho phép một số khác đi qua. Ẩn bên dưới, thường là sự đánh giá tốt-xấu hay đúng-sai. Và do đánh giá mà có sự phân chia, khiến chúng ta bị kẹt trong cái vòng triền miên tìm cách tránh né hay tiêu diệt những gì mình thấy là xấu, và đồng thời sở hữu hay kiểm soát những gì mình xem là tốt. 

Cái Ta Biết trong trạng thái thuần khiết thấy rõ mọi hình dạng trong cõi vật chất chỉ là hình dạng không hơn không kém. Hình dạng không có quyền năng gì trên bạn là Tánh linh trinh nguyên. Cho nên trở về nhận thức thanh tịnh là cách duy nhất để không cho phép ngoại cảnh vật chất có quyền hạn gì trên mình.

Tại sao bạn lại khoác một cái ngã giới hạn

Vậy thế tại sao bạn lại phải mượn lấy một cái ngã giới hạn? Mục đích cuộc sống có hai phần căn bản. Một là để bạn mở rộng sự nhận biết. Và hai là để bạn giúp nâng cao độ rung của hành tinh nơi bạn đầu thai.

Việc hiện thân trên trái đất là một cách để giúp bạn tăng trưởng và đồng thời giúp nâng cao địa cầu. Tuy nhiên để đầu thai, cái Ta Biết không thể giáng thế trong trạng thái thuần khiết của nó. Nó phải tự phóng chiếu vào một cái ngã được tạo bằng cùng những rung động đã cấu tạo hành tinh vật chất. Bằng cách khoác lấy cái ngã giới hạn này rồi lần hồi thăng vượt nó mà bạn mới có thể tăng trưởng bản thân. Và song song, bạn cũng đóng góp nâng cao toàn thể địa cầu.

Nhưng bạn cũng cần biết, điạ cầu hiện tại đang ở một trạng thái thấp hơn hẳn trạng thái nguyên thủy khi các Elohim tạo dựng ở ban đầu. Hầu hết mọi giáo lý tôn giáo hay tâm linh đều có đạy về một địa cầu ban sơ với cuộc sống tinh thần cao hơn bây giờ, và nhân loại chúng ta thì đã từng nếm cảnh thụt lùi, sa ngã.

Các chân sư thăng thiên dạy rằng bước “sa ngã” đó đã xảy ra vì một số người đã quyết định khoác lấy những cái ngã dựa trên ảo tưởng tách biệt. Khi làm vậy, họ có khả năng sinh sống như những sinh thể tách biệt mà không xem xét hậu quả dài hạn đem đến cho người khác, cho toàn thể hay cho chính mình. Hiện thời, hầu hết mọi người trên địa cầu đều sinh hoạt trong những cái ngã tách biệt như thế, và đó là lý do chúng ta chứng kiến quá nhiều xung đột đến như vậy.

Cho nên rất có thể trong quá khứ, bạn đã quyết định bạn muốn trải nghiệm thế gian qua trung gian một cái ngã giới hạn, hoặc bạn muốn làm những chuyện mà chỉ một sinh thể tách biệt có thể làm được. Nhưng đằng khác, nếu bạn là người có khuynh hướng tâm linh, cũng rất có thể là bạn đã cố tình khoác lấy cái ngã giới hạn này để chứng tỏ cho người khác thấy rằng mỗi chúng ta đều không chỉ là phàm phu, và chúng ta không bắt buộc phải bị ngoại cảnh hạn chế. Thay vào đó, chúng ta có khả năng vươn lên cao hơn mọi cái ngã và giúp đồng sáng tạo một thế giới mới vượt khỏi mọi giới hạn hiện hữu.

Nếu bạn cảm thấy điều vừa rồi đúng với bạn thì những dụng cụ thăng vượt được đăng tải trên trang mạng này sẽ là phương cách để bạn vượt lên trên các phin lọc nhận thức hiện thời, hầu đạt được trạng thái tỉnh giác thuần khiết là tiềm năng cao nhất của bạn. Khi đó bạn sẽ hoàn thành mục đích đầu thai của mình là trở thành cánh cửa mở cho phần cao thượng của chính mình. Và đề tài này sẽ được bàn đến trong bài kế tiếp.

Tuy nhiên, cũng cần nói rõ ngay một điều. Đâu là thử thách lớn nhất trên đường tu tâm linh? Đó là sự buông bỏ mọi quan điểm cùng tin tưởng sẵn có – buông bỏ mọi phin lọc nhận thức. Nhưng rất nhiều người trong số chúng ta sẽ đi qua một giai đoạn lầm lạc khi chúng ta tưởng mình đã tìm được một giáo lý tâm linh chân chính, và bây giờ mình không còn nhu cầu thăng vượt thêm nữa. Chúng ta tưởng mình không cần thăng vượt vì chắc chắn những tin tưởng này sẽ được chứng thực khi mình bước vào cõi trời. Ấy nhưng trên thực tế, bất cứ giáo lý nào có thể diễn tả bằng lời nói cũng đều không là thực tại tâm linh trọn vẹn. Cho nên thử thách thực sự cho người tìm đạo phải là buông bỏ tất cả, đặc biệt những gì mình tin là không cần đặt vấn đề.   

Bạn sẽ không thể thăng vượt nếu bạn còn nắm giữ một cái gì – bám mắc vào một ý niệm nào, như người đạo Phật thường nói. Chỉ khi nào bạn buông bỏ mọi “vật” và đạt được sự tỉnh giác thuần khiết, trần trụi, chỉ khi nào bạn không còn có những phán xét thế phàm hay đánh giá chủ quan dựa trên hình dạng thế gian, thì những hình dạng hiện hữu trên địa cầu mới không còn quyền năng trên bạn nữa.     

Tại sao cần hiểu biết cái ta?

Bạn hãy thử nhìn xem, bạn đang trải nghiệm đời mình như thế nào? Rất có thể bạn đang gặp một số hoàn cảnh mà bạn cảm thấy gò bó, như thể chúng đang sai khiến mình vậy. Và ban tự hỏi, “Làm cách nào tôi có thể thăng vượt được hoàn cảnh này đây?”   

Nếu bạn suy xét bằng trí khôn thường tình, hẳn bạn sẽ nghĩ cách duy nhất để vượt qua một hạn chế nào đó là thay đổi hoàn cảnh bên ngoài đã gây ra hạn chế đó. Nói cách khác, chỉ có một cách để thay đổi trải nghiệm về cuộc sống là phải thay đổi ngoại cảnh. 

Vấn đề với cách nhìn này là trong đời thiếu gì những yếu tố mà mình dường như không thể kiểm soát, hoặc có rất ít quyền hạn kiểm soát. Và như vậy, bài toán đặt ra thật là hắc búa: Làm thế nào tôi có thể thay đổi trải nghiệm về đời sống nếu tôi không thể kiểm soát những yếu tố ngoại cảnh mà tôi nghĩ đang chi phối trải nghiệm của tôi?  

Làm sao thoát được bế tắc, thoát được vòng luẩn quẩn này đây? Hay là chúng ta thử đặt câu hỏi một cách khác đi: “Có thật là các yếu tố ngoại cảnh sai khiến tôi, hay chúng CHỈ có thể sai khiến nếu tôi nghĩ chúng có khả năng sai khiến mình?” Nói cách khác, ai sai khiến ai, và ai nắm giữ quyền hạn sai khiến? Quyền hạn này có nằm bên ngoài mình (có nghĩa chúng ta sẽ hoàn toàn bó tay không làm gì được) hay là nó nằm trong tâm mình (có nghĩa chúng ta CÓ KHẢ NĂNG làm được cái gì đó),

Có thật là những “vật” trong vũ trụ vật chất có quyền hạn trên chúng ta, hay là chúng chỉ có quyền hạn cho tới một mức nào đó mà chúng ta cho phép chúng? Có thể chăng chìa khoá cho bài toán này nằm ở chỗ chúng ta cần hiểu sâu sắc hơn mình là ai?

Vậy thì bạn là ai đây? Bạn thử nghĩ xem, lỡ cái gì định đoạt trải nghiệm cuộc sống của bạn ngay lúc này chỉ đơn giản là một cái ngã? Tất nhiên đó là một cái ngã tin rằng hoàn cảnh bên ngoài là có thực và có khả năng sai khiến bạn – hay nói đúng hơn, sai khiến ngã.

Khi đặt câu hỏi khác đi như thế, chúng ta mở ra một cách nhìn mới về cuộc đời. Những gì bạn đang trải nghiệm ngay lúc này chẳng qua chỉ là do bạn đang nhìn cuộc đời qua một cái ngã nào đó. Nhưng đây có phải là cách duy nhất để trải nghiệm cuộc đời hay không?

Và bạn thử nghĩ, lỡ cái ngã này tương tự như một phin lọc nhận thức, như bạn đang đeo một cặp mắt kính màu vàng vậy? Bạn đeo kính vàng nhìn lên trời xanh dương mà cứ nhất định là trời màu xanh lá cây. Phải chăng là bạn chưa từng nhìn trời mà không đeo kính, như là có ai đã đeo kính áp tròng màu vàng lên mắt bạn ngay từ khi bạn chào đời? Tất nhiên là bạn sẽ lớn lên luôn tin chắc rằng màu trời thật sự là xanh lá cây, và bạn sẽ không thể tưởng tượng được có cách nào khác để trải nghiệm màu trời.

Vậy chúng ta có thể mô tả vấn đề cốt lõi của nhân sinh quan là như sau:

  • Chúng ta trải nghiệm cuộc sống qua một phin lọc nhận thức.
  • Chúng ta không biết đó chỉ là một trong nhiều phin lọc có thể có.
  • Chúng ta nghĩ rằng những gì mình thấy qua phin lọc là cách duy nhất để trải nghiệm cuộc sống.
  • Chúng ta nghĩ rằng những gì mình thấy qua phin lọc là thực tại.

Và bây giờ chúng ta có thể thấy rõ, ngoại cảnh sai khiến được mình chẳng qua là do mình tin rằng cái gì mình thấy qua phin lọc là một thực tại đứng ngoài độc lập với mình.

Khi bạn bắt đầu nhận ra rằng cái nhìn của mình về đời sống chỉ là sản phẩm một cái ngã, một phin lọc nhận thức nào đó, thì cả một vùng trời lạ thường mở ra cho bạn. Bây giờ bạn có thể đặt câu hỏi đổi đời: “Cái ngã hiện thời của tôi có phải là cách duy nhất để nhìn cuộc đời, hay là có cách nhìn nào khác – một cách nhìn sẽ giúp tôi thăng vượt các hạn chế hiện tại của mình?”

Nhìn chung quanh, bạn có thể dễ dàng nhận thấy nhiều người không nhìn đời giống mình. Dễ hiểu thôi, bởi vì họ trải nghiệm cuộc sống qua những cái ngã, những phin lọc nhận thức khác bạn. Đó là lý do bạn cảm thấy khó lòng đồng ý với họ, hay ngay cả giao tiếp với họ. Nếu bạn đeo kính vàng còn họ đeo kính đỏ thì làm sao đồng ý với nhau về màu trời?  

Hiểu vậy rồi, chúng ta sẽ làm gì đây? Đầu tiên chúng ta có thể khởi sự một tiến trình tinh luyện, mở rộng những phin lọc nhận thức của mình bằng cách tìm hiểu thêm về các đề tài đời sống và tâm linh. Việc làm này, nhiều người trong chúng ta đã từng làm khi học hỏi giáo lý tâm linh. Nhờ lãnh hội sâu sắc hơn các khía cạnh tâm linh của đời sống, chúng ta thay đổi được nhận thức về cuộc đời.      

Tuy nhiên chúng ta cũng thấy được phương cách này có một số hạn chế. Chẳng hạn, nhiều người tâm linh vẫn còn mang một số tính nết hay thói quen mà họ không thể nào vượt bỏ được. Không những thế, có khi chúng ta còn dùng cả giáo lý tâm linh để dựng lên một phin lọc nhận thức mới, khiến mình bị hạn chế y như trước tuy rằng hình thức có thể khác. Một số còn bị kéo vào vòng tranh luận khi cố thuyết phục người khác rằng “phin lọc nhận thức của tôi mới đúng, phin lọc của anh sai” – một cuộc tranh cãi đã kéo dài từ rất lâu trên hành tinh này. Thậm chí một số còn cảm thấy mình hơn người do thày mình hay giáo lý của mình đã đem lại cho mình những nhận thức cao siêu hơn mọi người khác.

Tất nhiên, nói vậy không có nghĩa là việc học tập giáo lý tâm linh là sai trái, hay việc mở rộng phin lọc nhận thức là vô ích. Nhưng đó phải chăng chỉ là một giai đọan nhất thời, và trên đường tu tâm linh còn nhiều giai đoạn khác cao hơn? Nếu thật vậy thì những giai đoạn kế tiếp sẽ là gì?

Có lẽ đã đến lúc bạn cần tự đặt một câu hỏi khác hơn: “Liệu tôi có thể trải nghiệm cuộc sống mà không qua bất cứ một phin lọc nhận thức nào không?” Nói cách khác, có thể nào tôi thăng vượt mọi phin lọc nhận thức thay vì chỉ mở rộng phin lọc? Và câu này dẫn tới một câu khác nữa: “Ở cốt lõi, tôi là gì?”

Các luân xa và đặc tính

Sự hiểu biết về trường năng lượng của con người đã có từ thuở xa xưa ở phương Đông và từ lâu người ta biết rằng hào quang con người có một số trung tâm nhất định. Những trung tâm này được gọi là luân xa – hay chakra, một từ tiếng Phạn có nghĩa là “bánh xe”. Hiểu biết về luân xa sẽ giúp bạn như thế nào?

Luân xa thực sự là các lối mở, hay cổng ra vào, giữa giải tần số vật chất với giải tần số cao hơn mà người ta thường gọi là cõi tâm linh. Năng lượng có tần số thanh cao tuôn chảy từ cái ta tâm linh của bạn – cái ta cao hơn, tạm gọi là chân ngã – xuống bốn tầng của tâm bạn (bốn thể phàm) thông qua các luân xa. Và cũng thông qua luân xa mà các ấn tượng chảy ngược trở lên, hầu chân ngã có thể trải nghiệm thế giới vật chất qua trung gian bạn. Nhờ thế mà những kinh nghiệm tiến hóa của bạn mới được đưa vào lưu trữ trong căn thể, cung cấp cho bạn cái động lượng sáng tạo để bạn lần hồi đạt được sự điều ngự của tâm trên vật chất.

ChakrasHires

Yếu tố duy trì sự sống của bạn là một dòng năng lượng tâm linh xối xuống từ chân ngã. Dòng năng lượng này luôn luôn có sẵn, nhưng có một quy luật tâm linh định rằng nếu bạn muốn nhận được điều gì từ trên, thì ở dưới bạn phải có một cái chén để hứng lấy. Và đây chính là nguồn gốc của Chén Thánh, biểu tượng cho cái chén tiếp nhận năng lượng từ trên cao. Cái chén nơi năng lượng của Tánh linh chảy vào chính là bảy luân xa trong hào quang của bạn.  

Tại sao lại có bảy luân xa? Như đã trình bày ở những nơi khác, vũ trụ vật chất được tạo ra từ bảy loại năng lượng tâm linh khác nhau, bảy tia sáng. Mỗi tia tương ứng với một trong bảy luân xa chính.

Khi bạn tiếp nhận ánh sáng nơi một luân xa, bạn sẽ dùng ánh sáng này để biểu hiện khả năng sáng tạo của mình. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng hàng đầu là liệu bạn có mục đích nâng mọi sự sống đi lên (với động cơ là tình thương) hay chỉ nâng cái ngã tách biệt (với động cơ là sợ hãi).

  • Nếu bạn biểu hiện khả năng sáng tạo dựa trên tình thương, bạn sẽ khởi sinh ra một luồng phản hồi gửi ánh sáng trở ngược lên qua luân xa. Luồng này sẽ được chân ngã sinh sôi nẩy nở, khiến ánh sáng đi vào luân xa được khuếch trương và khả năng sáng tạo của bạn được tăng triển.
  • Nếu bạn biểu hiện khả năng sáng tạo dựa trên sợ hãi, sẽ không có luồng phản hồi nào trở ngược lên chân ngã và cũng không có gì đề sinh sôi. Thay vào đó, bạn sẽ phát ra năng lượng có tần số thấp, và năng lượng này bắt đầu tích tụ lại trong luân xa. Dần dần, nó sẽ ngăn chặn hay đóng hẳn luân xa lại, và càng ngày sẽ càng có ít ánh sáng từ chân ngã luồn qua được.   

Bạn thấy đó, khi tất cả bảy luân xa đều mở, ít ra là một phần, thì sẽ có một dòng năng lượng chảy liên tục từ chân ngã xuống phàm ngã và ngược trở lên. Năng lượng này tạo thành một hình số 8. Càng nhiều năng lượng chảy qua thì bạn sẽ càng tỉnh giác và sáng tạo hơn. Cho nên đối với mỗi hành giả tầm đạo chân thành, việc giữ gìn luân xa cho thuần khiết là một điều quan trọng sống còn. Chính Giê-su cũng từng dạy một truyện ngụ ngôn với ý như thế, về bảy nữ đồng trinh khôn ngoan luôn luôn chuẩn bị sẵn “ngọn đèn” của mình để chờ khi nào chàng rể đến mời đi.

Ngược lại, nếu luân xa bị ô nhiễm, bạn sẽ có một dòng năng lượng rất thấp, có khi chỉ đủ để giữ cho cơ thể vật lý sống còn. Thật ra một số người đã đóng hẳn luân xa của mình đến độ họ phải đi đánh cắp năng lượng của người khác thì mới làm được bất cứ chuyện gì, hay thậm chí để mình khỏi chết.

Đặc tính của bảy luân xa chính

Bây giờ đã rõ tại sao việc giữ gìn luân xa thanh khiết là điều quan trọng, đó là để bạn có được dòng năng lượng tối đa. Hầu hết những người quan tâm đến tâm linh đều có ít nhất một luân xa mở rộng vừa phải, và chính điều này cho phép chúng ta nhận ra nhu cầu phát triển tâm linh. Thế nhưng chúng ta cũng thường có ít nhất một luân xa tương đối khép đóng, và điều này khiến mình dường như không thăng vượt được một số khuôn nếp cố hữu.

ChakrasHires

Vấn đề ở đây là các luân xa có độ mở khác nhau, do đó chúng ta có khuynh hướng biểu hiện khả năng sáng tạo của mình một cách thiếu quân bình. Một thí dụ điển hình là nếu một người có Luân xa Cổ họng (trung tâm của quyền năng) tương đối mở, nhưng Luân xa Tim (trung tâm của tình thương và từ bi) đóng kín, thì người đó sẽ có khuynh hướng biểu hiện quyền năng mà không được tình thương quân bình lại, và điều này nhất định dẫn đến việc lạm dụng quyền hành. Lịch sử thế giới đầy rẫy ví dụ những khốn khổ lầm than mà sự thể này gây ra.

Mỗi luân xa tương ứng với một trong bảy tia sáng tâm linh. Toàn bộ vũ trụ được sinh tạo từ sự phối hợp tần số năng lượng của bảy tia này. Như đã trình bày, hành tinh địa cầu được tạo ra ở khởi đầu trong sự cân bằng hoàn toàn giữa bảy loại năng lượng. Cho nên trong thiên nhiên cũng có sự cân bằng, không có thiên tai và cũng không thiếu lương thực hay tài nguyên. Xác thân con người không bao giờ bị đau ốm hay phải già đi.

Sở dĩ tình trạng cân bằng nguyên thủy đó bị đánh mất là vì loài người qua các thời đại đã biểu hiện khả năng sáng tạo của mình một cách thiếu cân bằng. Mỗi tia trong số bảy tia sáng đều có một số đức tính khi nó thuần khiết. Khi bạn nhận ánh sáng của một tia sáng qua luân xa mình và bày tỏ nó trong tình thương, bạn hoàn toàn có khả năng sáng tạo mà không làm xáo trộn sự quân bình. Nhưng khi bạn xuống thấp hơn tầng mức của tình thương thì bạn sẽ tạo ra sự mất quân bình.

Bao nhiêu những sự mất quân bình mà bạn chứng kiến trên trái đất đều là do loài người đã làm tha hóa các đức tính thanh khiết của bảy luân xa. Cho nên yếu tố khiến cho một luân xa bị đóng kín chính là sự tha hóa các đức tính thanh tịnh của luân xa đó. Trong phần sau đây, xin liệt ra mỗi luân xa với đặc tính riêng.

Tên luân xa và vị trí

Mỗi hệ thống tu tập đều đặt cho luân xa những cái tên có phần hơi khác nhau. Trong trang mạng này, xin sử dụng tên gọi dựa theo giáo lý của các chân sư thăng thiên:

  • Luân xa Đỉnh đầu
  • Luân xa Mắt thứ ba
  • Luân xa Cổ họng
  • Luân xa Tim
  • Luân xa Đám rối dương
  • Luân xa Hồn
  • Luân xa Gốc

Hình dạng

Các luân xa thường được mô tả với hình dạng giống như bông hoa có số cánh khác nhau. Có những cách mô tả khác là như cái van, hay thậm chí một động cơ phản lực có cánh bằng kim loại có khả năng mở ra hay đóng lại để điều chỉnh lưu lượng không khí.

Tia ánh sáng tương ứng

Các chân sư dạy rằng mỗi luân xa tương ứng với một tia sáng tâm linh đặc thù. Mỗi luân xa được thiết lập với chức năng làm cánh cửa mở cho các đức tính tâm linh của tia sáng để biểu hiện qua trung gian phàm ngã của bạn. Khi tất cả mọi luân xa đều hoạt động tối ưu, bạn sẽ có dòng sáng tạo tối đa mà bạn sẽ biểu hiện một cách quân bình. Sự quân bình bảo đảm có dòng phản hồi chảy trở ngược lên chân ngã của bạn nơi nó sẽ được sinh sôi và gửi trở xuống. Điều này có nghĩa là bạn sẽ tăng trưởng khả năng sáng tạo theo cấp số nhân – miễn là bạn duy trì được sự quân bình.

Màu sắc

Mỗi luân xa có một màu săc đặc thù. Trong các hệ thống khác nhau, màu sắc này được mô tả khác biệt. Như có một hệ thống phổ thông mô tả luân xa thấp nhất là màu đỏ trong khi Luân xa Tim được cho là màu xanh lá cây. Trang mạng này không có ý nói rằng hệ thống này đúng hay hệ thống kia sai, mà xin mô tả các luân xa trong cùng màu sắc với tia sáng tâm linh tương ứng.

Đức tính thuần khiết

Mỗi luân xa có một số đức tính thuần khiết do tia sáng tương ứng định ra. Nếu bạn nhận ra là mình có khả năng biểu hiện một số đức tính được liệt kê, bạn có thể lượng định xem luăn xa nào của mình có phần thanh khiết hơn. Nếu bạn thấy thiếu sót một số đức tính nào đó thì đây là dấu hiệu luân xa tương ứng chưa mở hẳn. Làm vậy rồi, bạn có thể sử dụng các dụng cụ thăng vượt để thanh lọc luân xa đó. Sau đây là mô tả từng luân xa.

Luân xa Đỉnh đầu

Kim Crown_Chakra_2

Thường được xem là tia sáng của minh triết, giác ngộ và tự hiểu biết, tuy nhiên ở mức sâu hơn, đây là luân xa đem lại khả năng nhận rõ tính không thực của ngã tách biệt cũng như ảo tưởng của ý niệm tách biệt. Qua Luân xa Đỉnh đầu, con người chiêm nghiệm sự thật cơ bản rằng mọi sự sống đều là một, và không có gì có thể tách rời khỏi Đấng Sáng tạo hiện diện khắp mọi nơi. Một đức tính khác của một Luân xa Đỉnh đầu thuần khiết là sự cởi mở đối với hiểu biết siêu việt, và sự chứng nghiệm rằng chân lý có nhiều cách diễn tả chính đáng khác nhau, nhưng mọi diễn tả đều tụ về cùng một thực tại bất nhị nằm bên dưới.    

Các mặt tha hóa của Luân xa Đỉnh đầu:

Mặt tha hóa của Luân xa Đỉnh đầu là minh triết giả hiệu, khi con người tưởng là mình biết tất cả, hay mình nắm một chân lý tối hậu. Ảo tưởng này là hệ lụy của ảo tưởng nhị nguyên, lầm tưởng rằng thực tại có thể chia ra thành từng phần riêng biệt, và tâm tách biệt có quyền và có khả năng định ra phần nào là đúng, phần nào là sai.

Sự tha hóa của Luân xa Đỉnh đầu thường được thấy nơi những người tin tuyệt đối là mình đúng – đặc biệt những ai đã trở nên cuồng tín – và sẵn sàng cưỡng ép người khác phải tuân theo ý mình. Một sự tha hóa khác là chủ nghĩa trí thức, qua đó người ta sẵn sàng tranh cãi để ủng hộ hay chống đối một ý tưởng mà không chịu vượt lên trên ý tưởng đó để trực nghiệm Tánh linh vượt mọi ngôn từ.

Luân xa Mắt thứ ba

Kim Third_Eye_Chakra_2

Thường được xem là trụ sở của sự thật và viễn kiến – nhưng viễn kiến về điều gì? Mắt thứ ba là chỗ trụ của viễn kiến đơn nhất, như được minh họa trong câu nói của Giê-su, “Nếu mắt con đơn nhất, toàn thân con sẽ tràn ngập ánh sáng”. Viễn kiến đơn nhất chính là viễn kiến Ki-tô nhìn thấu suốt qua mọi nhị nguyên. Đây là sự chứng ngộ rằng tất cả mọi cách diễn đạt “sự thật” trong cõi vật chất đều thiếu sót so với Tánh linh Sự Thật, có nghĩa là để chạm được chân lý, chúng ta phải vượt trên mọi cách diễn đạt vỏ ngoài.

Làm được vậy thì sẽ thấy mọi phân chia đều không thật, và hiểu được mình phải nâng cao mọi sự sống. Đây là tính phân biện Ki-tô, khả năng nhận diện tức thì và nhìn thấu qua mọi gian dối của nhị nguyên, bởi vì nhị nguyên luôn chỉ nâng một bên và dìm bên kia xuống. Điều này được phản ánh trong câu chuyện Vườn Eden khi rắn gieo ngờ vực vào tâm Eva với lời dụ dỗ, “Ông bà chắc chắn sẽ không chết đâu”. Với một Luân xa Mắt thứ ba đã thuần khiết, bạn nhìn thấu lý luận gian manh của rắn. Bạn cũng thấy rõ mọi hình tướng của cõi vật chất đều tạm bợ, và bạn trụ trong niệm tinh khôi rằng mọi người cùng mọi điều kiện sẽ được chuyển hóa.

Những mặt tha hóa của Luân xa Mắt thứ ba:

Tha hóa của luân xa này là sự thiếu viễn kiến, thiếu khả năng phân biện giữa Chân lý bất nhị và vô số những “sự thật” nhị nguyên, vốn tạo lòng ngờ vực, tuyệt vọng rằng sự thật không thật có. Đó cũng là sự lầm tin rằng chỉ có một sự thật duy nhất là sự thật của mình. Do tin rằng mình nắm sự thật duy nhất đó mà đâm đầu giao chiến với bất cứ ai ủng hộ một ý thức hệ khác biệt, thậm chí còn cảm thấy việc phê phán và tiêu diệt những tư tưởng đối lập là cần thiết và có chính nghĩa. Sự tha hóa của Luân xa Mắt thứ ba biểu hiện nơi những người hay phê phán người khác hoặc ý kiến khác mình, lại còn chụp mũ họ là người xấu, mà không biết rằng tất cả chỉ là hình tướng phù du.    

Luân xa Cổ họng

Kim Throat_Chakra_2

Thường được xem là trụ sở của quyền năng và ý chí, tuy nhiên nếu hiểu sâu sắc hơn thì là nơi trụ của nghị lực sáng tạo. Đây là ý muốn tự biểu thị – tuy nhiên trong dạng thuần túy là sự biểu thị sắc thái tâm linh. Một Luân xa Cổ họng thuần khiết sẽ khơi dậy nghị lực sáng tạo, được biểu hiện qua sự sốt sắng trải nghiệm cho dù kết quả trải nghiệm không thể đoán trước. Đây cũng là thái độ sẵn sàng nhập vào dòng sống và tích cực học hỏi từ mỗi kinh nghiệm.

Luân xa Cổ họng thanh khiết khiến cho con người cảm thấy mọi việc đều có tầm quan trọng, cuộc đời vô cùng hứng thú, và mỗi cá nhân có khả năng thật sự thay đổi cục diện. Luân xa Cổ họng cũng là trụ sở của ý muốn nâng cao toàn thể thay vì chỉ nâng cao chính mình.   

Những mặt tha hóa của Luân xa Cổ họng:

Khi tha hóa, nghị lực sáng tạo trở thành nỗi sợ hãi những gì mình không nắm biết, dẫn đến sự lạm dụng quyền lực nhằm kiểm soát mọi tình huống, kể cả kiểm soát người khác. Đương sự sợ hãi không dám tiến hành những công việc không bảo đảm trước được kết quả, và khi đó, tất nhiên khả năng sáng tạo bị  thui chột.  

Những người có Luân xa Cổ họng ô nhiễm thường lao vào trò tranh giành quyền lực để cố kiểm soát cho sự việc đạt được kết quả mình muốn. Nhưng điều này bóp chết cái lực sống trong mỗi sự sống luôn mong muốn thăng vượt lên, và cuối cùng chỉ có tự ngã được cảm thấy an toàn trong sự nắm giữ và sỡ hữu cái gì nó muốn trong thế gian. Hậu quả là đương sự muốn sở hữu luôn cả người khác – một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xung đột trong nhân loại. Trong những trường hợp nhẹ, người đó sẽ sợ sáng tạo, cảm thấy bất lực và tin rằng cuộc đời không còn gì đáng làm, hay mình có đóng góp cũng chẳng đưa tới đâu. 

Luân xa Tim

Kim Heart_Chakra_2

Một điểm quan trọng cần hiểu là ba luân xa nằm ở phần cao của cơ thể là trụ sở của cái thường được gọi là tâm trí, đặc biệt là khả năng hình thành những suy nghĩ, những giải thích rõ ràng và chi tiết. Khác hẳn là ba luân xa nằm ở phần dưới của cơ thể, là trụ sở của cảm xúc với xu hướng lưu chảy mà không nhất thiết giải thích được tại sao. Cảm xúc chảy theo những gì nó cảm thấy đúng đắn, hoặc (nếu bị tha hóa) nó cảm thấy thích thú. Luân xa Tim nằm ở ngay giữa ba luân xa cao và ba luân xa thấp, lý do là vì bạn chỉ có thể quân bình tâm trí và cảm xúc, quân bình não trái và não phải, qua một Luân xa Tim thuần khiết.

Luân xa Tim thường được xem là trụ sở của tình thương, từ bi, bác ái, và khả năng thưởng ngoạn cái đẹp và tính vị tha. Tuy nhiên trong cách hiểu sâu xa, Luân xa Tim là nơi trụ của sự quân bình. Đằng sau Luân xa Tim là một luân xa thứ 8, gọi là Phòng kín của Tim. Chính ở luân xa này mà ánh sáng từ chân ngã của bạn xối xuống. Sau đó ánh sáng đi vào Luân xa Tim để từ đó được phân phối đến các luân xa khác. Điều này có nghĩa là nếu Luân xa Tim bị ô nhiễm bởi những biểu hiện ô uế của tình thương, thì ánh sáng truyền đến các luân xa kia cũng sẽ bị vấy bẩn ngay từ đầu.

Tình thương có thể được xem như cái lực giữ thăng bằng cho sự sống, tạo sự quân bình giữa hai thái cực của tạo hóa – là lực lan ra (dương, hay Cha) và lực co lại (âm, hay Mẹ). Nếu hai lực này không hài hòa thì sẽ có xu hướng đẩy một trong hai ra cực điểm. Mất quân bình có nghĩa là hoặc lan ra quá xa và bị nổ tan tành, hoặc không xa đủ, tức là không đạt thành quả và tự tiêu diệt do co lại quá trớn.

Một Luân xa Tim thuần khiết cho bạn khả năng chứng nghiệm tính vô điều kiện, tức là thực tại vượt khỏi hai đối cực do tâm nhị nguyên dựng ra. Nếu nhị nguyên có mặt, bạn sẽ cảm thấy nó ngay, cho dù bạn có thể chưa thanh lọc Luân xa Mắt thứ ba và Luân xa Đỉnh đầu, là hai luân xa cho bạn khả năng giải thích cặn kẽ. Đơn giản, bạn cảm thấy những gì có điều kiện là “không ổn” vì bạn đã chứng nghiệm trong tim bạn bản chất vô điều kiện của Thượng đế và của thực tại.

Một người với Luân xa Tim thuần khiết sẽ cảm nhận sâu xa trong nội tâm mình sự duy nhất của mọi sự sống, và từ đó có khả năng phân biện giữa điều gì “ổn” khi mọi sự sống được nâng lên, và điều gì “không ổn” khi chỉ có một phần nâng lên và phần kia bị kéo xuống. Nơi Luân xa Tim, bạn có thể nhận ra điều nào là điều phải, cho dù lý trí bạn (các luân xa cao) chưa thể giải thích tại sao, và cũng vậy, bạn sẽ nhận ra khi nào ba luân xa thấp bị lòng vị kỷ thúc đẩy, và như vậy bạn đạt được quyền năng quân bình các luân xa. 

Những mặt tha hóa của Luân xa Tim:

Tha hóa chính của Luân xa Tim là sự thiếu quân bình, nhưng nó có thể diễn tả bằng nhiều cách vi tế. Có một cách thường gọi là tình yêu, nhưng kỳ thực chỉ là nỗ lực sở hữu và kiểm soát người khác. Đưa đến cùng cực, nó có thể biểu hiện qua sự thù ghét và ý muốn trừng phạt hay tiêu diệt những ai từ chối bị kiểm soát. Chẳng hạn, nhiều người đem lòng thương yêu nhưng lại tỏ ra muốn sở hữu đối tượng mình yêu thương.

Một cách tha hóa khác là tin rằng mọi phương tiện đều chính đáng để đạt được mục đích, có nghĩa là khi mình say đắm một “chính nghĩa” rồi thì mình có quyền cưỡng ép hoặc giết hại người khác để phục vụ chính nghĩa. Hình thức tha hóa này của tình thương đã gây ra những tội ác tàn bạo nhất trong lịch sử loài người. Ít có ai ngoan cố bằng những người bị lòng cuồng tín làm cho Luân xa Tim bị mất quân bình. Đây cũng chính là lý do khiến người ta tin rằng mình phải giết người để chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thượng đế.

Luân xa Đám rối dương

Kim Solar_Plexus_Chakra_2

Thường được xem là trụ sở của an bình, nhưng là “sự an bình vượt mọi hiểu biết”, vì sự hiểu biết có được là qua các luân xa cao hơn tim. Cho nên đây là nội tâm không dao động khi không một hình tướng nhị nguyên nào còn khả năng lôi kéo mình, là sự tĩnh lặng thâm sâu dù đang đứng giữa cảnh binh đao sôi động, là khi chúng ta cảm được lực lôi kéo vào vòng chao đảo của giận dữ mà vẫn trụ vững nơi trung tâm, không nhập cuộc.       

Khi an định như vậy thì mới có thể thật sự quên mình phục vụ tha nhân, vì khi đó mới có trực giác đem lại sự hài hòa trong mọi tình huống. Và tất nhiên, hài hòa là chìa khóa để giúp con người vượt lên trên những vật lộn nhị nguyên hầu tìm đến điểm chung. Một người với Luân xa Đám rối dương thuần khiết, nhất là khi các luân xa cao cũng đã thuần khiết, sẽ có biệt tài kết hợp mọi người để luôn luôn tìm được điểm gặp gỡ chung.

Những mặt tha hóa của Luân xa Đám rối dương:

Tha hóa dễ thấy nhất của Luân xa Đám rối dương là sự nóng giận và dao động, thể hiện qua cách cư xử hung hãn nhằm cưỡng ép người khác thay đổi, hoặc trừng phạt những ai chống cự lại. Đây là sự bất an vượt mọi hiểu biết, bởi vì không có cách nào bình tĩnh lý giải với một người có một Luân xa Đám rối dương xao động. Trong cơn nóng giận, đượng sự hành xử mù quáng, lầm lỡ để rồi lại hối tiếc, kể cả những chuyện mà ai ai cũng thấy là sai trái nhưng đương sự thì hoàn toàn không biết trong cơn đui mù lúc đó. 

Một tha hóa khác mà có người xem là tính hiếu hòa, nhưng thực sự chỉ là tính thụ động, từ chối có lập trường trong mọi hoàn cảnh. Người bị tha hóa như vậy thường nhận vai mình là nạn nhân, chỉ biết phản ứng trước những thế lực từ ngoài và từ chối nhận trách nhiệm cuộc đời mình. Một số khác đánh mất mọi cá thể đến độ mình hùa theo đám đông để hành động mù quáng, hay mình mù quáng đi theo một lãnh tụ quyền uy. Một nét tha hóa khác là đui mù tưởng rằng bạo hành và vũ lực có thể là một giải pháp khả thi, có khi còn là cách phản ứng hợp lý nhất, thậm chí là cách phản ứng duy nhất.

Luân xa Hồn

Kim Seat_of_Soul_Chakra_2

Thường được xem là trụ sở của tự do, tha thứ và công lý, tuy nhiên hiểu sâu xa hơn thì Luân xa Hồn là nơi trụ các đức tính vui đùa, sẵn sàng đón nhận cuộc đời như trong câu nói của Giê-su, “Trừ khi con trở thành như một trẻ thơ thì con không thể vào được Vương quốc”.

Khi bạn thể hiện Luân xa Hồn thuần khiết, bạn cảm nhận cuộc đời tốt thiện trong bản chất. Bạn có mặt trong đời để biểu lộ chính mình và nô đùa với tất cả. Bạn không lo lắng về đời sống hay khắc khoải về tương lai. Bạn hoàn toàn tin cậy Tánh linh sẽ che chở mình và Mẹ sẽ nuôi dưỡng mình. Bạn tràn ngập niềm tự do phơi phới, bạn mong muốn thưởng thức cũng như tô thắm cuộc đời qua sự bày tỏ sáng tạo. 

Những mặt tha hóa của Luân xa Hồn:

Sư tha hóa chủ yếu của Luân xa Hồn là xu hướng nhìn cuộc đời với thái độ cực kỳ hệ trọng. Điều này biểu hiện qua sự tha hóa của cả tự do lẫn công lý, và cả hai phối hợp lại khiến bạn cảm nhận cuộc sống là cuộc tranh đấu triền miên, thậm chí bạn phải phấn đấu chống lại một lực lượng bất công đang tìm cách tước đoạt tự do của bạn. 

“Hãy cười nhạo ác quỷ thì hắn sẽ chạy đi mất”, câu châm ngôn này quả là chí lý, bởi vì khi bạn xem điều gì quá nghiêm trọng thì bạn trao cho nó quyền hạn tác động trên bạn. Tất nhiên trên đời cũng có nhiều chuyện bất công hạn chế tự do của bạn, vậy có nghĩa chăng là bạn nên xem nhẹ tất cả? Nói cho đúng, bạn cần giữ quân bình, và Giê-su có một nói câu khác cũng chí lý không kém, “Hãy khôn ngoan như rắn và vô hại như bồ câu”. Quả thật, bạn cần tìm sự quân bình giữa ngây thơ và thái độ nghiêm trọng quá đáng khiến bạn cảm thấy không thể nào tự do được nếu bạn chưa đổi được những điều kiện của thế gian vốn đã sẵn tạm bợ. 

Sự tha hóa cùng cực của Luân xa Hồn là tư duy cuồng đại, qua đó người ta đinh ninh rằng thế giới là một cuốc chiến vĩ đại giữa thiện và ác, và mọi phương tiện đều chính đáng hầu đánh bại phe ác. Hậu quả là một sự vô cảm toàn diện đối với mạng sống, dẫn đến những sự dã man không kể xiết đối với con người. Và như mọi chuyện, vô cảm đối với người khác xuất phát từ vô cảm đối với chính mình.

Khi Luân xa Hồn của bạn bị ô nhiễm, bạn thường nghĩ rằng một vấn đề mà có mặt trên thế giới là do người ta không coi trọng nó như bạn. Nhưng khi khắc phục được sự mất quân bình này, bạn sẽ hiểu ra rằng vấn đề đó cứ vẫn tiếp tục chỉ vì người ta coi trọng nó quá đáng, và như vậy họ tưởng rằng thế giới vật chất có quyền năng trên cả Tánh linh của họ. Kỳ thực, tất cả chúng ta đều là những sinh thể tâm linh, và một trong những công tác sau cùng của chúng ta trên điạ cầu là chứng tỏ rằng mọi điều kiện vật chất không thể hạn chế Tánh linh cùng sự biểu hiện Tánh linh trong thế gian. Chìa khóa của tự do là cho phép chân ngã mình biểu thị qua chính mình, để sự nô đùa của con-người-trẻ-thơ thiêng liêng được biểu lộ, vì con người đó biết rõ nó là một với Cha. Cùng với Thượng đế thì mọi chuyện đều hoàn thành.

Luân xa Gốc

Kim Base_Chakra

Thường được xem là trụ sở của sự thuần khiết, hy vọng và kỷ luật bản thân, tuy nhiên nếu hiểu sâu xa hơn, Luân xa Gốc chính là mặt tương tác giữa Tánh linh với thân thể và thế giới vật chất. Ở mức Luân xa Gốc, vấn đề đặt ra là liệu bạn có cho phép thế giới vật chất áp đảo Tánh linh, và như vậy giới hạn cách biểu đạt của bạn trong thế gian hay không. Bạn có tin rằng các điều kiện của thế gian vật chất là có thật, thường trực và bất biến, hay là bạn hiểu được mình có khả năng cởi trói quyền năng sáng tạo để gia tốc thế gian vật chất – yếu tố Mẹ – khỏi mọi hoàn cảnh hiện tại?   

Với một Luân Gốc thuần khiết, bạn sẽ gỡ mình ra khỏi ảo tưởng cho rằng hình tướng vật chất là có thật, thường trực. Và như thế, bạn không còn bị kẹt trong cái chu kỳ bất tận khiến mình luôn tìm cách thỏa mãn những ham muốn thấp kém, xác thịt, phàm phu. Thay vào đó, bạn sẽ xem thế gian chỉ là một phương tiện để phát triển khả năng tự nhận biết, qua đó bạn tự động xa lánh những sinh hoạt không phục vụ mục đích này. Nhưng đồng thời, bạn cũng hiểu sâu sắc rằng không hề có sự xa lánh, mà chỉ có sự “tâm linh hóa” mọi sinh hoạt cuộc sống.   

Khi mọi luân xa đều thuần khiết, bạn sẽ thấy ảo giác cuối cùng cần vượt qua trên hành trình tâm linh là ý niệm có sự phân cách giữa cõi tâm linh và cõi vật chất, giữa sinh hoạt tâm linh và sinh hoạt vật chất. Thay vào đó, bạn sẽ trụ trong duy nhất, và mọi việc bạn làm đều trở thành những sinh hoạt tâm linh. Làm được vậy thì cũng hoàn thành được mục đích nguyên thủy khi bạn hiện thân làm người, là gia tốc các rung động của toàn thể vũ trụ vật chất lên cao hơn để nó trở thành một phần trường cửu của cõi tâm linh. 

Những mặt tha hóa của Luân xa Gốc:

Tha hóa của Luân xa Gốc thường được xem là bợn nhơ và hỗn loạn, nhưng hiểu sâu sắc, đó là sự lầm tin rằng các điều kiện hiện tại là có thật, là điều tự nhiên phải như thế, là vượt ngoài khả năng thay đổi của mình. Bạn bắt đầu tin rằng thế gian tách hẳn khỏi cõi tâm linh, thậm chí còn có thể thuộc về ác quỷ – mình không làm sao thay đổi được thì tốt nhất nên bỏ mặc cho nó làm sao cũng được.   

Thậm chí bạn còn tin rằng mình không có quyền là một người tâm linh trong thế gian này, và không được quyền biểu hiện những đức tính tâm linh của mình trong thế gian. Thay vào đó, bạn cho rằng phải chấp nhận và thích nghi với mọi điều kiện hiện hữu, và ở cùng cực, bạn tin chắc rằng mình là một sinh thể hoàn toàn vật chất, một sản phẩm của vũ trụ vật chất, đã đến từ bụi thì phải trở về với bụi. Với tâm thức đó thì không còn hy vọng gì gia tốc lên một trạng thái cao hơn. Thế nhưng sự sống lại là sự gia tốc để không ngừng Hơn Nữa, cho nên Giê-su mới gọi tâm thức này là “chết”, có nghĩa là chết tâm linh.  

Tại sao cần quan tâm đến năng trường cá nhân?

Đa số những ai mở tâm ra với trang mạng này có lẽ đã biết về trường năng lượng bao quanh cơ thể con người, thường gọi là hào quang. Có lẽ bạn cũng biết trường này gồm có một số tụ điểm, thường gọi là luân xa, và có cả thảy 7 luân xa chính.

Bài này nhằm mô tả khái quát trường năng lượng của bạn. Riêng các luân xa thì sẽ được đề cập ở bài viết sau. Đây hiển nhiên không phải là toàn bộ giáo lý mà chỉ là một số điều tối thiểu mà bạn cần biết để sử dụng các dúng cu tu tập một cách hiệu quả.  

Quan tâm làm gì?

Như được trình bày ở vài nơi khác, các yếu tố chính hạn chế con người bạn là những tin tưởng gây giới hạn và những năng lượng có tần số thấp mà bạn đã tích lũy. Những tin tưởng và năng lượng này cất giữ ở đâu? Xin trả lời: trong trường năng lượng cá nhân của bạn, là một phần của cái mà các nhà tâm lý học truyền thống gọi là tiềm thức.

ChakrasHires

Chỉ điều này thôi cũng đủ để thấy được năng trường cá nhân của bạn ảnh hưởng lớn lao đến cảm giác thảnh thơi dễ chịu của bạn trong đời sống. Ngày nay, đa số chúng ta đều nhận thức được tầm quan trọng của vệ sinh cá nhân. Cơ thể vật lý của bạn chắc chắn sẽ đến lúc lấm bẩn, thậm chí có thể bị nhiễm vi khuẩn hay vi-rút gây ra bệnh tật. Cho nên nếu bạn ngừng giữ gìn vệ sinh cơ thể, trước hết cảm giác dễ chịu của bạn sẽ suy giảm, rồi đến lượt sức khỏe thể xác, và cuối cùng cơ thể của bạn có thể qua đời.

Thế nhưng tại sao khi cơ thể bạn bị lấm bẩn, tinh thần của bạn cũng bị ảnh hưởng và bạn cảm thấy mệt mỏi hay “bẩn thỉu”? Đó là vì mọi thứ đều là năng lượng, nghĩa là mọi bộ phận của sự sống có một thành phần năng lượng. Khi cơ thể bạn dính chất bẩn, cái cáu ghét vật chất mà bạn nhìn thấy đó chỉ là phần nổi của một tảng băng. Cáu ghét được tạo bằng một số tần số năng lượng, trong đó có những năng lượng mà mắt bạn không thể nhìn thấy. Nhưng chính những tần số vô hình này lại ảnh hưởng năng trường cá nhân của bạn.    

Vấn đề với đa số chúng ta là chúng ta lớn lên trong một xã hội không dạy dỗ gì về tầm quan trọng của các năng lượng vô hình. Nếu xã hội đã ý thức hơn thì hẳn điều này đã trở thành kiến thức phổ thông. Trong một tương lai không quá xa, sự kiện này sẽ trở thành một kiến thức phổ biến và ở học đường trẻ em sẽ được giáo dục về sự cấu tạo của xác thân vật lý lẫn của những thể năng lượng cao hơn.  

Như đã giải thích, bạn có bốn tầng trong tâm và cũng có bốn tầng trong trường năng lượng. Trong một số giáo lý, những tầng này được gọi là “bốn thể phàm”. Thực tế đơn giản là để vệ sinh cá nhân được chu toàn, bạn phải giữ cả bốn thể phàm sạch sẽ. Xà phòng sẽ giúp bạn giữ vệ sinh cơ thể, còn các dụng cụ tu tập thăng vượt sẽ giúp các thể năng lượng luôn luôn sạch sẽ.

Nói chung, đây là động lực khiến bạn muốn cảm nhận năng trường của mình nhưng có một động lực khác sâu xa hơn.

Cái nào đến trước, hào quang hay cơ thể?

Chắc bạn cũng biết câu đố quen thuộc: “Cái nào đến trước, con gà hay quả trứng?” Bạn mà suy nghĩ thì sẽ hoang mang lắm. Con gà đầu tiên bắt buộc phải đến từ một quả trứng, nhưng trứng lại do gà đẻ ra cho nên phải có một con gà khác đến trước con gà đầu tiên. May mắn thay, chúng ta không phải bối rối về mối quan hệ giữa cơ thể và hào quang.

Tất cả chúng ta đều đã lớn lên với một thế giới quan xoay quanh vũ trụ vật chất bởi vì vũ trụ đó có thể được nhận thức bởi giác quan vật lý cũng như bởi khoa học. Cách nhìn này đã được khoa học duy vật củng cố khi chủ nghĩa duy vật cho rằng ngoài vật chất ra thì không có gì khác. Nói cách khác, chúng ta đều đặt trọng tâm vào vật chất, khiến chúng ta dễ tin rằng vật chất là chất cơ bản, là nguyên nhân. Chúng ta có khuynh hướng cho rằng vũ trụ vật chất hiện hữu độc lập với tâm mình và do đó tâm có rất ít ảnh hưởng trên vật chất – tâm chỉ có thể phản ứng với vật chất chứ không thể tác động trên vật chất.

Vì vậy khi lần đầu tiên nghe nói có một năng trường bao quanh cơ thể, chúng ta rất dễ nghĩ ngay rằng năng trường này phải do cơ thể sản xuất ra, rằng cơ thể là nguyên nhân và hào quang là kết quả. Tất cả chúng ta đều được dạy rằng từ trường chung quanh thỏi nam châm xuất phát từ cái khối sắt vật lý đó, cho nên chúng ta cũng nghĩ tương tự về hào quang. Và hẳn bạn sẽ tìm được những lời dạy mô tả hào quang là sản phẩm của cơ thể.

Thế nhưng công thức đơn giản của Einstein E=mc2 đã minh chứng là cách nhìn trên không đúng với khoa học. Trong cốt lõi, công thức của Einstein bảo rằng thế giới được cấu tạo bằng duy một chất mà thôi, là năng lượng. Vật chất thực sự chỉ là năng lượng đã khoác lấy một hình dạng khiến nó hiện ra là rắn chắc và không thay đổi đối với giác quan chúng ta. Kỳ thực, năng lượng mới là chất cơ bản nằm bên dưới. Có nghĩa là năng lượng là nguyên nhân và cái mà chúng ta gọi là vật chất chỉ đơn giản là kết quả của một số hiện tượng xảy ra ở những mức sâu hơn của năng lượng lỏng.  

Như vật lý lượng tử đã chứng minh, có một cõi năng lượng với tần số cao vượt ngoài giải tần số của vật chất. Thế giới được tạo ra bằng cách lấy năng lượng cao tần đó, kéo thấp độ rung xuống, rồi một khuôn đúc sinh tạo của tư tưởng được phóng chiếu lên trên nó. Điều này có một ý nghĩa sâu xa: từ trường KHÔNG do cục sắt sản xuất ra mà cục sắt chỉ đơn giản là thành phần dày đặc nhất của một trường năng lượng rộng lớn hơn.

Con mắt vật lý của chúng ta chỉ thấy được phần dày đặc nhất của cái trường này, và đó là lý do tại sao chúng ta lẫn lộn nguyên nhân với kết quả. Sự thực là nguyên nhân nằm ở các tầng cao của năng trường, và mọi thứ thị hiện trong cõi vật chất chỉ là kết quả của những nguyên nhân mà chúng ta không thấy. Có nghĩa là cơ thể con người KHÔNG tạo ra hào quang. Hào quang là một trường năng lượng phức tạp gồm có mấy lớp, làm bằng năng lượng với tần số khác nhau, và cơ thể chỉ là cái phần đặc nhất của trường mà thôi.

Như vậy cơ thể vật lý phát xuất từ trường năng lượng. Năng lượng cấu tạo cơ thể vật lý của bạn đã đến từ một cõi cao hơn. Đầu tiên độ rung của nó bị kéo thấp xuống tầng bản sắc của tâm bạn (bản sắc thể), và ở đây nó khoác lấy một hình dạng tùy theo những tin tưởng của bạn về bản sắc mình. Với hình dạng này, năng lượng sau đó được đưa thấp xuống trí thể của bạn, nơi hình dạng đó trở nên cụ thể và chi tiết hơn. Rồi nó được đưa tiếp xuống cảm thể, và một lần nữa hình dạng càng cụ thể hơn nữa. Và cuối cùng nó được đưa xuống giải tần số rung động của vật chất nơi nó sẽ tác dụng lên cơ thể vật lý của bạn.

Hiểu biết này quan trọng ở chỗ là tất nhiên, bất cứ một tình trạng nào của cơ thể vật lý it khi có nguyên nhân ở mức cơ thể, mà nó khởi đầu là một tin tưởng gây giới hạn nơi bản săc thể, rồi nó ngày càng cụ thể hơn khi nó bị nhào nặn bởi các tin tưởng gây giới hạn nơi các thể liên tiếp sau đó: trí thể, cảm thể, xác thể. Có nghĩa là nếu bạn muốn thực sự giải quyết một tình trạng trong cơ thể thì bạn không thể chỉ tác động cơ thể, bởi vì đó là tầng kết quả, mà bạn phải tác động cả ba thể cao là tầng nguyên nhân. Hiển nhiên, đây chính là mục đích của các dụng cụ tu tập thăng vượt được đăng tải ở đây. Các dụng cụ này sẽ giúp bạn như thế nào?

Các dụng cụ thăng vượt giúp bạn thanh lọc hào quang

Hãy thử xem xét một ví dụ cụ thể. Giả sử có một anh kia mang niềm tin trong thể bản sắc rằng anh là một sinh thể tách biệt, sinh sống trong một thế giới nơi mọi người đều mải mê trục lợi, sẵn sàng dùng vũ lực để giành giựt của cải của anh. Khi năng lượng cao tần từ cái ta tâm linh xối chảy xuống thể bản sắc của anh, nó sẽ bị tô màu bởi tin tưởng đó và khoác lấy rung động của năng lượng sợ hãi.

energyaboveeps

Tin tưởng tách biệt này sẽ phối hợp với năng lượng sợ hãi, rồi được truyền xuống trí thể. Trong cấu trúc của tâm, trí thể nằm ở dưới bản sắc thể, hay nói cách khác, những gì chứa đựng trong bản sắc thể tạo ra một khung sườn và trí thể chỉ có thể hoạt động trong khung sườn đó mà thôi.

Trí thể tiếp cận với nhiều loại tư tưởng hơn là bản sắc thể, và vì vậy trí thể có thể mang nhiều tin tưởng khác nhau, trong số đó có những tin tưởng đi ngược lại hay đặt vấn đề với bản sắc thể. Tuy nhiên khi bản sắc thể càng chất chứa nhiều năng lượng sợ hãi thì mãnh lực của những tin tưởng này phóng chiếu vào trí thể sẽ càng lớn, và do đó trí thể sẽ càng khó cưỡng lại. Đây là lý do một người có thể dùng lý trí để hiểu được câu “không được làm cho người khác những gì mình không muốn người khác làm cho mình”, nhưng lại không có khả năng thể hiện câu này trong hành động. Những tin tưởng trong trí thể không làm sao cãi lại những xung lực từ bản săc thể gửi xuống.     

Sự tin tưởng rằng mình là một sinh thể tách biệt sinh sống trong một thế giới thù địch làm nảy sinh một số tin tưởng nơi trí thể. Những tin tưởng này cũng sẽ tạo ra năng lượng có tần số thấp, và một gói năng lượng sẽ lại được gửi xuống cảm thể. Một lần nữa, nếu năng lượng thấp tụ lại trong hai thể ở trên càng nhiều thì cảm thể sẽ càng có ít khả năng đi ngược lại những gì nó nhận được từ trên.

Nguyên tiến trình này được lặp lại ở mức của cơ thể vật lý là nơi mà hầu hết mọi người đều đặt trọng tâm ý thức. Kết quả là bây giờ anh kia đã trở thành một người tin như đinh đóng cột rằng mình là một sinh thể tách biệt, tin rằng mình có thể chính đáng sử dụng vũ lực hay bạo lực để tự bảo vệ trong một thế giới thù địch và vì thế anh phải không ngừng giao chiến với vô số kẻ thù có thật hay tưởng tượng.

Bây giờ giả thử anh ta có được một kinh nghiệm thức tỉnh (có lẽ vì cơ thể anh bị thương tích hay đau ốm) và anh quyết định mình sẽ thay đổi đời mình. Anh khởi sự nhìn vào tâm lý anh, xét xem tại sao mình cứ cảm thấy bắt buộc phải giao tranh với mọi người.

Nhìn khách quan, hiển nhiên là nếu anh muốn thật sự thay đổi đời anh, anh sẽ cần bước vào một tiến trình có hệ thống nhằm lật mặt những tin tưởng gây giới hạn nơi cả bốn tầng của tâm, cho đến khi anh nhận diện những niềm tin sâu xa nơi bản sắc thể và bắt đầu chuyển đổi chúng một cách ý thức. Các tin tưởng gây giới hạn này được sắp xếp thành một kim tự tháp, và ở trên cùng kim tự tháp là một cái chóp. Chóp đó là niềm tin tưởng rằng mình là một sinh thể tách biệt.  

Vấn đề là khi anh khởi sự nhìn sâu vào tâm lý mình, tâm ý thức của anh sẽ khó lòng nhìn thấy rõ ràng, lý do là vì năng lượng với tần số thấp đã tích tụ trong tiềm thức của anh. Một phần năng lượng này nằm ngay ở mức vật lý và nó che chắn khiến anh có thể khó nhìn thấy những gì xảy ra nơi cõi cảm xúc. Cũng vậy, năng lượng tích tụ ở cõi cảm xúc sẽ ngăn chặn cái nhìn của anh vào cõi tư tưởng, vân vân.

Do chúng ta sống trong một thế giới có nhiều tranh chấp, xung đột và bạo lực, rất có thể hầu hết chúng ta đã tích tụ rất nhiều những loại năng lượng thấp kém trong cả bốn tầng của tâm, hay trường năng lượng. Vì vậy rõ ràng vấn đề trước mắt là phải khởi sự vứt bớt những năng lượng này đi. Như đã giải thích ở nơi khác, cách hiệu quả để làm điều này là thỉnh cầu năng lượng cao tần từ cõi tâm linh để chuyển hóa năng lượng có tần số thấp. Đây là một trong những công dụng của các dụng cụ thăng vượt hầu tạo thêm sức mạnh cho bạn tu tập. Đặc biệt là các bài chú rất hiệu nghiệm để cầu thỉnh ánh sáng.   

Khía cạnh kia là bạn cần khởi sự phát hiện và thay đổi những tin tưởng gây giới hạn nơi bốn tầng của trường năng lượng của bạn. Và một lần nữa, các dụng cụ thăng vượt được lập ra để giúp bạn thực hiện điều này. Các bài cầu thỉnh sẽ đặc biệt thích hợp cho công việc đó. Tất nhiên, việc học hỏi giáo lý tâm linh và tâm lý cũng nằm chung trong tiến trình này.

Bạn cần ý thức rõ vấn đề chủ yếu ở đây. Năng lượng của bạn có một cấu trúc thứ bậc trên dưới. Đối với hầu hết mọi người, tâm ý thức thường đặt trọng điểm nơi tầng của cơ thể và tâm vật lý, nhưng đây là tầng thấp nhất, tầng của kết quả. Bạn chỉ có thể thành công thăng vượt các giới hạn nơi thể này bằng cách đi vào những tầng cao hơn là tầng của nguyên nhân. Đó là tại sao bạn có thể lợi lạc rất nhiều khi bạn phát huy sự nhận biết của mình về năng trường và thanh lọc năng trường này.

Các dụng cụ thăng vượt giúp bạn bảo vệ hào quang

Nếu bạn đã từng theo học một khóa cấp cứu, hẳn bạn cũng biết nguyên tắc đầu tiên của cấp cứu là phải ngăn chặn tai nạn. Khi trên xa lộ xảy ra một tai nạn, công việc đầu tiên của người cấp cứu KHÔNG PHẢI là chăm sóc người bị thương mà là bảo đảm không cho có tai nạn khác xảy ra gây thêm thương tích. Đối với hào quang của bạn cũng vậy.

Việc thanh lọc hào quang đương nhiên là quan trọng, nhưng quan trọng không kém là phải bảo vệ cho nó không nhận thêm năng lượng ô uế. Bạn sống trong một thế giới nơi tất cả đều là năng lượng. Bất kỳ tình huống nào mà bạn gặp trong đời, bạn sẽ phải bước chân vào một “bát cháo năng lượng”. Bạn ưa cái gì thì cái đó cũng ưa bạn. Cho nên nếu bạn mang năng lượng nóng giận trong hào quang, nó sẽ thu hút thêm năng lượng nóng giận từ hào quang của người khác, hay thậm chí từ cả trường năng lượng tập thể bao quanh toàn địa cầu.   

Bạn cũng nên lưu ý rằng song song với sự tranh giành của cải vật chất, còn có sự tranh giành năng lượng. Có những người sẽ cố đánh cắp năng lượng tâm lý hay năng lượng sống của bạn. Lại có những người khác cố kiểm soát bạn bằng cách phóng ra năng lượng với tần số thấp vào hào quang của bạn.

Bạn có thể nhận thấy điều này: tại một số nơi bạn cảm thấy như có sự rung động dữ dội hơn, kích động hơn bình thường, trong khi tại một số nơi khác sự rung động bình thản, êm ả, sảng khoái hơn. Bạn cũng có thể nhận thấy sau khi đi mua sắm ở đâu đó, bạn cảm thấy mệt mỏi, như mất sức sống vậy. Đó một phần là do bạn đã tiếp thu năng lượng có tần số thấp từ những người chung quanh, và phần khác vì họ đã rút mất năng lượng cao tần khỏi hào quang bạn.

Vậy đâu là chìa khóa để cải thiện vấn đề này? Trong ngắn hạn, bạn cần cầu thỉnh ánh sáng cao tần để tạo thành một vòng chắn năng lượng chung quanh hào quang mình. Chắc hẳn bạn đã từng xem phim khoa học viễn tưởng có những chiếc phi thuyền không gian được bao bọc bởi một vòng chắn vô hình mà đạn dược với tia laser không thể xuyên thủng. Bạn cũng vậy, bạn muốn có một tấm khiên chung quanh hào quang của mình.

Dạng năng lượng cao tần hiệu quả nhất để bảo vệ bạn là năng lượng của tia sáng thứ nhất, màu xanh lam. Nơi tia sáng thứ nhất có hai đấng tâm linh có thể giúp bạn thiết lập một vòng chắn bảo vệ chung quanh hào quang. Đó là Đại thiên thần Michael và Elohim Hercules. Bạn có thể tìm thấy những bài chú hai vị thày này ở mục Bài chú. Trong mục những bài Cầu thỉnh, bạn cũng có thể tìm thấy một bài cầu thỉnh Đại thiên thần Michael rất hiệu nghiệm để cầu thỉnh sự bảo vệ của thày.

Vòng chắn bảo vệ chung quanh hào quang bạn có hai chức năng. Nó có rung động thanh cao đến độ bất cứ gì mang rung động thấp hơn sẽ không thể xuyên qua được, có nghĩa là năng lượng thấp không thể xâm nhập hào quang của bạn và đồng thời những năng lượng cao cũng khó lòng bị cưỡng hút ra ngoài.   

Nhưng bạn cần ghi nhớ rằng năng lượng là sóng, vì thế nó vận hành như mọi loại sóng khác. Khi một làn sóng năng lượng thấp đập vào lá chắn, nó giao thoa với năng lượng của lá chắn, tạo ra một mô thức giao thoa. Kết quả là năng lượng thấp được nâng cao độ rung và được vô hiệu hóa. Nhưng đồng thời, năng lượng của lá chắn cũng phần nào bị hạ thấp độ rung, không còn bảo vệ bạn hữu hiệu như trước đó.  

Nói cách khác, khi bạn sinh hoạt trong ngày, cái lá chắn mà bạn đã thỉnh cầu sẽ lần hồi bị vữa ra (tốc độ phân rã tùy thuộc vào khối năng lượng thấp có mặt trong môi trường xung quanh). Cho nên bạn có nhu cầu củng cố lá chắn một cách thường xuyên. Để thực sự bảo đảm một tấm khiên bảo vệ hữu hiệu, bạn cần thỉnh cầu năng lượng lửa xanh mỗi ngày.

Quyền tự quyết có thể làm yếu ánh sáng mà bạn thỉnh cầu

Điều quan trọng mà bạn cần hiểu là giữa các chân sư thăng thiên và các thế lực thấp kém có một sự khác biệt thiết yếu. Các chân sư thăng thiên tôn trọng quyền tự quyết của bạn một cách tuyệt đối, nghĩa là các thày sẽ KHÔNG BAO GIỜ đi ngược lại những lựa chọn của bạn. Xin đưa ra một ví dụ.

Giả thử bạn đọc lời chú mỗi ngày để cầu thỉnh vòng chắn quanh hào quang của mình. Khi bạn đọc chú, vị chân sư đỡ đầu bài chú – chẳng hạn Đại thiên thần Michael – sẽ phóng ra một lượng ánh sáng cho bạn. Một khi bạn đã nhận được năng lượng thì nó vượt ngoài tầm kiểm soát của thày và bạn có toàn quyền sử dụng theo ý muốn.  

Lấy ví dụ một người ham thích vào quán bar nhậu nhẹt. Anh ta cũng có sở thích tâm linh và biết được bài chú. Anh cầu thỉnh Đại thiên thần Michael và thày trao cho anh một số năng lượng che chở. Xong anh khám phá mình có thể đi chơi quán bar mà không cảm thấy khổ não gì sau đó. Anh bèn tiếp tục đi nhậu và cùng lúc anh cũng cầu thỉnh năng lượng tâm linh để bảo vệ anh khỏi những hậu quả của hành vi mình.  

Việc rải truyền năng lượng tâm linh tuân theo một quy luật đơn giản mà Giê-su đã minh họa qua ngụ ngôn về các ta-lăng. Câu chuyện kể rằng có người chủ kia sắp sửa đi xa, trao cho ba người giúp việc mỗi người một số tiền ta-lăng. Khi chủ trở về, ông hỏi họ đã làm gì với ta-lăng của họ. Trong khi có hai người đã tăng trưởng số ta-lăng và được chủ tưởng thưởng thì người thứ ba lại đem ta-lăng mình chôn cất dưới đất. Và người đó bị chủ lấy lại.

Khi chân sư thăng thiên ban cho bạn ánh sáng, mục đích của thày là bạn sẽ sinh sôi nẩy nở ánh sáng đó và sử dụng ánh sáng để có những chọn lựa không còn hạn chế mình. Nếu bạn dùng ánh sáng để tiếp tục có những chọn lựa gây giới hạn, điều đơn giản sẽ xảy ra là chân sư sẽ từ chối ban cho bạn thêm ánh sáng dù bạn có đọc nhiều bài chú đến đâu đi nữa.     

Một điều quan trọng nữa là cách sử dụng quyền tự quyết của bạn có thể vô hiệu hóa vòng chắn của bạn. Như trong trường hợp bạn dùng dụng cụ thăng vượt để cầu thỉnh năng lượng thanh cao của tình thương được lưu trữ trong hào quang. Nếu bạn có vòng chắn bảo vệ, không ai có thể cưỡng bức bạn mà lấy nó đi và không một mãnh lực nào có thể cưỡng hút ra khỏi hào quang của bạn. Thế nhưng nếu bạn có hành động thiện cảm đối với một người nào đó thì sự chọn lựa này của bạn sẽ tạo ra một lỗ hổng trong vòng chắn. Có thể nói, dù vòng chắn tâm linh sẽ che chở bạn khỏi các thế lực bên ngoài, nhưng nó không thể che chở bạn khỏi chính bạn.   

Điều muốn nói ở đây là bạn không thể cầu thỉnh năng lượng tâm linh rồi cứ thế chắc bụng rằng mình không cần phải ý thức về những chọn lựa của mình hay về môi trường chung quanh. Mục đích cầu thỉnh sự bảo vệ tâm linh là để trấn tĩnh trường năng lượng. Khi năng trường bớt rối loạn, tầm nhìn của bạn sẽ sáng rõ hơn. Bạn sẽ phát triển khả năng nhận thức được những sinh hoạt nào khiến cho năng lượng thanh cao bị hút mất và sinh hoạt nào khiến cho năng lượng thấp kém xâm nhập vào năng trường. Và dần dần, khả năng này sẽ trở thành nền tảng giúp bạn có những chọn lựa thuận lợi cho sự tinh tấn tâm linh, cho đến khi bạn không cần sự bảo vệ đó nữa.     

Dụng cụ thăng vượt giúp bạn tái lập dòng năng lượng sống

Hầu hết chúng ta đã thu nạp quá nhiều năng lượng thấp và quá nhiều điều tin tưởng gây giới hạn đến độ ánh sáng từ cái ta tâm linh không thể chảy ở dạng thuần túy qua các năng trường của chúng ta. Hào quang chúng ta không đầy ắp năng lượng cao tần, với hệ quả là có những khoảng trống trong hào quang. Có lẽ bạn đã từng nghe câu nói: “Thiên nhiên không thích khoảng trống”, ý là khi có nơi nào trống trải thì lập tức sẽ có cái gì đó nhảy vào lấp đầy.

Nhưng khi bạn dùng các dụng cụ thăng vượt, bạn sẽ lần hồi thanh lọc hào quang mình không còn những năng lượng với tần số thấp lẫn những tin tưởng gây giới hạn nữa. Kết quả là hào quang trở lại trạng thái tự nhiên, có nghĩa năng lượng cao tần từ cái ta cao hơn của bạn có khả năng chảy xuyên qua bạn một cách thông thoát, không còn bị những thứ chất chứa trong hào quang ngăn trở hay giảm thiểu.

Thật vậy, trong trạng thái tự nhiên, hào quang vận hành giống như một mặt trời. Có quá nhiều năng lượng thanh cao chảy xối qua đến nỗi không còn chỗ nào cho những năng lượng thấp kém tích tụ lại. Và bất kỳ năng lượng nào do người khác phóng vào bạn cũng tự nhiên được chuyển hóa, tương tự như khi bạn ném bất cứ vật gì vào mặt trời thì vật đó cũng sẽ bị ánh sáng toát ra từ mặt trời thiêu hủy.  

Khi bạn đạt đến trạng thái tự nhiên này, không những bạn sẽ được bảo vệ mà bạn còn có khả năng sử dụng năng lượng cao tần chảy xuyên qua bạn để làm phong phú thêm cuộc sống của mọi người. Bạn sẽ biến thành một mặt trời luôn tỏa ra ánh sáng một cách hoàn toàn vô vị lợi cho mọi sự sống chung quanh. Và khi ngày càng có nhiều người trở thành những mặt trời sống như thế, toàn thể hành tinh sẽ được nâng lên.   

Bạn hãy giữ hình ảnh trí tuệ này trong tâm mình. Và cũng không kém trí tuệ là khi bạn hiểu được rằng tiến trình nói trên sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực kiên trì hầu thăng vượt mọi năng lượng và niềm tin đang làm nghẽn dòng chảy của năng lượng qua hào quang mình. Và bước kế tiếp là phải tìm hiểu những trung tâm năng lượng trong hào quang.   

Sứ vụ Thiêng liêng hầu vươn lên trên xấu ác

Nếu bạn cảm thấy muốn giúp hành tinh này thoát khỏi những hành vi hung ác vừa kể, hẳn bạn đã thấy con đường duy nhất để thực hiện điều này. Vì luật tự quyết, bạn không thể ép buộc người khác từ bỏ cách hành xử vô minh của họ. Bạn có thể cố gắng soi sáng họ, nhưng cách hay nhất là truyền đạt qua sự làm gương. Cho nên việc tiên khởi là bạn cần nâng cao tâm thức chính mình và trầm mình trong tâm Ki-tô. Khi bạn thanh lọc tâm mình, bạn sẽ loại bỏ những yếu tố có thể mở đường cho tà lực xâm nhập vào tâm thức. Bạn sẽ đạt được trạng thái bất khả xâm tâm linh mà Giê-su nói tới trong câu, “Ông hoàng của thế gian đến nhưng không thể nắm được gì trong ta” (John 14:30).    

Nâng cao tâm thức không phải là một phương cách thụ động chỉ nhắm vào chính mình. Như đã giải thích, bản chất của sự sống là tính duy nhất. Tâm và trường năng lượng cá nhân của bạn hiện hữu bên trong môi trường rộng lớn là tâm tập thể và trường năng lượng của hành tinh. Khi bạn nâng cao tâm thức, bạn không thể tránh khỏi kéo cả toàn thể đi lên, và chỉ khi tâm thức tập thể nâng cao thì một số biểu hiện vô minh mới được loại trừ khỏi trái đất.  

Giê-su hiểu rõ nguyên tắc này, vì vậy thày mới nói, “Và nếu ta thăng lên khỏi địa cầu, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta” (John 12:32). Bây giờ bạn đã thấy rõ mình có tiềm năng nhập vào tâm Ki-tô và làm những việc Giê-su đã làm. Cho nên việc lớn nhất mà bạn có thể đóng góp cho tương lai địa cầu là đặt trọng tâm vào quả vị Ki-tô cá nhân mình. Nhờ đó, bạn sẽ nâng cao tối đa tâm thức tập thể và trở thành cánh cửa rộng mở, đem lại giải pháp mới cho những vấn đề cũ. Khi có đủ túc số những người cũng thực hiện được điều này, ánh sáng tập thể của họ trở thành ánh bình minh khai mào một kỷ nguyên mới tốt đẹp hơn.  

Trước khi bạn ra đời đầu thai, bạn đã cùng với các vị thày tâm linh của bạn thảo ra một Sứ vụ Thiêng liêng cho kiếp này. Sứ vụ đó bao gồm mục đích toàn bộ khi Hiện diện Ta Là của bạn gửi bạn xuống thế gian. Nó thể hiện cá thể thiêng liêng của bạn, là món quà tâm linh đặc biệt, là ngọn lửa tâm linh mà chỉ có bạn mới đem lại được cho địa cầu. Như Giê-su có nói, “Hãy để cho ánh sáng của con chiếu sáng trước mọi người, để họ thấy được việc lành của con và tôn vinh Cha con ở trên trời” (Matthew 5:16). Ấy thế nhưng khi bạn bị rơi xuống một tâm thức thấp kém, bạn đã gây nghiệp với người khác, đã chấp nhận những tin tưởng sai lầm và đã lạm dụng năng lượng. Vì vậy một phần quan trọng trong những mục tiêu của bạn trong kiếp này sẽ là khắc phục quá khứ bằng cách đi theo con đường tâm linh được phác họa trên trang mạng này.

Bạn nên biết trong số những người tâm linh nhất, có nhiều người có tiềm năng quân bình được nghiệp quả và giải quyết mọi tin tưởng bất toàn để thăng hoa vĩnh viễn sau kiếp này. Và chính vì bạn khao khát thăng hoa, rất có thể bạn đã nhận chịu vô số thử thách cam go. Có thể nói bạn đã cố tình chọn trả càng nhiều nghiệp quả, chuốc lấy càng nhiều vấn đề càng tốt để trang trải cho xong và giành được sự tự do vĩnh viễn.       

Bạn cũng nên biết, nhiều người tâm linh đã tự nguyện gánh lấy nghiệp quả cùng năng lượng tha hóa và tin tưởng bất toàn của tâm thức đại chúng hoặc của một số cá nhân khác. Điều này giải thích phần lớn những gánh nặng mà bạn đã nhận lãnh, nhưng xin bạn hãy nhớ, bạn không đầu thai chỉ để gánh chịu suốt đời, Sứ vụ Thiêng liêng của bạn phần nào là để chứng tỏ cho mọi người thấy tiềm năng mà mỗi người đều có để vươn lên khỏi những giới hạn thế phàm qua sự cải tiến tâm thức. Cho nên nếu bạn thực sự gắng sức, bạn sẽ khắc phục được mọi khó khăn và minh chứng con đường thoát khỏi bóng tối, bước vào ánh sáng.     

Tóm lại, rất có thể trong Sứ vụ Thiêng liêng của bạn có cả ý muốn theo đuổi con đường quả vị Ki-tô cá nhân hầu chứng minh cho người khác. Và thật vậy đối với nhiều người, việc xem mình là Giê-su để bước đi theo gương thày là một chuyện rất khó khăn. Nhưng nếu họ có thể thấy được hàng ngàn người thời nay chứng thực được con đường đó, thì họ sẽ thức tỉnh và nhận ra tiềm năng tâm linh của họ.    

Do mối liên hệ giữa tâm thức và vật chất, hiển nhiên mỗi vấn đề trên địa cầu là sự phản ánh của tâm thức tập thể trong nhân loại. Cho nên cách hữu hiệu duy nhất để giải quyết bất cứ vấn đề gì là nâng cao tâm thức tập thể. Nhưng trên thực tế, chỉ có 10% dân số, là những người đứng đầu nhân loại mới có thể thực hiện được điều đó. “Đứng đầu” ở đây không có nghĩa là giàu có hay có địa vị cao nhất trong xã hội, mà là trưởng thành nhất về tâm linh cùng tâm thức Ki-tô.  

Phần lớn dân số nhân loại, khoảng 80%, đã bị tâm thức đại chúng áp đảo đến độ họ chỉ biết đi theo, hoặc đi theo số 10% ở trên cùng, hoặc đi theo số 10% ở dưới cùng tức những người có tâm thức thấp nhất. Những người này thường ham muốn quyền lực và họ lập thành một lớp thượng lưu quyền lực đã gây ra hầu hết các tội ác trong lịch sử chỉ vì họ áp dụng châm ngôn cố hữu của triết lý nhị nguyên, là cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Để chống cự lại tầm ảnh hưởng của họ, số 10% ở trên cùng cần nâng cao tâm thức rồi làm chứng cho sự thật thăng vượt mà họ đã nhìn thấy. Nhờ đó tâm thức tập thể sẽ dâng lên, và một khi sự thay đổi xảy ra, một số vấn đề đặc thù sẽ không thể chấp nhận được nữa và các điều kiện trong xã hội sẽ bắt đầu cải hóa. Đó chính là phương cách mà thể chế dân chủ đã ra đời, hay chế độ nô lệ được chính thức bãi bỏ. Không một vấn đề nào có thể tự dưng biến mất mà tâm thức không nâng cao. Bạn phải bắt đầu bằng một người, là chính BẠN. Cho nên câu hỏi duy nhất còn lại là, “Liệu tôi sẽ chọn là Ki-tô, hay tôi sẽ chọn không là Ki-tô?”

Tại sao thế giới lại có xấu ác?

Nhà tâm lý học M. Scott Peck kể rằng suốt mấy thập niên hành nghề, nhiều người đã hỏi ông, “Tại sao thế giới lại có xấu ác?” nhưng không ai từng hỏi ông câu hỏi cũng không kém hợp lý, “Tại sao thế giới lại có tốt thiện?”… cứ như thể là ai nấy đều biết thế giới căn bản là tốt thiện và sự xấu ác chỉ là một điều không bình thường.

Dựa trên bài viết trước, rõ ràng xấu ác là kết quả của tâm thức phản Ki-tô đã tạo điều kiện cho con người tách biệt khỏi mục đích và quy luật của Thượng đế. Nó đã giam hãm con người sau một tấm màn ảo tưởng, từ đó phát sinh ra nhiều hình thức hành vi ích kỷ. Do con người không nhìn thấy được bản chất duy nhất của sự sống nên cứ tưởng mình có thể làm hại người khác mà không tổn thương gì đến mình. Người ta đặt ra những định nghĩa riêng của mình về thiện và ác, khiến họ có thể tin rằng Thượng đế sẽ thưởng công cho họ khi họ giết hại tín đồ của một tôn giáo khác. Thật ra, họ không biết gì hơn nên cũng chẳng làm gì được hơn.

Tâm phản Ki-tô là chọn lựa đi kèm với quyền tự quyết và nó sẽ luôn luôn là sự cám dỗ cho bạn cho tới khi bạn đạt đến bản sắc cao nhất là sự nhận biết mình là con của Thượng đế, là chính Ki-tô hiện thân. Ngay đến Giê-su mà còn bị ác quỷ cám dỗ khi thày khởi sự sứ mạng của thày. Cho nên xấu ác không phải do Thượng đế tạo ra, nó không phải là đối cực của Thượng đế, và nó không cần thiết để thiên ý được hoàn thành. Trái lại, xấu ác là kết quả của một lựa chọn, một lựa chọn thiếu hiểu biết. Nó phát xuất từ sự vô minh, nhưng không phải vô minh trong nghĩa dốt nát mà một hình thức cố tình vô minh khi chính mình tạo ra ảo tưởng rằng hành vi của mình không có gì xấu ác.  

Điều này giải đáp một câu hỏi nữa, đó là tại sao Thượng đế lại cho phép rắn có mặt trong Vườn Eden. Trong định nghĩa rộng nhất của rắn, đó là biểu tượng cho tâm phản Ki-tô, là cám dỗ mà người đồng sáng tạo phải đối mặt trước khi đạt quả vị Ki-tô trọn vẹn, như Giê-su đã từng đối mặt. Nhưng rắn còn có một ý nghĩa cụ thể hơn, là biểu tượng cho những kẻ đồng sáng tạo đã cố tình phản nghịch lại quy luật Thượng đế và đang cố ngăn cản mục đích của Thượng đế thành hình.   

Những bài trước đã có trình bày về tiến trình sáng thế khi Thượng đế sinh tạo ra một số bầu cõi trong hư không. Một bầu cõi tân lập chỉ có một lượng ánh sáng hạn chế, tạo cơ hội cho tâm phản Ki-tô có mặt ở đó. Vì bóng tối còn quá dày đặc nên các ảo tưởng của tâm phản Ki-tô chưa bị lộ nguyên hình. Nhưng khi bầu cõi gia tăng ánh sáng đến một mức quyết định, nó sẽ thăng lên một độ rung cao hơn và ánh sáng sẽ mạnh mẽ đến độ không còn bóng tối nào có thể hiện hữu. Khi đó, tâm phản Ki-tô sẽ không thể tồn tại vì không còn vùng tối nào nữa cho nó ẩn nấp.  

Bầu cõi có thăng lên được là nhờ đa số dòng sống ở đó cũng đã thăng lên. Tuy nhiên vì mỗi người có quyền tự quyết, cho nên không có gì bảo đảm mọi người trong bầu cõi đều đồng ý hay tham gia tích cực vào tiến trình đó. Rất có thể là vẫn còn một số dòng sống bám víu vào những ảo tưởng của tâm phản Ki-tô. Luật tự quyết cho phép họ cứ tiếp tục trong tâm trạng đó một thời gian, nhưng khi bầu cõi thượng thăng, họ không thể ở lại với bầu cõi nếu họ vẫn bám mắc vào ảo tưởng. Họ sẽ phải đi tới một nơi nào khác, tức là một nơi còn đủ bóng tối để dung thứ ảo tưởng tách biệt của họ. Cụ thể, điều này có nghĩa là họ sẽ phải đi xuống bầu cõi mới lập, tức là bầu cõi được sinh tạo tiếp theo sau khi bầu cõi trước đã thăng thiên. Tiến trình này được mô tả trong Kinh thánh:

“Tôi lại nghe có tiếng nói lớn trên trời rằng: Bây giờ sự cứu rỗi và sức mạnh đã đến, cùng với vương quốc Thượng đế chúng ta và quyền năng đấng Ki-tô của ngài, vì kẻ buộc tội anh em chúng ta, kẻ đã ngày đêm buộc tội anh em trước mặt Thượng đế, nay đã bị quăng xuống rồi.

“Anh em đã khắc phục nó bằng huyết Chiên Con và bằng lời chứng của mình; anh em chẳng tiếc đời sống của mình cho đến chết.

“Bởi vậy, hỡi các tầng trời và các đấng ở đó, hãy vui mừng đi! Khốn nạn thay cho các cư dân của đất và biển, vì ác quỷ đang giận dữ đến cùng các người, bởi vì nó biết thời gian của nó chỉ còn ngắn thôi” (Khải huyền 12).

Đoạn trích hơi khó hiểu ở trên mô tả những gì xảy ra khi bầu cõi ở ngay trên vũ trụ vật chất chúng ta thượng thăng để nhập cõi tâm linh. Những kẻ đồng sáng tạo còn dính mắc tâm phản Ki-tô và từ chối thăng hoa, bắt buộc phải đi xuống vũ trụ vật chất. Họ đầu thai trên địa cầu và điều này giải thích tại sao lại có một số người hình như hoàn toàn quyết tâm xấu ác trên hành tinh chúng ta. Hơn thế nữa, họ lập thành một “thế lực” xấu ác ẩn nấp đằng sau tấm màn những năng lượng tha hóa mà nhân loại đã tạo nên, và họ tìm cách khuynh loát những con người đang hiện thân. Các sinh thể không xác này có mặt trong trường năng lực bao quanh trái đất, và họ có khả năng ảnh hưởng nhân loại qua tự ngã của nhân loại. Đó là tại sao những tin tưởng nhị nguyên cùng năng lực tha hóa đang nuôi dưỡng tự ngã của bạn là những cánh cửa để họ xâm nhập vào tâm thức bạn. Và điều này giải thích tại sao nhiều khi chúng ta có thể mất kiểm soát đời mình.      

Điều quan trọng nhất cần hiểu là các sinh thể này đã bị cắt đứt khỏi nguồn năng lựợng xối xuống từ bản ngã tâm linh của họ. Vì vậy họ không thể nhận được năng lượng trực tiếp từ trên, mà họ chỉ có thể sống còn bằng cách đánh cắp năng lượng từ những người vẫn còn giữ liên hệ với cái ta tâm linh của mình. Đó là tại sao một số người, cũng như một số hồn không xác, luôn tìm cách xúi giục nhân loại có những hành vi tha hoá năng lương. Bởi chỉ khi nào độ rung năng lượng bị kéo xuống thấp thì họ mới có thể thấm hút vào bản thân họ.  

Và đây là lời giải thích cho những hành vi tàn bạo tồi tệ nhất mà hành tinh này có thể chứng kiến, như những cuộc chiến vô nghĩa, lạm dụng tình dục trẻ em, hiếp dâm, giết người hàng loạt cùng đủ loại tội ác dã man khác. Khi bạn nhìn vào những hành vi đó, hẳn bạn sẽ nghĩ, “Tại sao người ta làm những chuyện đó, mục đích là gì?” Thật sự, những kẻ làm vậy chẳng có mục đích gì hết. Chẳng qua tâm trí họ đã bị tạm thời – thậm chí, vĩnh viễn – chiếm đoạt bởi một thế lực đang khuynh loát họ với mục tiêu duy nhất là sản xuất cái năng lượng tha hóa mà nó cần hầu sống sót.

Bởi thế cho nên phần lớn những xung đột giữa con người với nhau kỳ thực chỉ là một cuộc chiến tranh giành năng lượng tâm linh. Những kẻ không thể nhận được năng lượng tự trong bản thân bắt buộc phải đi lấy cắp từ những ai vẫn còn nhận được. Kẻ bần cùng phải lấy từ những người có của.   

Trái cây của hiểu biết thiện ác

Câu chuyện Vườn Eden trong Kinh thánh chứa đựng nhiều biểu tượng về sự lựa chọn giữa tâm Ki-tô và tâm phản Ki-tô xảy ra trong nội tâm mỗi người. Thượng đế được mô tả trong chuyện kỳ thực là một vị chân sư tâm linh đã chứng đạt tâm Ki-tô toàn vũ, cho nên thày đại diện cho đấng Ki-tô toàn vũ. Chân sư là vị thày dẫn dắt Adam và Eva – biểu tượng cho một số đông những người đồng sáng tạo – trên đường tu đạt quả vị Ki-tô cá nhân. Nhóm người đồng sáng tạo đó khởi sự với một khả năng tự nhận biết hạn chế và một bản sắc sinh thể tách biệt, nhưng đường tu tập sẽ đưa họ hợp nhất với nguồn cội, tìm lại bản sắc chân thực là những đứa con của Thượng đế. Kinh thánh có nói về Ki-tô như vầy, “Thế nhưng người nào mà tiếp nhận ngài, ngài sẽ ban cho quyền năng trở thành con Thượng đế” (John 1:12). Cho nên con đường dẫn đến quả vị Ki-tô cũng là Con đường của Duy nhất.

Trên chặng đường tâm linh, học trò phải đối mặt và khắc phục được cám dỗ dùng tâm phản Ki-tô để tách mình ra khỏi vị thày và nguồn cội của mình, và thay vào đó tìm cách hợp nhất với nguồn cội. Điều này được biểu tượng qua “trái cây của hiểu biết thiện ác” trong vườn Eden. Chìa khóa để lãnh hội ẩn ý đằng sau biểu tượng này là nhận ra một sự khác biệt vi tế nhưng thiết yếu. Với tâm Ki-tô, bạn nhìn thấy rõ Đấng Sáng tạo là nguồn gốc của tất cả, tức là có một thực tại duy nhất nằm bên dưới những hình dạng muôn vẻ. Bạn thấy được mục đích của Đấng Sáng tạo và lợi ích cho bản thân mình khi mình tuân thủ quy luật của ngài. Bạn cũng thấy cái ta cao hơn của mình đã quyết định tạo ra cái Ta Biết để góp phần vào tíến trình sáng tạo của Thượng đế. Vì thế không hề có mâu thuẫn nào giữa mục đích của Đấng Sáng tạo và những ước muốn cao quý của bạn.

Trong tâm Ki-tô có một tiêu chuẩn tuyệt đối để phân biệt thiện hay ác, đó là chân hay giả. Tâm Ki-tô biết rõ điều chân là hợp nhất với mục đích cùng quy luật Thượng đế, còn điều giả là tách rời khỏi mục đích lẫn quy luật Thượng đế.

Khi bạn nhìn thế giới với tâm phản Ki-tô, bạn không thể nhận ra tính duy nhất nằm ẩn dưới mọi sự sống cùng mục đích và quy luật Thượng đế. Tức là tâm phản Ki-tô không thể nhìn thấy thực tại, mà nó chỉ nhìn thấy một hình ảnh của thực tại do nó dựng ra, phóng chiếu lên thực tại. Điều này được nhấn mạnh trong hai điều răn đầu trong số mười điều răn, “Con không được có thần nào khác trước ta. Con không được làm bất cứ tượng chạm nào cho con” (Exodus 20). Ý muốn nói rằng khi bạn nhìn thế giới với tâm phản Ki-tô, bạn tạo ra một hình tư tưởng về Thượng đế mà bạn muốn thấy, xong bạn phóng chiếu hình ảnh đó lên Thượng đế, để rồi bạn thờ phượng một thần tượng, làm che mất Đấng Sáng tạo chân chính vượt mọi hình tướng.  

Trong tâm phản Ki-tô, không có tiêu chuẩn tuyệt đối nào để phân biệt thiện và ác, mà trái lại thiện ác trở thành những khái niệm tương đối, chỉ tồn tại trong mối quan hệ với nhau. Thiện là đối nghịch của ác, và ác là đối nghịch của thiện. Ấy vậy mà tâm phản Ki-tô lại cố định nghĩa cả thiện lẫn ác, nhưng cả hai đều xa rời thực tại, và cái thiện của phàm phu không làm sao đồng điệu được với cái thiện tuyệt đối của Thượng đế. Chính vì cái nhìn này mà con người có thể tạo ra một tấm màn ảo tưởng chia cách họ với nguồn cội, rồi họ quên luôn nguồn cội đó. Đấy cũng là lý do họ có thể tin rằng mình là những con thú thông minh thay vì là những đấng tâm linh, hay là những kẻ tội lỗi đốn mạt thay vì là con của Thượng đế. Thậm chí, họ còn tin rằng họ là những con người rất sùng đạo, bảo đảm sẽ được cứu rỗi mai hậu, trong khi họ vẫn bị giam trong cái tâm tách biệt, không làm sao bước vào Nước Trời ở ngay tâm họ bây giờ.

Đó là tại sao Giê-su nói đến con đường chân và con đường giả như sau: “Con hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng với đường lớn dẫn đến hủy diệt, mà kẻ vào đó lại nhiều. Song cửa hẹp với đường chật mới dẫn đến sự sống, và kẻ tìm được thì ít.” (Matthew 7) 

Đây là một điều mà bạn cần tận tình suy ngẫm cho đến khi hoàn toàn nhập tâm. Lý do là vì bạn đã lớn lên trong một xã hội bị tâm phản Ki-tô ảnh hưởng bằng nhiều cách rất tinh vi. Nhiều cơ chế đủ loại trong xã hội đã có thể tự ý định nghĩa thế nào là “sự thật” mà họ cam đoan là không thể sai lầm. Chính vì có quá nhiều đoàn nhóm tuyên bố mình nắm giữ “sự thật” chắc nịch như thế – thay vì tìm về chân lý Thượng đế trong viễn kiến trong suốt – mà hành tinh chúng ta phải chứng kiến vô số xung đột dường như không cách nào giải quyết. Những “sự thật” đó do con người tạo ra khiến cho hai nhóm thù địch có thể giết hại lẫn nhau nhân danh cùng một Thượng đế. Nhưng đây không do tôn giáo sai lầm mà do loài người thực hành tôn giáo sai lầm.  

Thực tế là mọi vấn nạn hiện nay trên địa cầu đều do con người bị mù quáng bởi tâm phản Ki-tô. Và có quá nhiều vấn nạn và xung đột dường như vô phương cứu chữa là vì con người tiếp tục nhìn tình thế với cái tâm phản Ki-tô chỉ biết lý luận nhị nguyên, tương đối. Có một quy luật ngàn đời nói rằng bạn không thể giải quyết một vấn đề với cùng cái tâm thức đã tạo ra vấn đề. Mỗi vấn nạn trên địa cầu đều có cách giải quyết cả, nhưng để tìm thấy cách giải quyết tốt nhất đó, bạn phải trước hết nâng tâm thức mình lên cao hơn cái tâm thức đã gây ra vấn nạn. Và bởi vì mọi vấn nạn đều xuất phát từ tâm phản Ki-tô cho nên bạn phải vươn lên tâm Ki-tô trước tiên. Chính vì vậy mà Giê-su mới nói, “Trước tiên con phải quăng cây đà khỏi mắt mình, rồi con mới thấy rõ để lấy hạt bụi khỏi mắt anh em” (Matthew 7:5).   

Hiện nay có hàng triệu người đã tình nguyện đầu thai vào đúng thời điểm này trong lịch sử vì họ mong muốn giải quyết những vấn đề tràn lan trên địa cầu, giúp đưa địa cầu vào một kỷ nguyên mới tốt đẹp hơn, hay ngay cả một Thời Hoàng kim hoà bình thịnh vượng. Tuy nhiên để điều này thành hình, nhân loại phải học đầy đủ bài học mà đáng lý đã phải học từ Giê-su và sứ mệnh của thày khi trước. Bài học căn bản là bạn có một chọn lựa khác hơn là cái “sự thật” tương đối, nhị nguyên của tâm phản Ki-tô. Tâm phản Ki-tô chỉ biết suy nghĩ trong đối cực hai bên, một bên phải đúng và bên kia phải sai. Nhưng Giê-su dạy rằng khi nào cái nhìn còn bị chia đôi thì cả hai đối cực đều không đúng, “Ánh sáng của thân thể là con mắt; cho nên khi mắt con đơn nhất, toàn thân con cũng sẽ tràn ngập ánh sáng; nhưng khi mắt con xấu ác, thân con cũng sẽ tràn ngập bóng tối.” (Luke 11:34)

Con mắt xấu ác chính là viễn kiến bị phân chia giữa hai đối cực tương đối của tâm phản Ki-tô. Cho nên để hoàn thành Sứ vụ Thiêng liêng cá nhân, bạn phải trước hết nâng cao tâm thức hầu bắt đầu nhìn vượt thấu tấm màn do cái nhìn nhị nguyên phản Ki-tô dựng lên. Và chỉ khi nào mắt bạn đơn nhất, có nghĩa khi cái nhìn không còn chia thành đối cực tương đối, thì bạn mới thấy rõ cách giải quyết những vấn đề cá nhân cùng những vấn nạn to lớn hơn. Chỉ khi nào có đủ túc số những người đạt được viễn kiến đơn nhất của tâm Ki-tô thì họ mới có thể nâng xã hội vào một kỷ nguyên mới. Bởi vậy, điểm khởi đầu là tẩy sạch những ảo tưởng phản Ki-tô khỏi tâm mình và vươn lên viễn kiến Ki-tô – khi đó bạn sẽ tìm được giải pháp cho những vấn đề mà bạn đã tới đây để giải quyết.

Như Giê-su có nói, “Nhưng trước hết, con hãy tìm kiếm Nước Trời và sự công chính của ngài, rồi tất cả những thứ kia sẽ được bồi thêm cho con” (Matthew 6:33). Nước Trời tức là tâm thức Ki-tô, và khi bạn có được thì giải pháp cho mọi vấn để sẽ được ban thêm cho bạn. Và một lần nữa, Giê-su cũng nói, “Điều đó loài người không thể làm được, nhưng với Thượng đế thì mọi điều đều làm được” (Matthew 19:26). Bạn chỉ có thể ở nơi Thượng đế qua tâm Ki-tô.

Ki-tô và phản Ki-tô – LÀ hay không là

Khi Đấng Sáng tạo quyết định ban quyền tự quyết cho con người đồng sáng tạo, ngài thừa biết họ có thể lạm dụng khả năng sáng tạo của mình. Hậu quả sẽ là một tấm màn được tạo ra từ những năng lực bị tha hóa cùng các tin tưởng sai lạc. Tấm màn sẽ chia cách họ (trong chính tâm họ chứ không phải trên thực tế) khỏi các vị thày tâm linh, khỏi cái ta tâm linh của họ và Đấng Sáng tạo. Rồi họ sẽ quên mất nguồn gốc cùng bản sắc tâm linh và tin rằng chẳng qua mình chỉ là những con thú có tiến hóa, là sản phẩm của di truyền và môi trường. Làm thế nào giảm thiểu rủi ro đây? Và làm thế nào Đấng Sáng tạo có thể bảo đảm họ luôn luôn có sự chọn lựa để trở về bản sắc chân thực của mình cho dù đã rơi xuống những vùng tâm thức tối tăm nhất? Đấng Sáng tạo phải thiết lập một cơ cấu an toàn trên toàn vũ trụ – một giải pháp xem ra thật tài tình.  

Như đã giải thích, Đấng Sáng tạo khởi đầu tiến trình sáng thế bằng cách co rút Bản thể mình vào một điểm dị biệt, mở ra một vùng hư không chung quanh. Nhưng sau đó, ngài lại không ngừng lan rộng để cuối cùng lấp đầy khoảng hư không đó. Nghĩa là trong tiến trình sáng thế có hai lực căn bản, một lực lan ra (Thượng đế Cha) và một lực co lại (Thượng đế Mẹ). Nếu lực lan ra chiếm ưu thế, năng lượng Đấng Sáng tạo sẽ mặc sức bành trướng rồi nổ tung, trong khoảnh khắc lấp đầy khoảng hư không. Còn nếu lực co lại chiếm ưu thế, tất cả sẽ rút sâu vào một lỗ đen và không một cấu trúc nào sẽ có thể tồn tại. Vì mục đích của sáng tạo là cung ứng một nhịp tăng trưởng lần hồi để những người đồng sáng tạo có điều kiện phát triển khả năng tự nhận biết, cho nên phải có một lực nào đó để giữ cán cân thăng bằng giữa hai lực lan ra và co lại, bảo đảm một độ tăng trưởng quân bình sẽ lần hồi dẫn đến mục tiêu tối hậu.

Lực được thiết lập để tạo quân bình này giữa lực lan ra của Cha và lực co lại của Mẹ là đứa Con Một của Thượng đế, tức là tâm Ki-tô toàn vũ, mà Kinh thánh gọi là Ngôi Lời. Đây là tâm toàn vũ vượt trên mọi con người, tuy nhiên một cá nhân vẫn có khả năng chứng đạt hợp nhất với tâm đó để trở thành đấng Ki-tô trong hiện thân, trở thành Ngôi Lời nhập thế. Trên thực tế, tiềm năng cao nhất cho mọi con người là cho phép cái tâm đã từng ngụ nơi Ki-tô Giê-su vào ngụ nơi mình. Và như thế họ sẽ hoàn thành chức năng là người đồng sáng tạo hoàn toàn giác ngộ đã đem tâm ngự trị vật chất, như Giê-su và các vị giác ngộ khác đã làm.   

Tâm Ki-tô là yếu tố kết hợp đằng sau hằng hà biểu thị của thế giới hình tướng.  Tâm Ki-tô chứa đựng bản mẫu cuộc sáng thế, kể cả mục đích của Đấng Sáng tạo cùng mọi quy luật tâm linh lẫn quy luật thiên nhiên. Và như Kinh thánh có dạy, “Không có ngài thì không gì được tạo thành” (John 1:3), nghĩa là đằng sau mọi hình dạng vỏ ngoài là thực tại duy nhất của tâm Ki-tô. Hệ quả của điều này là bạn không bao giờ có thể đánh mất khả năng tìm lại bản sắc chân thực của mình.

Cho dù bạn có rơi xuống một tầng tâm thức thấp hơn hẳn tâm thức nguyên thủy khi bạn được sinh tạo, bạn sẽ không bao giờ bị mất tâm linh hoàn toàn. Bạn LUÔN LUÔN có khả năng vươn về tâm Ki-tô là vị cứu tinh thực sự của nhân loại. Chính Giê-su cũng có đề cập đến tâm Ki-tô nhưng vì chỉ được phép giảng dạy bằng ngụ ngôn, cho nên thày đã dùng một tên gọi biểu tượng là “Nước Trời”. Thật vậy, thày nói rằng Nước Trời ở ngay trong bạn (Luke 17:21), có nghĩa Nước Trời là một trạng thái tâm thức.

Tâm Ki-tô là yếu tố kết hợp, bảo đảm sự hợp nhất giữa Đấng Sáng tạo và tạo vật của ngài, mà cụ thể nhất là những con người đồng sáng tạo với khả năng tự nhận biết và quyền tự quyết. Vì có quyền tự quyết nên con người phải được cho phép đi ngược lại quy luật Thượng đế. Tuy nhiên, họ không thể đi ngược lại quy luật đó khi họ vận dụng tâm Ki-tô, có nghĩa là tâm Ki-tô có một đối nghịch, là tâm phản Ki-tô.

Tâm phản Ki-tô tạo cơ hội cho người đồng sáng tạo tự tách rời khỏi Thượng đế và các vị thày tâm linh. Làm vậy, họ dựng ra một tấm màn khiến họ tưởng mình bị chia cắt khỏi Đấng Sáng tạo, chia cắt khỏi người khác và chia cắt khỏi hành tinh nơi họ sinh sống. Do vậy mà họ có thể quên mất mục đích sáng tạo của Thượng đế là gì, hoặc họ có thể cố tình đối nghịch lại mục đích đó và từ chối chu toàn chức năng của mình.

Một khi bạn chiêm nghiệm được phần nào tâm Ki-tô, bạn sẽ thấy được tính duy nhất của mọi sự sống, và bạn sẽ không thể làm tổn thương một người khác. Sở dĩ Giê-su dạy bạn hãy làm cho người khác những gì bạn muốn họ làm cho mình là vì thày đã thấm nhuần tính duy nhất của mọi sự sống. Thày biết rõ những gì bạn làm cho người khác thì bạn cũng làm cho chính mình, cho cái ta lớn hơn. Thế nhưng khi bạn bị mắc kẹt trong tâm phản Ki-tô, bạn cứ đinh ninh rằng mình riêng biệt hẳn với cái ta lớn đó, thậm chí rằng cái ta lớn đó không hề có. Từ đó mới nổi lên ảo tưởng rằng bạn có thể làm hại người khác mà mình sẽ không hề chi. Hơn thế, bạn sẽ ảo tưởng rằng việc làm của mình không hề có hậu quả nào, và mình có thể gạt gẫm được vũ trụ, trốn tránh hậu quả.     

Chắc hẳn bạn đã nghe câu hỏi đặt ra trong vở kịch Hamlet nổi tiếng của Shakespeare, “Là hay không là, đó mới là vấn đề”. Câu này có một ý nghĩa thâm sâu, “Là Ki-tô hay không là Ki-tô, đó mới là vấn đề thực sự”. Bạn có tiềm năng là Ki-tô hiện thân, nhưng chỉ có bạn mới trả lời được câu hỏi, liệu tôi sẽ chọn là Ki-tô, hay tôi sẽ chọn không là Ki-tô.

Kết nối lại với vị thày tâm linh

Để học những bài học trong đời, bạn có hai lựa chọn. Bạn có thể tiếp tục Trường đời Cay đắng nơi đó bạn phải tự tìm lấy lối thoát và tự quân bình lấy nghiệp quả. Hoặc bạn có thể nỗ lức hòa giải với vị thày tâm linh của bạn, nhờ đó bạn nhận được sự hướng dẫn cùng hồng ân của thày. Sự hòa giải này với vị thày tâm linh là một trong những mục đích chính của đường tu tâm linh. Bạn có thể cất bước trên đường bằng cách tìm hiểu các giáo lý tâm linh vỏ ngoài và thực hành các kỹ thuật thanh tẩy bốn thể phàm của bạn. Khi bạn loại bỏ những tin tưởng sai lầm và các năng lượng đã bị tha hóa, bạn sẽ lần hồi lấy lại một cách tự nhiên mối liên hệ nội tâm trực tiếp với cái ta Ki-tô của bạn, với Hiện diện Ta Là của bạn cùng (các) vị thày tâm linh của bạn.

Có rất đông vị thày tâm linh đang phụng sự trong công tác nâng cao tâm thức loài người, và mỗi chúng ta đều có một vị thày cá nhân như thế. Các thày đã từng là linh hứng đằng sau nhiều tôn giáo lớn và nhỏ trên thế giới – ở dạng nguyên thủy của các tôn giáo đó – cũng như đã rải truyền nhiều khám phá khoa học. Người ta gọi các thày bằng nhiều tên như Đại đoàn Thượng thăng, Đại đoàn Chưởng giáo, Đại Bạch Huynh đệ (màu trắng ở đây là màu ánh sáng các thày, không phải màu da) hay giản dị là các chân sư thăng thiên. Các thày phụng sự theo từng chu kỳ, hay khoảng thời gian nhất định, nhiều khi kéo dài khoảng 2000 năm.

Chân sư Giê-su đến Trái đất cách đây 2000 năm để đặt nền tảng cho chu kỳ tâm linh gọi là Thời đại Song ngư, với ý định là loài người sẽ học hỏi gương của thày, cất bước đi theo con đường mà thày vạch ra và nhờ đó đạt được cùng một trạng thái tâm thức như thày đã biểu lộ. Đó là tại sao tông đồ Paul có nói, “Hãy để tâm này trong con cũng chính là tâm ở trong Ki-tô Giê-su” (Philippians 2:5) và Giê-su cũng có dạy, “Ai tin ta thì việc gì ta làm, người ấy cũng sẽ làm” (John 14:12).

Trái đất hiện đang chuyển sang chu kỳ tâm linh kế tiếp gọi là Thời đại Bảo bình. Bình thường, nhân loại sẽ dựa trên nền tảng tâm thức đã xây dựng trong thời đại trước hầu đạt tự do tâm linh cao hơn trong thời đại này. Nhưng tiếc thay, giáo lý tâm truyền của Giê-su đã bị hiểu lầm phần lớn và do đó đa số nhân loại không hề biết rằng mục đích của mình là đạt được tâm thức Ki-tô.

Dẫu vậy, vẫn có nhiều người nhạy bén tâm linh với tỉnh giác cao độ cảm nhận được rằng họ có một sứ mệnh và đóng góp quan trọng trong thời đại hôm nay. Lý do là vì họ đã chọn hiện thân trong kiếp đầu thai này để giúp tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình chuyển tiếp từ tâm thức Song ngư sang tâm thức Bảo bình. Nếu bạn đã đọc quyển sách này cho đến trang này thì rất có thể bạn là một trong những người đó. Bạn sẽ không bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoả mãn cho tới khi bạn nối kết lại với sứ mệnh tâm linh cùng nhiệm vụ thiêng liêng của mình. Để hiểu trọn vẹn sứ vụ này là gì, bạn cần hiểu rõ sự khác biệt giữa tâm Ki-tô và tâm phản Ki-tô.

Sự Sa ngã của loài người

Khi cái Ta Biết lần đầu tiên bước xuống cõi vật chất, bạn chỉ có một ý niệm tự nhận biết rất hạn chế. Bạn là phần nối dài của Hiện diện Ta Là của bạn nhưng bạn không ý thức điều đó, cũng như bạn không ý thức về cá thể tâm linh của mình. Bạn không biết gì về các quy luật của Thượng đế, cho nên bạn vi phạm những quy luật này và làm tha hóa năng lượng tâm linh mà không hề hay biết. Có vẻ như chuyện này không mấy công bằng khi bạn phải chịu trách nhiệm về những quy luật mà bạn không biết, tuy nhiên điều thực sự xảy ra đã không hẳn là như vậy.

Đối với một người đồng sáng tạo tân lập, việc bước xuống cõi vật chất lần đầu tiên không giống như là mình bị quăng vào một khu rừng rậm mà không có địa bàn. Thật ra, người đó bước vào một bầu cõi được che chở an toàn dưới sự trông coi của một vị thày đến từ cõi tâm linh ở ngay trên vũ trụ vật chất. Vị thày sẽ hướng dẫn người đó và giải thích một cách ưu ái rằng mọi hành động đều mang hậu quả. Vị thày cũng nhận trách nhiệm về nghiệp quả của học trò, nghĩa là khi trò học xong bài học thử nghiệm, vị thày sẽ quân bình nghiệp quả đã phát sinh để trò có thể tiếp tục tu học mà không bị những lầm lỗi của mình cản bước.  

Nhiều tôn giáo trên thế giới vẫn còn giữ những truyền thuyết hay hình ảnh của thời lý tưởng đó. Ví dụ phổ biến nhất ở Tây phương là câu chuyện Vườn Eden. Câu chuyện kể lại bằng thần thoại một sự kiện đã xảy ra cho mỗi con người trên địa cầu, nghĩa là Adam và Eva không phải là hai sinh thể độc nhất có mặt nơi Địa đàng. Mỗi người trong chúng ta đều từng khởi đầu trong trạng thái tâm ở vườn Địa đàng dưới sự trông nom trực tiếp của một vị thày tâm linh. Thế nhưng như câu chuyện kể tiếp, con người bắt đầu hồ nghi vị thày mình và do đó phải rời khỏi khu vườn. Kỳ thực, họ không hề bị đuổi ra khỏi vườn, mà đơn giản họ đã kéo thấp độ rung của tâm thức, khiến cho họ mất hẳn ý thức về Địa đàng và cũng mất liên lạc với thày. 

Sau khi trò không còn liên hệ với thày nữa, luật tâm linh quy định rằng thày không thể tiếp tục mang hộ nghiệp quả cho trò. Thày không thể chịu trách nhiệm về nghiệp quả của trò một khi trò không còn được mình trông coi. Khi chưa chia cách, người đồng sáng tạo còn được học hỏi về hậu quả việc làm dưới sự hướng dẫn trìu mến của thày. Nhưng sau Bước Sa ngã, người đồng sáng tạo phải tự học lấy qua tấm gương vũ trụ. Tấm gương này phản hồi lại cho mỗi người tất cả những gì người đó đã gửi ra vũ trụ qua việc làm của mình. Và Kinh Sáng thế mô tả sự kiện đó như sau, “Người sẽ làm lụng đổ mồ hôi trán mới có mà ăn” (Genesis 3:19). 

Nói cách khác, trong Kế hoạch A lý tưởng, người đồng sáng tạo sẽ không bao giờ phải nếm mùi đau khổ phàm thế vì luôn luôn nhận được hướng dẫn của một vị thày làm tấm đệm giữa họ và nghiệp quả của họ. Nhưng khi họ bị mất liên hệ với thày thì Kế hoạch B phải được kích hoạt. Một khi không còn sẵn sàng nhận sự chỉ dẫn nữa thì người đồng sáng tạo phải tự học lấy bài học nhân quả. Đó gọi là Trường đời Cay đắng để đối lại với Trường Chỉ đạo Thiêng liêng.  

Người đồng sáng tạo đã tự cách ly khỏi thày tất nhiên sẽ không còn nhận được hướng dẫn nữa. Cứ thế, họ tạo thêm nghiệp quả và phải tự gánh lấy. Luật quân bình nói rằng nếu bạn tạo nghiệp trong cõi vật chất, bạn sẽ không thể thăng trở lại cõi tâm linh cho đến khi nghiệp quả được quân bình. Khi vẫn còn trong lớp học tâm linh, người đồng sáng tạo có một cơ thể tương đối thuần khiết, không hề biết già hay đau ốm. Nhưng một khi nghiệp quả chồng chất thì cơ thể vật lý bắt đầu già đi và biểu hiện bệnh tật, khiến cho mạng sống ngày càng ngắn ngủi, và do đó nghiệp quả không thể được quân bình trước khi thân xác qua đời. Tới điểm này thì Kế hoạch C phải nhập cuộc, nghĩa là con người sẽ phải tái đầu thai để có thêm nhiều cơ hội chuộc lại nghiệp cũ. Chính vì vậy mà bạn sẽ tiếp tục đầu thai trên địa cầu cho tới khi bạn học xong mọi bài học và quân bình đủ số nghiệp quả.

Luật quân bình

Khi vũ trụ vật chất được sinh tạo, ánh sáng trong bầu cõi chúng ta có một cường độ và một độ rung nhất định. Đây là cái vốn khởi đầu mà khoa học gọi là “bức xạ nền của vũ trụ”. Ý định nguyên thủy là những vị đồng sáng tạo sẽ dùng khả năng sáng tạo của mình đề nâng cao cả cường độ lẫn độ rung của ánh sáng, cho tới khi vũ trụ vật chất trở thành một thành phần của cõi tâm linh.

Nếu nhân loại đã sinh sôi khả năng của mình trong quá khứ thì địa cầu này đã không có đau khổ. Tuy nhiên vì có quyền tự quyết nên con người cũng có quyền lạm dụng khả năng sáng tạo để sản sinh ra ánh sáng ở một độ rung thấp hơn độ rung nguyên thủy. Điều này tạo ra một sự mất quân bình trong vũ trụ, và nếu muốn tăng trưởng thì trước tiên chúng ta phải khôi phục lại sự quân bình. 

Khi lần đầu bạn đi xuống vũ trụ vật chất, ban được ban cho một lượng ánh sáng nhất định cùng với quyền tự quyết muốn làm gì với ánh sáng đó thì làm. Nếu biết sử dụng ánh sáng trong tình yêu thương, bạn sẽ nâng cao độ rung cùng cường độ, và như thế bạn hòa hợp với mục đích của tạo hóa. Nhưng nếu bạn sử dụng một cách ích kỷ, hay thậm chí một cách hủy hoại bản thân, thì bạn sẽ kéo thấp độ rung và tạo ra một sự mất quân bình trong vũ trụ.

Bạn có toàn quyền làm bất cứ gì mình muốn, nhưng luật tự quyết không vận hành riêng rẽ. Nó không thể tách rời khỏi luật nhân quả. Khoa học gọi đó là luật tác động và phản ứng, còn một số giáo lý tâm linh thì gọi là nghiệp quả. Ngắn gọn, luật này nói rằng bạn phải chịu trách nhiệm về cách mình sử dụng Ánh sáng Mẫu-Vật. Nếu biết sử dụng trong tình thương, bạn sẽ nâng cao chính mình cùng mọi sự sống, và khả năng của bạn sẽ gia tăng. Nhưng nếu sử dụng ích kỷ, bạn sẽ tạo ra một món nợ đối với sự sống, và bạn sẽ không thể tiến bước cho tới khi trả hết nợ, quân bình lại nghiệp quả và thanh lọc mọi năng lượng đã bị dùng bất chính. Nói cách khác, bạn hoàn toàn tự do làm gì cũng được nhưng mỗi hành động đều có hậu quả, và bạn không thể tránh khỏi nếm mùi hậu quả.   

Mục đích của vũ trụ là để bạn phát triển khả năng tự nhận biết, nghĩa là bạn có mặt ở đây để học hỏi. Bạn học hỏi bằng cách làm một cuộc thử nghiệm rồi nhận lấy hậu quả của thử nghiệm. Nếu hành động không có hậu quả thì làm sao bạn học hỏi đây? Và nếu bạn không học từ hành động của mình thì làm sao bạn có thể phát triển khả năng tự nhận biết và hoàn thành mục đích cuộc sống?

Nói cách khác, bạn không được sinh tạo với mục đích hưởng thụ mãi mãi những thú vui nơi hành tinh này. Cái ta cao hơn của bạn cũng không muốn bị kẹt mãi trong một ý niệm bản sắc hạn chế coi mình chỉ là một kẻ tội đồ đáng thương hay một con thú thông minh. Bạn đã xuống đây để phát triển khả năng tự nhận biết để rốt cuộc sẽ thăng lên những tầng học hỏi cao hơn. Câu hỏi được đặt ra bây giờ là bạn đã học hỏi từ hậu quả việc làm của bạn như thế nào.  

Luật Thượng đế không phải là sự trừng phạt

Nếu loài người là những Thượng đế chưa thành thì tại sao chúng ta lại có thể rơi xuống một mức tâm thức có những biểu hiện quá xa rời Thượng đế đến thế? Lý do là vì Đấng Sáng tạo không hề tạo ra chúng ta là những người máy bắt buộc phải làm theo ý ngài và tuân theo luật của ngài. Bạn có quyền tự quyết, và quyền này sẽ không đầy đủ nếu bạn không có quyền bất tuân quy luật Thượng đế.

Tuy nhiên, có quyền tự quyết không có nghĩa là bạn bắt buộc phải đi ngược lại quy luật Thượng đế, hoặc bạn sẽ chỉ thực sự tự do khi bạn làm vậy. Để minh họa, hãy so sánh những chọn lựa trong đời với chuyện lái xe. Người ta xây đường xá để bạn có thể di chuyển nhanh chóng từ nơi này tới nơi khác, và luật lưu thông là để giúp bạn đi lại an toàn. Bạn có thể dùng đường lộ để đi bất cứ nơi đâu, và nếu bạn bỏ đường lộ chạy xe xuống ruộng, rất có thể bạn sẽ phá hư thiên nhiên hoặc bị sa vào bùn. Do bất chấp luật lệ giao thông, bạn có thể gây ra tai nạn, thương tích cho bạn và cho người khác. Cho nên thật là phi lý nếu bảo rằng đường xá và luật giao thông hạn chế khả năng đi lại của bạn. Không kém phi lý là bảo rằng quy luật Thượng đế hạn chế quyền tự quyết của bạn cùng khả năng sáng tạo của bạn.

Quy luật của Thượng đế không phải là chiếc áo bó, buộc chặt tay chân. Tuân theo luật Thượng đế không có nghĩa bạn chỉ có một chọn lựa duy nhất hay bạn mất quyền tự quyết. Tiếc thay, một số tôn giáo đưa ra hình ảnh một Thượng đế nóng giận, phán xét ở trên trời, sẵn sàng kết tội và đày bạn xuống địa ngục nếu chẳng may bạn phạm luật của ngài. Điều này đã khiến nhiều người có xu hướng bác bỏ luật Thượng đế, hay ít ra bác bỏ tôn giáo. Trên thực tế, luật Thượng đế cho phép bạn biểu đạt khả năng sáng tạo của mình một cách vô hạn. Đúng hơn, quy luật này được thiết lập để giúp bạn tự do biểu đạt sáng tạo nhưng không hủy hoại chính mình, hủy hoại người khác hay cả hành tinh nơi bạn sinh sống.

Hãy thử nhìn vấn đề từ góc độ Đấng Sáng tạo. Khi ban quyền tự quyết cho các sinh thể đồng sáng tạo, Thượng đế đã chấp nhận một rủi ro tính toán. Rất có thể một người nào đó sẽ tự hủy hoại, hoặc nhiều người tập họp lại thành những phe nhóm hủy hoại lẫn nhau, và như thế nhân loại có tiềm năng tự hủy dịêt hoặc hủy diệt hành tinh. Nếu điều này không may xảy đến thì hẳn mục đích ban đầu để nâng cao tâm thức những sinh thể đồng sáng tạo coi như bằng thừa. Cho nên Thượng đế phải có cách giảm thiểu rủi ro.

Một cách là thiết lập một số quy luật để dẫn dắt người đồng sáng tạo trong cách dùng khả năng sáng tạo của mình. Và một cách khác là ưu ái trông coi họ khi họ cất bước trên hành trình làm người, để họ dễ dàng học hỏi từ những bài học thử nghiệm của họ.

Một quy luật tâm linh căn bản là mọi thứ đều được tạo bằng một chất duy nhất, là Ánh sáng Mẫu-Vật. Muốn tạo ra bất cứ gì trong thế giới vật chất, bạn phải có một lượng Ánh sáng Mẫu-Vật rung động trong dải tần số của cõi vật chất. Cách tự nhiên để có ánh sáng đó là tiếp nhận trực tiếp từ Hiện diện Tà Là của bạn. Khi bạn lần đầu tiên bước vào cõi vật chất, bạn được ban cho một lượng ánh sáng làm vốn khởi đầu. Nếu bạn biết dùng khôn khéo, bạn sẽ được ban cho nhiều hơn, và nhờ đó khả năng sáng tạo của bạn gia tăng. Và dòng ánh sáng từ Hiện diện Ta Là cũng tăng theo, và đời sống của bạn sẽ đi lên trong một vòng xoáy, nâng cao mãi khả năng tự nhận biết cùng sự dồi dào vật chất.

Như đã có đề cập, Giê-su đã dùng ngụ ngôn về ba người đầy tớ để minh họa cho quy luật nói trên (Matthew 25:14). Phúc âm kể lại, có một ông chủ kia trước khi đi xa, giao phó một số của cải (ta-lăng, có nghĩa là vàng bạc, và cũng nghĩa là tài năng) cho ba người đầy tớ. Khi ông trở về, ông hỏi mỗi người đã sử dụng các ta-lăng đó như thế nào. Hai người đầy tớ đã sinh sôi thêm ta-lăng thì được ông tưởng thưởng nhiều hơn, còn người thứ ba đem chôn ta-lăng dưới đất thì không những đã không sinh sôi gì thêm mà còn bị lấy lại. Tuy có vẻ khắc nghiệt thật nhưng quy luật này hoàn toàn khách quan.

Mục đích của cuộc sống là tăng trưởng, nghĩa là mọi thứ phải nhân lên. Nếu bạn sinh sôi thêm ánh sáng cùng khả năng sáng tạo thì bạn cũng nâng chính mình lên đồng bộ với mọi sự sống. Còn nếu không sinh sôi những gì được ban cho, tức là nếu bạn xử sự ích kỷ, thì bạn sẽ suy giảm chính mình cũng như mọi sự sống. Và như vậy, dòng ánh sáng từ Hiện diện Ta Là của bạn cũng sẽ giảm theo và cuộc sống bạn bị cuốn vào một vòng xoáy đi xuống. Khả năng tạo vật chất dồi dào sẽ bị sút kém và khả năng tự nhận biết sẽ co cụm lại thành tâm trạng chỉ biết có mình. Tất cả với hậu quả là bạn cảm nhận cuộc sống là đau khổ và bạn là nạn nhân oan ức của một Thượng đế nóng giận đang trừng phạt bạn.

Kỳ thực, Thượng đế không bao giờ trừng phạt một ai. Thượng đế chỉ lập ra một số quy luật khách quan áp dụng cho mọi người. Nếu bạn nhảy ra khỏi một chiếc máy bay mà không mang dù, quy luật khách quan của trọng lực sẽ kéo bạn xuống đất và bạn sẽ toi mạng. Đó không phải là trừng phạt của Thượng đế mà chỉ là hậu quả máy móc của một chọn lựa vô minh của bạn.

Đấng Sáng tạo tạo ra vũ trụ như thế nào?

Vì cái Tất Cả không có hình tướng riêng biệt, cho nên có lẽ cách hình dung giản tiện nhất cho chúng ta là một không gian trống trơn hay một tờ giấy trắng. Tất Cả không phải là không gì, mà không là một vật gì. Vì vậy mới lấy một khoảng không gian trắng xóa để minh họa cho tính cách vô hình tướng, vượt mọi khái niệm hay mọi hình tượng thế gian.

Đấng Sáng tạo quyết định tạo ra một thế giới có những hình tướng riêng biệt, và trong hành động sáng tạo đầu tiên, ngài vẽ ra một ranh giới quả cầu chung quanh mình. Ranh giới này phân chia Đấng Sáng tạo khỏi Tất Cả, và nhờ vậy, nó tạo ra một khoảng không gian trong Tất Cả, đầy ắp chính tâm thức cùng Bản thể của Đấng Sáng tạo.

AACircle

Sau đó, ngài rút Bản thể ngài vào trung tâm quả cầu, tụ thành một điểm dị biệt. Phần còn lại trong quả cầu trở nên trống rỗng, tạo thành một vùng hư không đứng riêng biệt khỏi Tất Cả, nhưng vẫn chưa có bất cứ một hình thể nào thị hiện trong đó. Tuy nhiên, vì hư không này không còn viên mãn như Bản thể Đấng Sáng tạo, cho nên những hình thể tách biệt có khả năng được sinh tạo trong đó.

AACirclecontract

Từ điểm dị biệt ở trung tâm, Đấng Sáng tạo phóng ra một phần Bản thể mình, tuy nhiên đây không phải là cái nổ lớn hỗn loạn như được mường tượng trong thuyết Big Bang của ngành vật lý. Thay vào đó, Đấng Sáng tạo tự phóng mình ra dưới hình thức một quả cầu bao quanh điểm dị biệt. Quả cầu này đứng riêng biệt khỏi vùng hư không chung quanh, và nó chứa đựng cái tinh chất căn bản sẽ cấu tạo tất cả mọi thứ. Chất này chính là ánh sáng trong câu “Ánh sáng hãy có mặt” của Kinh thánh. Khoa học gọi đó là năng lượng, còn trang mạng này gọi là Ánh sáng Mẫu-Vật.

AAvoid

Bầu cõi đầu tiên này chưa chứa đầy ánh sáng. Thật ra, nó ẩn chứa rất nhiều bóng tối, nhưng không phải là bóng tối xấu ác mà đơn giản chỉ là sự thiếu vắng ánh sáng. Trong bầu cõi đầu tiên này, Đấng Sáng tạo lập ra một số hình thể, một số cấu trúc nhất định để làm nền tảng cho sự sống. Rồi ngài phóng chiếu những thành phần nối dài của ngài với khả năng tự nhận biết vào bầu cõi đầu tiên đó, và bầu cõi đó trở thành tầng thị hiện đầu tiên của thế giới hình tướng.

Những sinh thể nối dài này của Đấng Sáng tạo ra đời cốt ý là để trở thành những vị đồng sáng tạo, nhưng ở khởi đầu, họ chỉ có một ý niệm bản sắc cùng một khả năng tự nhận biết vô cùng hạn chế. Sở dĩ họ cảm nhận được tách biệt là vì bầu cõi đầu tiên vẫn chưa đầy ánh sáng và cảm nhận tách biệt chỉ có thể tồn tại ẩn nấp trong những vùng bóng tối.

Thuở ban đầu, các vị đồng sáng tạo đầu tiên được dạy dỗ bởi Đấng Sáng tạo. Khi lớn lên, họ biết tự túc và làm chủ được khả năng sáng tạo của mình. Tâm họ điều ngự được vật chất, có nghĩa là họ ngày càng thành thạo hơn trong việc đồng sáng tạo nơi bầu cõi của họ. Điều này có hai tác dụng. Một đằng, họ xây được thêm nhiều cấu trúc để bổ sung cho nền tảng mà Đấng Sáng tạo đã thiết lập. Đằng khác, họ đem vào bầu cõi họ thêm nhiều ánh sáng từ nguồn vô tận của Đấng Sáng tạo.   

Bởi thế, bầu cõi thứ nhất này sẽ tới lúc đạt được một cường độ ánh sáng mãnh liệt khiến cho không một sinh thể nào ở đó còn ảo tưởng mình bị tách biệt khỏi nguồn cội, tách biệt khỏi các sinh thể khác, hay thậm chí tách biệt khỏi những cấu trúc nền tảng của bầu cõi. Khi toàn bộ ánh sáng của bầu cõi đạt tới một cường độ quyết định thì tất cả mọi thứ đều hiển lộ rõ mồn một nguồn gốc của tất cả là ánh sáng và tâm thức của Đấng Sáng tạo. Mọi vị đồng sáng tạo đều đạt được tâm giác ngộ, qua đó họ chứng nghiệm trực tiếp mình là những phần nối dài, là những cá thể của Đấng Sáng tạo.

Giờ đây, Đấng Sáng tạo lại tự phóng chiếu vào vùng hư không để tạo ra một bầu cõi mới, đứng riêng khỏi hư không. Bầu cõi này cũng lại chứa một lượng ánh sáng giới hạn thôi. Những vị đồng sáng tạo đã điều ngự được bản thân trong bầu cõi đầu, nay sử dụng khả năng đó để dựng lên những cấu trúc nền tảng cho sự sống ở bầu cõi thứ hai. Khi công việc này xong xuôi, các chân sư từ bầu cõi đầu phóng chiếu những phần nối dài của mình với khả năng tự nhận biết vào bầu cõi thứ hai.

Và cũng như trước, thế hệ thứ hai của các sinh thể đồng sáng tạo cũng chỉ khởi đầu với một khả năng tự nhận biết hạn chế và một bản sắc tách biệt. Tuy nhiên, nhờ được dạy dỗ bởi các chân sư từ bầu cõi đầu trong vai trò cha mẹ tâm linh, họ lại thành công điều ngự được bầu cõi của họ, và rồi bầu cõi này cũng thực hiện được đầy đủ cường độ ánh sáng cần thiết.

Lại tới lúc Đấng Sáng tạo thiết lập bầu cõi thứ ba. Một số chân sư từ bầu cõi thứ hai quyết định tiếp tục nâng tâm thức để có thể nhập với bầu cõi thứ nhất. Và cũng có một số khác quyết định trở thành chân sư hầu thiết lập các cấu trúc nền tảng và sinh tạo các vị đồng sáng tạo cho bầu cõi thứ ba.

Và cứ như thế, tiến trình được lập lại. Sự sống lại sinh ra sự sống và một số tầng cấp, hay bầu cõi, được ra đời trong vùng hư không. Bầu cõi mới phải ra đời trong sự tranh sáng tranh tối, tuy phân rời khỏi hư không nhưng chưa sáng bằng các bầu cõi cao hơn. Nhưng một khi đạt được cường độ đủ để thăng hoa, nó cũng sẽ được gia nhập cõi tâm linh.

Như vậy, vũ trụ vật chất của chúng ta đây chỉ đơn giản là bước mới nhất trong quá trình tăng trưởng nói trên. Như các bầu cõi trước, vũ trụ vật chất cũng được sáng tạo với một lượng ánh sáng hạn hẹp, và điều này cho phép các vị đồng sáng tạo trong bầu cõi này – tức là chính bạn và mọi người khác ở đây – vào đời với bản sắc sinh thể tách biệt. Vì ánh sáng còn yếu cho nên vật chất ở đây hiện ra rắn chắc hơn, khác các hình thể thanh nhẹ nơi cõi tâm linh. Cũng chính vì các điều kiện này mà một người có thể tin rằng không có gì khác ngoài vũ trụ vật chất, hay tin rằng thế giới này bị chia cắt khỏi cõi tâm linh bởi một hàng rào không thể băng qua.

Nhưng kỳ thực, vũ trụ vật chất được tạo bằng cùng một chất như mọi cõi khác của thế giới hình tướng, là Ánh sáng Mẫu-Vật. Dù vũ trụ vật chất làm bằng ánh sáng rung động thấp hơn, nhưng ánh sáng này có sẵn tiềm năng nâng lên cùng độ rung với cõi tâm linh, và khi điều này xảy ra, toàn bộ vũ trụ sẽ thăng lên một tầng mức cao hơn. Tiến trình thượng thăng này là mục đích vỏ ngoài đằng sau việc sáng tạo cõi vật chất.

Còn mục đích bên trong thì sao? Thưa phải, mục đích thực sự là vũ trụ vật chất được thiết lập như một phòng thí nghiệm khoa học cho các vị đồng sáng tạo được gửi tới đây. Chỉ khi nào họ nâng cao tâm thức thì họ mới trở thành những cánh cửa mở mang lại thêm ánh sáng tâm linh vào cõi vật chất. Và chỉ có ánh sáng đó mới nâng cao được rung động của vũ trụ vật chất. Bằng cách phụng sự trong vai trò đó và gắng sức sáng tạo để giúp nâng cao thế giới, họ sẽ gia tăng khả năng tự nhận biết cho tới khi đến lượt họ cũng thăng hoa vào cõi tâm linh.

Và đó tất nhiên là mục đích thực sự của việc sáng tạo vũ trụ vật chất. Tất cả mọi sự đều xoay quanh việc phát triển khả năng tự nhận biết, với kết quả tối hậu là chính bạn cũng tăng triển mãi cho đến khi đạt được tâm thức của Đấng sinh tạo thế giới hình tướng.

Bạn chính là Thượng đế chưa thành. Đây không phải là một câu nói phạm thượng mà là thực tế cao nhất.

Thượng đế đến từ đâu?

Bạn đang sống trong vũ trụ vật chất, vũ trụ này được tạo bằng những năng lượng rung động trong một dải tần số nhất định. Giác quan vật lý của bạn chỉ có khả năng phát hiện được tầng thấp nhất trong dải tần số đó, là vũ trụ vật lý làm bằng vật chất. Còn tâm ý thức, hay cái ta ý thức của bạn, mới có khả năng bắt được và chiêm nghiệm những tầng cao hơn – là năng lượng cảm xúc, rồi cao hơn nữa là lý trí và bản sắc.

Nếu cứ theo đó gia tăng độ rung thì bạn sẽ vượt khỏi cả bốn tầng của vũ trụ vật chất, đạt tới tầng thấp nhất của cõi tâm linh. Nơi cõi này có rất nhiều đấng tâm linh, trong số đó có những đấng đã tạo ra vũ trụ vật chất kể cả hành tinh địa cầu chúng ta. Tên gọi thông thường cho những đấng ấy là Elohim, là danh từ số nhiều để chỉ chung vị Thượng đế hay Đức Chúa Trời của Kinh Cựu ước. Một số trong các đấng tâm linh kể trên đã từng hiện thân trong một thân thể vật lý nhưng bây giờ đã thượng thăng để về lại cõi tâm linh. Bạn cũng vậy, khi nào bạn quân bình được mọi nghiệp quả, giài quyết xong mọi tin tưởng sai lầm bằng cách nhập một với tâm Ki-tô và hoàn thành mục tiêu nguyên thủy khi bạn đến trái đất, thì bạn cũng sẽ là một sinh thể thăng hoa, một chân sư thăng thiên.

dialmindeps

Sau khi thượng thăng, bạn sẽ trở thành một sinh thể tâm linh, vô sinh vô diệt, nghĩa là bạn sẽ không cần phải trở về đầu thai ở địa cầu nữa. Khi đó, bạn có hai chọn lựa. Chọn lựa thứ nhất, bạn có thể quyết định tiếp tục tự tăng triển để thăng mãi xuyên qua nhiều tầng lớp của cõi tâm linh cho đến khi bạn chứng được tâm thức cao nhất, bình thường gọi là tâm thức Thượng đế. Chính vì bạn có tiềm năng đạt được trọn vẹn tâm thức Thượng đế mà Giê-su mới nói, “Các con là những vị Thượng đế” (John 10:34).

Chọn lựa thứ nhì của bạn là tạm gác con đường phát triển bản thân để phụng sự loài người vẫn chưa thăng khỏi địa cầu, và như vậy bạn trở thành một vị thày tâm linh cho những ai chưa thăng hoa. Và đây là trường hợp của Giê-su. Krishna, Phật Thích Ca, là những vị thày được biết tới nhiều nhất.

Nếu tưởng tượng bạn cứ leo mãi các tầng lớp của cõi tâm linh, cuối cùng thì bạn sẽ tới tầng cao nhất của thế giới hình tướng. Nơi đây là rung động thanh cao nhất mà Ánh sáng Mẫu-Vật có thể có được. Nếu cũng vượt luôn mức này thì bạn sẽ đạt tới Đấng đã sinh tạo ra thế giới hình tướng. Đây là Đấng mà phần lớn các tôn giáo gọi là Thượng đế tối thượng hay Đấng Sáng tạo.

Đa số các tôn giáo dạy rằng ở trên Đấng Sáng tạo không có gì khác. Nhưng nếu thật vậy thì Đấng Sáng tạo từ đâu đến? Kỳ thực, vẫn còn một tầng lớp vượt cả Đấng Sáng tạo, gọi là Tất Cả. Nhưng tầng này thì vượt khỏi mọi cái biết của con người, mọi hình ảnh, chữ nghĩa, thậm chí mọi khái niệm được dùng để mô tả. Một khi bạn còn ở địa cầu, bạn không thể hiểu được trọn vẹn tâm thức của Tất Cả là như thế nào. Đọc tiếp, bạn sẽ hiểu tại sao.

Trong Tất Cả, có những Đấng trí tuệ, tự nhận biết, nhưng lại không xem mình là tách biệt với các Đấng khác hay với Thượng đế. Các ngài biết mình là Thượng đế, là biểu đạt của Thượng đế, bởi vì trong Tất Cả, tất cả đều được nhìn rõ là biểu đạt của Thượng đế. Trong Tất Cả chỉ có một Thượng đế duy nhất nhưng cách biểu đạt thì vô số. Ở đó không thể nào có ảo tưởng rằng có một ai hoặc một cái gì tách biệt khỏi Thượng đế. Các Đấng nơi Tất Cả không thể tạo dựng một bản sắc sinh thể tách biệt, và cũng không từng chứng nghiệm bất cứ điều gì tách biệt khỏi Tất Cả – bởi vì nói cho cùng, không cái gì có thể đứng ra ngoài cái là tất cả.

Tuy vậy, các Đấng nơi Tất Cả thấy được một ích lợi nào đó trong việc tạo dựng một thế giới nơi tách biệt được phép xảy ra. Trong một thế giới như thế, một cá thể sẽ khởi sự với một ý niệm bản sắc rất giới hạn như là một sinh thể tách biệt, nhưng dần dần sẽ phát triển khả năng tự nhận biết cho tới khi đạt đến tâm thức Tất Cả, và khi đó thì sẽ nhập vào Tất Cả với một nhận thức thực nghiệm về sự tách biệt và do đó sẽ trân quý Tất Cả nhiều hơn.    

Đấng đã tạo ra thế giới hình tướng nơi bạn sinh sống đã từng một thời là một Đấng nơi Tất Cả. Đấng ấy đã tình nguyện đưa mình ra khỏi Tất Cả và, từ chính bản thể và tâm thức mình, tạo ra một thế giới dường như đứng tách biệt khỏi Tất Cả. Thế giới đó cho phép những hình tướng tách rời tồn tại, tưởng chừng như không biểu hiện Thượng đế duy nhất. Ở đó cũng hiện hữu những sinh thể tách biệt không ý thức mình là biểu hiện của Thượng đế duy nhất.

Ở buổi đầu, ý niệm bản sắc cùng khả năng tự nhận biết của những sinh thể này vô cùng hạn hẹp, khiến họ tưởng mình bị chia cắt khỏi nguồn cội của mình, bị chia cắt khỏi đồng loại cùng thế giới chung quanh. Nhưng họ sẽ dần dần nâng cao tâm thức cho đến khi họ nhận ra tính duy nhất của mọi sự sống. Lúc đó, hoặc họ sẽ bước vào Tất Cả với tâm thức Thượng đế trọn vẹn, hoặc họ sẽ trở thành Đấng Sáng tạo cho những thế giới hình tướng khác. Nhưng cho tới khi họ chứng đạt được tâm thức Thượng đế thì họ không làm sao mường tượng được Tất Cả là như thế nào.

Họ là chính bạn đó. Bạn được sinh tạo với một khả năng tự nhận biết giới hạn nhưng bạn lại mang sẵn một tiềm năng phát triển vô hạn. Phát triển khả năng tự nhận biết chính là mục đích sinh tạo của thế giới hình tướng. Đó là mục đích của tất cả sự sống.

Dòng chảy tâm thức

Có lẽ bạn đã từng cố gắng cải thiện đời mình qua một số phương pháp tu tập tâm linh hay tâm lý, để rồi chỉ nhận thấy mình có nhiều khuôn nếp rất khó thay đổi? Hay có lẽ bạn quen biết ai đó từng tham gia những nhóm tâm linh hàng mấy chục năm trời mà hình như vẫn chẳng thay đổi gì mấy? Tại sao những hứa hẹn của các vị thày tâm linh và chuyên gia về ngành tự cứu tâm lý lại khó thực hiện đến vậy?

Phải chăng là vì chúng ta đã bị xã hội lập trình để luôn luôn đi tìm giải pháp ở tầng lớp kết quả thay vì tầng mức nguyên nhân? Giả dụ bạn ngồi xem phim trong rạp hát và không ưa bộ phim đang được chiếu trên màn ảnh. Bạn muốn đổi phim khác, nhưng vì không biết có phòng chiếu phim ở đằng sau, bạn chỉ tìm cách thay đổi màn ảnh ở đằng trước, thì có ích gì?   

Tất nhiên là bạn không thể thay đổi bộ phim ở tầng lớp của màn ảnh, bởi vì màn ảnh chỉ có thể phản ảnh những gì được chiếu trên đó. Màn ảnh là tầng kết quả – kết quả của một tầng mức thâm sâu hơn, là nguyên nhân. Xã hội tân thời đã lập trình để chúng ta tin rằng thế giới vật chất gồm cả nhân lẫn quả, tức là chúng ta có khả năng thay đổi đời mình bằng cách thay đổi thế giới vật chất – thế giới của hành động và tư tưởng ý thức.

Kỳ thực, thế giới vật chất cũng giống như bộ phim trình chiếu trên màn ảnh vậy, và hình chiếu phát xuất từ những tầng nguyên nhân sâu xa hơn. Những tầng nguyên nhân đó chính là ba tầng cao của tâm, vượt trên cái tầng ngoại tâm mà nhiều người gọi là tâm ý thức.

Giả thử bạn muốn thay đổi một số khía cạnh đời mình. Xã hội hiện đại đã lập trình để bạn tin rằng nếu mình muốn giải quyết một vấn đề thì mình phải tìm hiểu vấn đề đó ra sao. Cho nên bạn gắng sức học tập một số giáo lý tâm linh, tìm hiểu khoa tâm lý, hay một số lý thuyết về tự cứu tâm lý. 

Tìm hiểu như vậy không phải là vô ích, tuy nhiên như bạn cũng biết, rất nhiều người hiểu rất kỹ về những đề tài tâm linh hay tâm lý nhưng họ vẫn không thay đổi được những khuôn nếp căn bản trong đời họ. Cái gì thiếu sót? Có lẽ là sự thấu hiểu nhân và quả.

Như được trình bày ở một phần khác, con người có bốn tầng của tâm. Tầng thấp nhất là tâm vật lý, và đa số chúng ta đều nhận biết được tâm này. Tầng cao hơn là cảm xúc, sau đó là tầng lý trí và trên cùng là tầng bản sắc.

Điều cần nắm vững ở đây là bốn tầng này nằm theo thứ bậc trên dưới nhất định như vậy. Ánh sáng tâm linh tuôn chảy xuống từ cái ta cao hơn của bạn sẽ gặp bản sắc thể trước tiên. Ở đây, nó sẽ bị nhuộm màu bởi những điều tin tưởng vi tế của bạn ở tầng này, có nghĩa là những tin tưởng đó hợp thành một cái khung nền, một hộp tư duy, cho mọi thứ đến sau.  

Khi ánh sáng xuống đến trí thể, nó đã bị giới hạn trong cái hộp của cõi bản sắc ở trên, và nó không có khả năng tháo gỡ hay đi ngược lại. Bây giờ tới lượt trí thể tô thêm màu sắc của nó cho ánh sáng, có nghĩa là cái hộp sẽ trở nên hạn hẹp, cứng ngắc hơn khi ánh sáng xuống tới cảm thể. Và tiến trình này lại tiếp diễn cho tới khi ánh sáng chỉ còn lại một cái hộp teo tóp trong tâm vật lý.     

Kết luận là nếu bạn tìm cách thay đổi cách cư xử của mình bằng cách gia tăng sự hiểu biết ý thức thì xác suất thành công sẽ rất it, bởi vì bạn chỉ cố sửa sang tầng thấp nhất là cái tâm vật lý nơi hầu hết mọi chuyện đã ngã ngũ. 

Như bạn cũng biết, phim hiện ra trên màn ảnh là sự phóng chiếu của cuộn phim trong máy chiếu. Vậy bạn thử tưởng tượng bạn có bốn cuộn phim, và cuộn đầu sẽ đặt ranh giới cho cuộn sau, rồi cuộn sau đặt ranh giới cho cuộn sau nữa, và cứ thế… thì bạn sẽ hiểu rằng nếu bạn thực sự muốn thay đổi đời mình, bạn sẽ phải tìm về những tầng ngày càng sâu hơn để thay đổi ở đó.

Tại sao điều này quan trọng? Giả dụ bạn nhất quyết trong tâm ý thức là bạn muốn thay đổi đời mình. Bạn ngồi kiểm điểm lại hoàn cảnh đời sống, rồi trong ý thức bạn quyết định làm một cái gì đó. Nhưng quyết định này dựa trên gì? Trên những gì bạn có thể thấy. Dù bạn có thực lòng cố gắng biết mấy thì bạn cũng chỉ chọn được những gì bạn có thể thấy.

Trở lại ví dụ chiếu phim, bộ phim đang trình chiếu là một phim quái vật mà bạn không thích chút nào. Bạn muốn đổi phim khác. Giả dụ bạn đang ngồi ngay cái bàn máy nơi người ta chọn phim, và bàn máy này màu nhiệm ở chỗ bạn có thể chọn bất cứ phim nào mình muốn.

Bàn máy có nhiều cái nút đủ màu. Màu đỏ là những phim quái vật, màu xanh là phim hành động, màu hồng là phim tình yêu, v. v… Nhưng khổ nỗi, bạn đang đeo cái kính lọc chỉ thấy được màu đỏ. Những cái nút khác vẫn nằm yên ở đó, nghĩa là mọi chọn lựa đều mở ra cho bạn. Nhưng bạn chỉ có thể chọn lựa những gì bạn thấy mà thôi, và vì bạn đeo kính lọc, bạn chỉ thấy và chỉ có thể bấm nút màu đỏ, là phim quái vật. Tức là dù có đổi phim thì bạn vẫn sẽ coi phim quái vật. Bạn tưởng đã thay đổi hoàn cảnh đời mình, nhưng màu sắc cuộc đời vẫn nguyên xi.

Cho nên đâu là chìa khóa để thay đổi hoàn cảnh của bạn? Đó là có thêm nhiều sự chọn lựa mà bạn có thể thấy. Và đâu là chìa khóa của cái thấy? Đó là gỡ bỏ những cái phin lọc nhận thức đang khiến bạn đui mù đối với một số chọn lựa. Những phin lọc này nằm nơi bốn tầng của tâm bạn, và phin lọc ảnh hưởng đời bạn nhiều nhất là nơi tầng cao nhất, bản sắc thể.

Vậy làm sao đây để nhận ra phin lọc nhận thức nơi những tầng thâm sâu của tâm? Đây không phải là cái gì mình có thể nắm bắt được bằng hiểu biết trí thức. Ngược lại là đằng khác, quá nhiều hiểu biết trí thức về tâm linh hay tâm lý có thể dẫn tới kết quả đối nghịch. Lý do là vì hiểu biết nằm ở tâm ý thức, và để vượt lên khỏi mức này, bạn cần tâm ý thức lắng xuống. Hiểu biết có khuynh hướng gia tăng nhiễu loạn trong tâm ý thức, khiến cho sự vượt lên khó khăn hơn. 

Điều quan trọng để thăng vượt phin lọc nhận thức là sự chiêm nghiệm – chiêm nghiệm những tin tưởng đang tô màu và giới hạn cái nhìn của mình về cuộc đời và giới hạn mình như thế nào. Một khi thấy rõ mình đang giới hạn chính mình làm sao, thì tự khắc sẽ quyết định để cho tin tưởng đó ra đi, và thay thế nó bằng thực tại thăng vượt mà mình đang nhìn thấy. Và thật vậy, cho tới khi bạn thấy được thực tại thăng vượt thì bạn sẽ không thể biết được những tin tưởng kia là giới hạn.

Cách vận hành của các dụng cụ tu tập trên trang này thật giản dị. Chìa khóa để thăng vượt giới hạn của mình là phơi bày và vượt qua, một cách ý thức, những phin lọc nhận thức nơi những tầng cao của tâm. Những phin lọc này giống như những cuộn phim mà chúng ta chiếu lên màn ảnh để đồng sáng tạo hoàn cảnh đời mình. Đó mới là nguyên nhân, chứ những gì xảy ra trong cuộc sống vật chất hay tâm ý thức chỉ là kết quả. Để thay đổi bộ phim trên màn ảnh, bạn chỉ cần thay cuộn phim trong máy chiếu.  

Như có giải thích ở nơi khác, một điều rất hữu ích mà bạn có thể làm là chuyển hóa các năng lượng có tần số thấp đang ngăn chặn bạn nhìn thấy các tin tưởng đang giới hạn mình. Đó là lý do các bậc thày tâm linh đưa ra những phương pháp tu tập nhằm chuyển hoá hay giải tỏa năng lượng có tần số thấp.

Các dụng cụ tu tập trong trang web này cũng nhắm vào việc đó. Chúng sẽ giúp bạn nhận ra rằng ở cốt lõi con người phàm của mình là cái Ta Biết. Dĩ nhiên đây chỉ là một tên gọi, điều quan trọng là nhận ra cốt lõi của mình là sự nhận biết thuần khiết. Điều này có nghĩa là bạn hoàn toàn không có nhu cầu nhìn đời qua các phin lọc nhận thức nằm nơi bốn tầng của tâm.

Bạn có khả năng trở về tâm nhận biết thuần khiết, và thay vì nhìn qua những phin lọc nhận thức, bạn nhìn thẳng vào những phin lọc. Cũng giống như bạn nhìn căn nhà từ ngoài thay vì bị nhốt trong nhà và nhìn ra thế giới từ những cánh cửa sổ. Nói cách khác, cái Ta Biết vốn bị phóng chiếu vào trong phin lọc nhận thức thì bây giờ nó có khả năng đứng ra bên ngoài.  

Khi còn trong phin lọc, bạn sẽ không thể nào thấy được phin lọc. Chỉ khi nào bạn trải qua một kinh nghiệm tĩnh lặng nội tâm, một tâm thức vượt khỏi bình thường, thì những tấm kính màu mà trước kia bạn không thấy mới hiện rõ ra là những tấm rào cản. Và đó là lúc bạn tinh tấn thật sự, vì bạn đang thăng vượt phin lọc thay vì nhất định chúng là thực tại trong vắt. Bây giờ bạn biết rõ mình đang đeo kính màu vàng và không còn cố thuyết phục người khác rằng trời xanh dương thực sự là màu lá cây.

Đây là lý do sâu xa tại sao một số vị thày tâm linh chủ trương thiền định hoặc những phương pháp định tâm. Cũng vậy, một số vị thày hay tạo ra bất ngờ khiến cho học trò chấn động, đánh rơi con mắt cũ mà nhìn với con mắt mới. Đó là trường hợp của Thiền, chỉ cốt gạt cho tâm bước ra ngoài các phin lọc bình thường của nó, nhờ đó nó thấy được thực tại là một cái gì khác hẳn.         

Vậy bạn có thấy không, phát triển tâm linh không phải là thâu thập ngày càng nhiều kiến thức, mà là làm sạch tâm mình khỏi các phin lọc nhận thức mà mình đã tạo ra do phản ứng với thế giới vật chất. Đây là cách duy nhất chúng ta có thể làm tròn sứ mệnh đồng sáng tạo của mình, nghĩa là thay vì sáng tạo trong khuôn khổ những điều kiện đời sống, chúng ta giữ cho viễn kiến mình thuần khiết và làm cho thế giới vật chất thăng vượt những giới hạn cố hữu của nó.

Kỳ thực, bạn chính là bạn đó – là con người mà cái ta cao hơn của bạn thấy bạn. Thế nhưng trong không gian và thời gian, bạn là con người mà bạn tưởng bạn là – và bạn lấy quyết định dựa trên những gì bạn thấy. Chìa khóa để thay đổi đời mình là thay đổi cái bạn tưởng là bạn, để bạn thấy mình thực là ai. Chỉ khi bạn thay đổi tầng bản sắc thì bạn mới thấy được tất cả những chọn lựa mở ra cho bạn, và chỉ khi đó bạn mới tự do chọn lựa.

Một thế giới quan năng lượng – Làm sạch năng lượng

Nếu bạn đi trở ngược vài thế kỷ thôi, con người thời đó chưa hiểu biết gì về vi khuẩn hay hóa chất, và vì vậy cũng không hiểu được nhu cầu giữ sạch cơ thể hay giữ cho thức ăn khỏi bị hư thối. Bạn có thể nghĩ thời đó sao lạc hậu thế – người ta không biết cả giữ vệ sinh tối thiểu.   

Nhưng bạn thử tưởng tượng xem một người sống trong tương lai sẽ nghĩ gì về chúng ta bây giờ, chắc hẳn cũng lạc hậu lắm, không biết cả chuyện giữ vệ sinh năng lượng. Vì tuy rằng hiện nay chúng ta được học rằng mọi vật đều là năng lượng, nhưng thật sự chúng ta chưa hiểu nên không áp dụng được hiểu biết này vào bản thân. Chúng ta chưa cảm thấy nhu cầu phải giữ sạch năng lượng của mình y như chúng ta giữ sạch thân thể. 

Kim Chakra_Man_Oval_1

Nhưng khám phá của Einstein rằng tất cả đều là năng lượng có hệ lụy trên mọi khía cạnh của đời sống. Nếu tất cả là năng lượng thì tâm chúng ta cũng phải được tạo bằng năng lượng. Điều này không khó hình dung lắm đâu, vì ý nghĩ và cảm xúc hiển nhiên là những hình thức năng lượng. Nhưng nếu ý nghĩ và cảm xúc là nội dung của tâm, thì tâm là gì?  

Năng lượng có hai cách biểu hiện. Nó có thể là một làn sóng di chuyển trong một môi thể, giống như âm thanh di chuyển trong không khí hoặc những gợn sóng trên mặt biển cả. Nhưng nó cũng có thể lấy hình dạng của một trường năng lượng đứng yên một chỗ. Và như vậy, tâm cũng là một trường năng lượng, trong đó ý tưởng và cảm xúc là những làn sóng. Làn sóng có thể xuất xứ từ trong trường hoặc từ ngoài đi vào trường, và một khi đã vào rồi thì làn sóng có thể ở lại trong trường hoặc được phóng ra bên ngoài.    

Trường năng lượng của tâm có thể được hình dung thế nào? Như bạn cũng biết, một thỏi nam châm có một từ trường bao quanh, và hẳn bạn đã nhìn thấy những hình chụp từ trường. Địa cầu chúng ta cũng có một trường vô hình bao quanh. Vậy bạn cứ hình dung tâm bạn như một trường năng lượng bao quanh thân thể vật lý của bạn.

Từ hàng chục thế kỷ, con người đã giả định về một trường năng lượng như vậy, gọi là hào quang. Một số nhà thần thông có khả năng nhìn vào trường năng lượng để chẩn bệnh, cả bệnh vật lý lẫn bệnh tâm thần. Mấy chục năm gần đây, một vài nhà khoa học đã dùng dụng cụ khoa học để đo trường năng lượng của con người.

Cho dù những điều này chưa đi vào khoa học chính mạch và chắc chắn chưa được biết đến rộng rãi, nhưng sự hiện hữu của một trường năng lượng chung quanh cơ thể có cơ sở khoa học. Chẳng hạn, người ta có thể dùng một loại máy chụp hình số đặc biệt gắn vào máy điện toán để hiển thị trường năng lượng trên màn ảnh, và rất có thể trong tương lai kỹ thuật này sẽ phát triển thêm để trở hành một phương tiện chẩn bệnh hữu ích. Và khi đó, trường năng lượng con người sẽ thực sự đi vào hiểu biết chính mạch. Nhưng chúng ta đâu phải chờ tới lúc đó!

Một khi đã chấp nhận tâm mình là một năng trường thì chúng ta có thể bắt tay ngay vào công việc, tìm hiểu xem tình trạng của trường có ảnh hưởng thế nào trên các ý nghĩ và cảm xúc ý thức của mình. Như vậy chúng ta sẽ bắt đầu làm chủ được năng trường thay vì bị nó điều khiển. Và điều này khiến chúng ta quan tâm đến các điều quan trọng sau:

Nhu cầu giữ sạch năng lượng

Trường năng lượng của bạn không phải là một cái gì đứng riêng rẽ. Khi bạn tương tác với ai đó, trường năng lượng của bạn cũng tương tác với trường của người kia qua sự trao đổi năng lượng. Người đó có thể gửi năng lượng vào trường của bạn, hoặc lấy năng lượng khỏi trường của bạn. Chắc hẳn bạn đã từng nhận thấy khi có ai chửi mắng bạn trong cơn giận dữ, bạn sẽ cảm thấy buồn bực hay tức giận. Lý do là vì cơn giận của họ phát ra những làn sóng năng lượng, phóng nó vào trường của bạn, nơi nó làm xáo trộn các làn sóng cảm xúc đang sẵn có ở đó. Và hẳn bạn cũng nhận thấy sau khi ở gần một người phiền muộn, mình cũng bị mệt mỏi lây theo, như bị mất hết sinh lực. Và quả thật là thế, người đó đã hút mất năng lượng của bạn khiến bạn cảm thấy kiệt quệ.  

Như vậy thì bạn có thể phân năng lượng làm hai loại: năng lượng với độ rung cao khiến mình cảm thấy thư thái hơn, và năng lượng với độ rung thấp khiến mình cảm thấy khổ não hơn. Đã là sóng năng lượng thì mỗi cảm xúc đều có một tần số rung động riêng, như bạn có thể thấy rõ giận hờn có một độ rung thấp hơn hẳn tình yêu. Và do vậy, chúng ta cần có một cách thức nào đó để lọc lựa năng lượng từ ngoài xông vào trường của mình, ngăn chặn không cho năng lượng thấp xâm nhập và đồng thời cho phép năng lượng cao đi vào. Đó cũng giống như hệ thống đề kháng của cơ thể mình vậy, và cũng thế, bạn có khả năng cải thiện sức khỏe toàn diện của mình bằng cách bảo vệ trường năng lượng khỏi những làn sóng thấp kém.    .

Kim Chakra_Man_Oval_1

Nhưng chuyện gì xảy ra cho năng lượng thấp khi nó lỡ vào được trường của mình? Khoa học bảo rằng, một khi làn sóng năng lượng đã thể hiện thành rung động thì nếu để yên, nó có khả năng giữ nguyên hình dạng đó hoài hoài. Nói cách khác, một khi rung động thấp đã có mặt trong trường, nó sẽ ở đó rất lâu. Với thời gian, nó còn có thể tích tụ thêm, khiến bạn cảm thấy khổ não hơn nữa. Có lẽ bạn đã từng gặp những người do nóng nẩy chồng chất, nổi giận đùng đùng đến mất hết tự chủ – đó phần nào là do năng lượng giận dữ đã chất đống trong trường của họ. Bệnh trầm cảm cũng tương tự như vậy, phần nào do năng lượng tiêu cực chất chứa. 

Tâm ý thức của bạn – ý tưởng và cảm xúc – được tạo bằng năng lượng. Như nam châm thu hút mảnh sắt, năng lượng cũng có một sức hút điện từ. Một khối sóng giận dữ trong trường năng lượng là một thỏi nam châm to tướng thu hút tâm ý thức của bạn vào với nó, khiến bạn dễ dàng phản ứng giận dữ.    

Tâm căng thẳng cũng là một hình thức năng lượng thấp chồng chất trong trường của bạn. Cho nên chìa khóa để quản lý căng thẳng là học cách bảo vệ trường của mình không cho năng lượng thấp xâm phạm, đồng thời làm sạch trường cho không còn những năng lượng đã lỡ xâm nhập.

Điều đáng mừng là việc chuyển hóa năng lượng thấp thành năng lượng cao thật sự không có gì khó. Nếu tâm bạn có khả năng tiết ra những làn sóng thấp như giận dữ thì nó cũng có khả năng chuyển hóa những làn sóng đó. Đề tài này sẽ được bàn chi tiết hơn ở một phần sau.   

Tâm thức đại chúng

Và điều này dẫn tới một nhận định rộng lớn hơn. Năng trường của bạn nằm trong năng trường rộng lớn của toàn địa cầu. Một phần của trường này được tâm lý học gọi là “vô thức tập thể”, mà chúng ta có thể hiểu là trường năng lượng bao quanh quả địa cầu, giống như một cái kho chứa những năng lượng của lý trí và cảm xúc đã được nhân loại sản sinh ra từ thuở hồng mang. Vì năng lượng có thể giữ vững độ rung của nó và tích tụ lại, thật là dễ hình dung một trường tập thể chứa đựng một khối khổng lồ những sợ hãi, tức giận và thủ ghét. Nếu bạn để cho trường của bạn mở toang ra tâm thức đại chúng này, bạn sẽ rất khó làm chủ đời mình.

Một ví dụ điển hình về tác động của tâm thức đại chúng trên tâm cá nhân là đám đông. Đã có vô số trường hợp tâm con người bị đám đông áp đảo đến độ mình đồng ý làm những chuyện mà bình thường mình không bao giờ làm, như giết người chẳng hạn. Nhiều người cũng bị lôi cuốn chạy theo xu thời, như khi họ hùa theo quan điểm của số đông, hoặc mê thích kiểu cách thời trang. Nếu muốn làm chủ đời mình thì thiết yếu phải đứng ra ngoài tâm thức đại chúng. 

Năng lượng trong vòng xoáy đi xuống

Nhưng tất nhiên, năng lượng thấp không cứ là phải xâm nhập trường của bạn từ ngoài. Bạn dư khả năng sản xuất những thứ đó từ bên trong khi bạn có cảm xúc tiêu cực như sợ hãi hay tức giận. Những năng lượng này sẽ chồng chất trên đống cảm xúc cũ, khiến bạn rơi vào một vòng xoáy ốc kéo bạn đi xuống, để rồi cuối cùng bạn bị mất chủ quyền. Có lẽ bạn đã thấy rõ là để làm chủ đời mình, một phần thiết yếu là phải học cách không đáp trả cuộc đời với những cảm xúc tiêu cực. Bạn có khả năng làm được điều này bằng cách giải quyết mọi tin tưởng làm tổn hại tâm mình cũng như chuyển hóa những năng lượng thấp kém. Trang mạng này có thể giúp bạn qua các dụng cụ tu tập được đăng tải ở đây.      

Và điểm chót có lẽ quan trọng hơn cả: để cảm thấy thư thái, bạn cũng cần nẩy sinh những năng lượng thanh cao trong trường cá nhân của mình. Trước mọi hoàn cảnh cuộc đời, bạn cần học cách phản ứng tích cực, nhưng hơn thế nữa, bạn cần học làm thế nào để nhận thêm năng lượng từ chính cái nguồn của những năng lượng thanh cao. Nguồn đó chính là bạn trong những thể cao, cho nên bạn cần chiêm nghiệm dòng năng lượng đang tuôn chảy tự nhiên từ chân nhân xuống phàm nhân. Nhờ vậy bạn sẽ nắm rõ hơn cách thức bảo vệ và làm sạch trường năng lượng của mình.

Dưới đây xin gợi ý một vài hướng tu tập với thể năng lượng:

  • Bạn phải học cách ngăn chặn năng lượng tiêu cực xâm nhập trường năng lượng.
  • Bạn phải học cách thanh lọc những năng lượng đã nằm sẵn trong trường năng lượng.
  • Bạn phải học cách ngừng khởi sinh năng lượng tiêu cực trong chính tâm mình.
  • Bạn phải học cách gia tăng dòng năng lượng tích cực từ những phần thanh cao của bản thân mình.

Vài điểm chính trong thế giới quan của các chân sư

Thế giới quan của các chân sư phức tạp do có nhiều tầng lớp, trả lời được mọi thắc mắc mà người tâm linh đặt ra về cách thế gian vận hành cũng như về sáng thế. Nhưng muốn nắm được trọn vẹn thì chúng ta không những phải bỏ công tìm hiểu mà còn phải đổi mới các công cụ tư duy của mình. Vì vậy ở đây chỉ xin tóm lược một vài điểm chủ yếu.

Thật ra thế giới quan của chân sư có thể dễ dàng giải thích qua một số khám phá của khoa học hiện đại, tuy nhiên trang mạng này không có ý định dùng lý lẽ để chứng minh tại sao các chân sư hiện hữu, cũng như không thấy cần thiết phải dùng khoa học để kiểm chứng sự hiện hữu đó. Bạn chỉ có thể xác nhận sự hiện diện của các thày cùng giá trị giáo lý các thày qua một kinh nghiệm trực giác nội tâm mà thôi.

Tất cả đều là năng lượng

Chúng ta lớn lên và thấm nhuần một thế giới quan không mấy phù hợp với các khám phá của khoa học, một phần là vì giác quan chúng ta đã tạo ra một hình ảnh quá thuyết phục về một thế giới làm bằng vật chất rắn đặc. Thế nhưng từ năm 1905, Albert Einstein đã phá tan cái nhìn cố hữu đó qua công thức giản dị: E = mc2.   

Thuyết tương đối của Einstein và những thuyết sau đó của ngành vật lý lượng tử chứng minh rằng vật chất rắn đặc thật sự không có. Đó chỉ là sự tạo dựng của lý trí, một tạo dựng dựa trên những cảm nhận của giác quan. Kỳ thực, vật chất không rắn đặc mà hoàn toàn được cấu tạo bằng năng lượng, mà năng lượng thì là một dạng rung động. Năng lượng không có gì rắn đặc hơn một tia sáng hay một gợn sóng trên mặt đại dương – nó không ngừng rung động. Nhưng năng lượng rung động cũng có thể hiện ra dưới hình thức đứng yên, là trường năng lượng, và điều này chính là hình dạng rắn đặc mà giác quan có cảm tưởng nắm bắt.    

Đặc trưng của năng lượng là độ rung. Chẳng hạn, ánh sáng màu đỏ có rung động thấp hơn ánh sáng màu xanh dương. Nghĩa là chúng ta có thể xây dựng một cái thang trải dài từ những rung động thấp cho đến những rung động cao, tựa như gam nốt trong âm nhạc vậy.

Trên cái thang đó, con mắt chúng ta chỉ có thể bắt được một dải rung động giới hạn mà thôi, gọi là ánh sáng nhìn thấy. Nhưng khoa học có thể đo được nhiều hình thức rung động khác vượt ngoài khả năng phát hiện của giác quan. Chẳng hạn ánh sáng hồng ngoại rung động thấp hơn, và ánh sáng cực tím thì cao hơn dải tần số có thể nhìn thấy. Và như vậy khoa học mở ra một thế giới rung động năng lượng vượt khỏi khả năng phát hiện cùa giác quan thể xác lẫn của dụng cụ khoa học hiện đại, với hệ quả là khả năng hiện hữu của một cõi rung động năng lượng vượt ngoài tầm đo đạc của dụng cụ vật lý hiện tại. Hơn thế nữa, cõi này cũng vượt luôn khả năng của mọi loại dụng cụ vật lý trong tương lai. Thật sự, chúng ta đang chạm một điểm mà hầu hết mọi tôn giáo cùng mọi truyền thống tâm linh trong lịch sử đều nói tới, đó là sự hiện hữu của một cõi tâm linh, hay gọi nôm na là cõi trời, vượt trên vũ trụ vật chất.

Trong thế giới quan của chân sư, quả là có một cõi vật chất nơi con người sinh sống, và ở cao hơn có một cõi tâm linh nơi các chân sư hiện diện. Tuy nhiên, không như cách trình bày của một vài tôn giáo, không hề có một lằn ranh bất khả xâm nào giữa hai cõi đó. Cả hai cõi được tạo bằng cùng một chất căn bản, là năng lượng mà thôi. Sự khác biệt không phải ở thể chất, mà ở độ rung. Năng lượng vật chất cũng chính là năng lượng tâm linh mà tần số đã bị hạ giảm từ cao xuống thấp.

So với cõi vật chất chỉ có một dải tần số hạn chế thì cõi tâm linh có một dải tần số rộng lớn hơn rất nhiều. Thường chúng ta không thể nhận thấy năng lượng tâm linh vì giác quan đã bị điều chỉnh để chỉ bắt được rung động của cơ thể, mà chúng ta gọi là vật chất rắn đặc. Các chân sư không bảo rằng vật chất không hiện thực, mà chỉ dạy rằng vật chất là năng lượng rung động trong một dải tần số nhất định, và ở ngoài dải đó có dải tần số khác rộng lớn hơn gấp bội.     

Nếu chúng ta cứ tiếp tục dùng giác quan mà chiêm nghiệm mọi thứ, và nếu dụng cụ khoa học không tài nào phát hiện được năng lượng tâm linh, thì làm sao chúng ta hy vọng nhận biết được cõi tâm linh đây? Vẫn được chứ, vì chúng ta có một dụng cụ vượt ngoài giác quan. Dụng cụ đó chính là tâm, nhưng là một khía cạnh đặc biệt của tâm.  

Chủ nghĩa duy vật khoa học đã dựng lên một hàng rào giữa tâm và vật, nhưng hàng rào này đã bị phá sập trong thập niên 1920 khi ngành vật lý lượng tử khám phá cấu tạo của vật chất là những hạt hạ nguyên tử mà tâm con người có khả năng tương tác. Chủ nghĩa duy vật vốn quan niệm rằng một nhà thử nghiệm khoa học là một quan sát viên hoàn toàn khách quan, không ảnh hưởng gì đến hiện tượng được quan sát. Họ bảo phải làm vậy để loại bỏ mọi tác động của tâm con người, vì theo họ, tâm người vốn chủ quan.

Nhưng mơ mộng đó về một quan sát viên khách quan đã bị cơ học lượng tử đánh đổ. Ở những tầng sâu nhất của vật chất nơi rung động khoác lên hình dạng vật chất “rắn đặc”, không hề có quan sát viên khách quan. Tâm của người thử nghiệm chính là một thành phần không rời của một “toàn cảnh đo đạc” nơi tâm quan sát góp phần sáng tạo những gì được quan sát.

Các chân sư giải thích là tâm người quan sát thực ra là một trường năng lượng. Những hiện tượng hạ nguyên tử được quan sát cũng là một trường năng lượng. Và dụng cụ được sử dụng để quan sát (máy gia tốc hạt) cũng là một trường năng lượng. Khi cả ba trường năng lượng này tương tác, chúng tạo ra một mô thức giao thoa, và “vật” được quan sát chẳng qua chỉ là cái mô thức đó.

Nói cách khác, một nhà khoa học dù tận tụy đến mấy cũng không thể quan sát một hạt hạ nguyên tử như nó thực là. Ông ta chỉ quan sát một hiện tượng được tạo dựng phần nào bởi chính tâm của ông, và hiện tượng đó đã bị tâm ông ảnh hưởng. Một số triết gia cũng đi đến kết luận tương tự, như Immanuel Kant nói rằng chúng ta không thể thấy vật như nó là, mà chỉ thấy được một cái gì đó đã bị tác động bởi phin lọc nhận thức của mình.

Điều này có nghĩa, chúng ta không thể thực sự hiểu thế gian, hoặc thực sự quan sát thế gian, nếu mình chưa tìm hiểu tâm mình cùng những phương thức mà tâm sử dụng để đồng sáng tạo thế gian. Những giáo lý và dụng cụ tu tập của chân sư đăng tải trên trang web này có mục đích giúp bạn làm điều đó, qua sự hiểu biết và điều ngự tâm mình.  

Nhân tiện xin nói thêm, cơ học lượng tử đã chứng minh giấc mơ quan sát khách quan của chủ nghĩa duy vật không thể thực hiện được nếu chúng ta loại trừ tâm ra, mà ngược lại chúng ta phải thấu hiểu tâm. Vậy thì tâm đáng lý phải là lãnh vực khoa học quan trọng hơn cả, bởi vì không có gì không bị tâm ảnh hưởng. Và tất nhiên, tâm chính là đề tài chủ yếu của khoa học tâm linh.   

Chúng ta là ai?

Theo lời dạy của các chân sư, các khám phá trên đưa tới kết luận tự nhiên là thế giới vật chất giống như một cái máy giả thực tại (reality simulator). Vật chất rắn đặc mà chúng ta thấy thật ra không rắn đặc. Mọi thứ trên địa cầu được tạo bằng năng lượng rung động, nhưng khi chúng ta nhìn nó qua phin lọc nhận thức của giác quan và cái tâm vỏ ngoài, nó hiện ra như một thế giới vật chất rắn đặc. Chính điều này khiến cho đa số con người tin mình bị giới hạn bởi khả năng ít ỏi của cơ thể vật lý, thậm chí con tưởng tâm mình là sản phẩm của não bộ vật lý.

Các chân sư dạy rằng chúng ta là những sinh thể tâm linh, nghĩa là cốt lõi của tâm mỗi người đã được sinh tạo trong cõi tâm linh. Sau đó chúng ta mới đi xuống vùng năng lượng vật chất nơi tâm mình nhập vào xác thân vật lý dày đặc. Sau một thời gian dài, đa số chúng ta đã quên mất nguồn gốc tâm linh của mình, rồi tin chắc như đinh đóng cột vào hai loại ảo tưởng phổ biến trên địa cầu, đó là (1) ảo tưởng mình là kẻ có tội do một Thượng đế giận dữ sinh ra, và (2) ảo tưởng mình là những sinh thể hoàn toàn vật chất, một loại thú vật đã tiến hóa.      

Con người quên mất nguồn gốc của mình, một mặt là do đã sử dụng quyền tự quyết của mình một cách thiếu quân bình, và mặt khác vì bị khuynh loát bởi một số sinh thể cực kỳ ích kỷ muốn lập thành một giai cấp thượng lưu quyền lực. Con đường tâm linh mà các chân sư chủ trương nhằm giúp chúng ta tự giải thoát khỏi cả hai loại ảnh hưởng này.

Dù chúng ta đã quên mất nguồn gốc tâm linh nhưng chúng ta không thể đánh mất khả năng tìm lại nhận thức đó. Vậy thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể khởi sự một tiến trình, gọi là đường tu tâm linh, nhằm giải thoát bản thân khỏi những ảo tưởng đang trói buộc đa số chúng ta vào trái đất. Tất nhiên hành trình này sẽ không nhanh chóng, nhưng chắc chắn đó là một hành trình thực tiễn sẽ thay đổi lớn lao ngoài sức tưởng tượng cách chúng ta kinh nghiệm cuộc sống trên địa cầu.

Kinh nghiệm đời sống

Tại sao có người hạnh phúc, hài lòng với đời mình trong khi người khác lại buồn khổ, bất mãn? Tại sao có người nhìn đời tích cực nhẹ nhõm trong khi người khác như phải quằn lưng gánh vác cuộc đời? Chúng ta đều sống trên cùng một hành tinh, vậy tại sao trải nghiệm khác nhau như vậy?   

Các chân sư dạy rằng quả thật là có một môi trường vật lý gọi là địa cầu. Tất cả chúng ta đều sống ở đây, và tuy rằng hoàn cảnh ở mỗi nước mỗi khác, nhưng tựu trung, tâm chúng ta đều có cùng một cơ cấu vận hành. Tâm chúng ta tương tác với môi trường, nhưng cái tạo ra trải nghiệm nội tâm KHÔNG PHẢI là hoàn cảnh bên ngoài mà là hoàn cảnh bên trong.

Môi trường chúng ta sống là một trường năng lượng. Tâm chúng ta, kể cả tâm vô thức, cũng là trường năng lượng. Hai người khác nhau có thể có cùng hoàn cảnh bên ngoài, nhưng kinh nghiệm cuộc đời tùy thuộc vào những gì xảy ra bên trong tâm mỗi người, kể cả những lớp tiềm thức của tâm. Đó là lý do tại sao hai người gặp cùng ngoại cảnh mà nội cảnh lại khác nhau.  

Đa số chúng ta được dạy dỗ rằng cách duy nhất để cải thiện kinh nghiệm đời sống là thay đổi ngoại cảnh. Chúng ta được dạy dỗ rằng kinh nghiệm bên trong chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh bên ngoài. Nếu nghĩ vậy thì thật là thối chí, bởi vì trong đời hẳn sẽ có một số điều kiện sống – kể cả những người chung quanh mình – mà mình không có khả năng thay đổi. Từ đó sẽ cảm thấy bất lực vì các chọn lựa để cải tiến đời mình trông ra thật giới hạn.

Nhưng chúng ta không nên thất vọng bởi vì có một lối thoát hiển nhiên. Đó là nhận ra rằng nội cảnh mới thật sự định đoạt kinh nghiệm sống của mình, và chúng ta có tiềm năng điều ngự cái tâm đó. Khi làm vậy, chúng ta sẽ cải thiện kinh nghiệm sống cho dù ngoại cảnh không thay đổi. Nhưng hơn thế, chân sư còn dạy rằng một khi tâm được điều ngự thì chính những hoàn cảnh bên ngoài cũng có thể thay đổi tốt hơn. Muốn hiểu điểm này, cần hiểu thế gian được sáng tạo thế nào.

Sáng tạo địa cầu

Chân sư dạy rằng hành tinh của chúng ta được bảy vị chân sư thăng thiên sáng tạo, gọi là các Elohim. Các thày dùng năng lượng tâm linh mà các thày đã phú cho bảy loại rung động khác nhau. Sau đó các thày kết hợp viễn kiến, sử dụng quyền năng tâm mình để phóng chiếu viễn kiến đó vào năng lượng tâm linh ban sơ qua những chiếc khuôn đúc tạo sinh. Năng lượng lấy hình tướng của những hình ảnh phóng chiếu ra, và đó là phương thức mà hình thể được tạo dựng.

Địa cầu nguyên thủy do các Elohim tạo ra có rung động cao hơn bây giờ rất nhiều. Như được gợi ý trong một số huyền thoại sáng thế, con người nguyên thủy có đời sống tinh thần cao hơn. Vào thời thuần khiết ban sơ đó, chúng ta có khả năng đồng sáng tạo mọi thứ mình cần qua quyền năng tâm mình, tức là chúng ta không phải làm việc nặng nhọc để nuôi cơ thể.  

Nhưng qua một tiến trình sẽ được giải thích ở một phần khác, chúng ta đánh mất tỉnh giác về quyền năng sáng tạo ban đầu của mình và rơi xuống một tầng tỉnh giác thấp hơn để rồi quên mất nguồn gốc của mình. Từ đó tới nay, chúng ta đã đồng sáng tạo ra tất cả mọi hạn chế và xung đột được thấy ngày nay, và đó là lý do chúng ta phải “làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn”.

Nói cách khác, loài người đã dùng cái mẫu nguyên thủy thanh cao của các Elohim rồi đồng tạo ra hoàn cảnh bất toàn hiện tại của mình. Nhưng không nên nản lòng, vì nếu chúng ta đã tạo ra hoàn cảnh này bằng cách phóng chiếu hình ảnh ô uế, thì chúng ta cũng có khả năng tháo gỡ bằng cách chiếu chồng lên những hình ảnh thanh khiết. Vậy điều chúng ta cần làm trước hết là thanh tẩy tâm mình cho không còn hình ảnh cùng năng lượng ô uế.

Chúng ta có thể làm điều này cho cá nhân mình. Với hệ thống tu tập mà các thày chỉ dạy, chúng ta sẽ cải thiện trước hết kinh nghiệm sống của mình, rồi sau đó cải thiện hoàn cảnh cá nhân. Thời nay với ngày càng nhiều người cùng đi trên hành trình tâm linh, chúng ta cũng sẽ cải thiện được hoàn cảnh chung trên toàn địa cầu mà tâm thức tập thể đã gây ra. Như vậy, nâng cao tâm thức cá nhân cũng sẽ năng cao tâm thức tập thể.   

Các chân sư đã trao cho chúng ta một phương pháp thiết thực, không những để hồi phục sự thanh khiết nguyên thủy của địa cầu, mà còn để xây dựng tốt đẹp hơn nữa. Các Elohim chỉ đặt nền tảng, còn chúng ta với khả năng đồng sáng tạo mới có thể làm cho địa cầu tốt đẹp hơn nữa.   

Những tầng lớp của tâm

Như chân sư đã giải thích, thế giới vật chất được tạo nên bằng cách lấy năng lượng từ cõi tâm linh rồi kéo độ rung thấp xuống. Chỉ có các chân sư mới có quyền năng làm điều này và đó là chức năng của các thày. Khi đưa năng lượng xuống tần số vật chất, các thày trao cho chúng ta một phần năng lượng đó – là nguồn sinh lực đằng sau mọi nỗ lực đồng sáng tạo – để chúng ta toàn quyền sử dụng.   

Trong ý định nguyên thủy, chúng ta là người đồng sáng tạo với chân sư. Khi tiếp nhận dòng năng lượng sáng tạo từ chân sư, chúng ta phóng chồng lên hình ảnh của tâm mình để tạo ra hình thể. Có nghĩa là nguyên vũ trụ vật chất này được đứng vững nhờ dòng năng lượng tâm linh do các thày cho tuôn chảy xuống cõi vật chất. Đây không những là dòng sinh lực để chúng ta sống còn, mà còn là dòng tâm thức để chúng ta tự nhận biết. Đa số nhân loại không hay biết gì về năng lượng sáng tạo này, và cũng không nhận được nhiều lắm. Nhưng là người tu tập theo chân sư thì khác, chúng ta sử dụng năng lượng một cách tỉnh giác hơn và do đó nhận được nhiều ánh sáng hơn để mình sáng tạo nhiều hơn.

Muốn tăng trưởng khả năng sáng tạo, chúng ta phải sẵn sàng xem xét nội dung tâm mình, vì ở đó đang tồn tại một số điều kiện có thể ngăn cản dòng sáng tạo chảy xuống. Tức là chúng ta phải sẵn sàng xem xét mọi tin tưởng mình đang có, không chỉ ý thức mà cả tiềm thức, bởi vì những lớp tâm tiềm thức này ảnh hưởng sâu đậm khả năng sáng tạo cùng kinh nghiệm sống của mình.

Các thày dạy rằng con người có bốn tầng trong tâm phàm:

  • Tầng ý thức, nơi chúng ta nhận biết ý tưởng cùng cảm xúc của mình, và lấy những quyết định ý thức.
  • Tầng cảm xúc, nơi cảm xúc trú ngụ.
  • Tầng lý trí, nơi ý tưởng trú ngụ, trong đó có nhiều ý tưởng tiềm thức.
  • Tầng bản sắc, nơi chúng ta cảm nhận sâu xa mình là ai.

Phần lớn sinh hoạt nơi ba tầng cao (tình cảm, lý trí, bản sắc) đều ẩn khuất khỏi sự nhận biết ý thức, và điều này tác động chúng ta rất sâu đậm. Chẳng hạn, chúng ta có những khuôn nếp trong tâm khiến mình luôn phản ứng một cách nhất định trước một tình huống nào đó, nghĩa là mình đánh mất khả năng phản ứng ý thức, hay không biết ngừng lại để thay đổi cách phản ứng. Nhưng một khi bước vào đường tu tâm linh thì có một yếu tố trở nên vô cùng quan trọng, đó là giành lại quyền quyết định ý thức khỏi sự chi phối của tiềm thức, và tự tháo gỡ khỏi các cơ cấu tiềm thức đang giới hạn mình.  

Cách sắp xếp làm bốn tầng kể trên đi từ ý thức vào tiềm thức, vậy bây giờ chúng ta hãy thử sắp lại theo độ rung năng lượng. Khi làm vậy, thứ tự sẽ lật ngược, và chúng ta sẽ hiểu trọn vẹn hơn. Như đã trình bày, ở trên cõi vật chất có một cõi tâm linh. Cõi này được tạo bằng cùng một “chất” với cõi vật chất, chỉ khác ở độ rung động cao hơn mà thôi. Độ rung động này bị kéo thấp xuống khi chảy vào cõi vật chât, hay nói cách khác, có một dòng năng lượng chảy từ cõi tâm linh xuống cõi vật chất, tuy nhiên trước khi xuống được cõi vật chất hay vật lý thì nó phải chảy qua ba cõi khác.  

Ba cõi “trung gian” này chính là cõi vận hành của ba tầng cao của tâm – cõi bản sắc ở tầng cao nhất là cõi vận hành của bản sắc, cõi lý trí là cõi vận hành của tầng lý trí, và cõi cảm xúc của tầng cảm xúc. Như vậy khi năng lượng tâm linh chảy xuống, trước hết nó bị kéo thấp xuống độ rung của cõi bản sắc. Năng lượng gặp gỡ những khuôn đúc tạo sinh nằm ở nơi đây và khoác lấy hình dạng của khuôn, là những hình dạng bản sắc. Chẳng hạn nếu chúng ta xem mình là một loài thú tiến hoá, thì tự động cái khuôn bản sắc này sẽ hạ thấp năng lượng xuống, hạn chế khả năng sáng tạo.

Sau khi chảy qua cõi bản sắc, năng lượng lại bị kéo thấp xuống độ rung của cõi lý trí. Một lần nữa, nó lại biến dạng theo những khuôn đúc tạo sinh nằm ở đây là tư tưởng. Chẳng hạn nếu nghĩ mình chỉ là sinh vật thuần vật chất thì ý tưởng này sẽ giới hạn khả năng sáng tạo của mình đáng kể.  

Năng lượng chảy tiếp xuống cõi cảm xúc, và y như trên, nó lại lấy hình dạng của các khuôn đúc của tình cảm. Chỉ sau khi đi qua ba cõi, năng lượng mới xuống đến cõi thấp nhất là tầng ý thức của tâm, và bây giờ thì chúng ta mới có khả năng sử dụng nó một cách ý thức. Nhưng vì nó đã chảy qua ba tầng cõi nơi nó đã bị thâu hẹp lại, cho nên ý thức ở cõi thấp hơn chỉ thấy được sót lại rất ít chọn lựa.

Hiển nhiên, những khuôn đúc nằm sâu nhất trong chúng ta là ở cõi bản sắc. Một khi năng lượng tâm linh đã khoác lấy hình tướng của khuôn bản sắc thì cõi thấp hơn là lý trí sẽ không có khả năng đi ngược lại hình tướng đó.

Cũng vậy, cảm xúc không thể nào đi ngược lại những khuôn nếp sinh tạo của lý trí. Và bởi vì cảm xúc thường sôi sục hỗn độn, nên chúng ta sẽ không ý thức được tác động của những cái khuôn lý trí này. Đó là tại sao nhiều người khi bị cuốn xoáy trong cơn bức xúc nóng giận cảm thấy hoàn toàn bất lực, không làm sao vận dụng được tâm ý thức để nhận diện những khuôn nếp nằm sẵn ở trên đã tạo ra phản ứng ở dưới. Và họ biến thành kẻ nô lệ của khuôn nếp, phản ứng máy móc và mù quáng trước ngoại cảnh.    

Vậy thì bạn thử suy ngẫm xem về quyền tự do chọn lựa. Giả thử bạn có một bản sắc hạn hẹp, nó sẽ giới hạn những gì bạn nghĩ bạn có thể hoàn thành trong đời sống. Mọi ý tưởng của bạn ở tầng dưới sẽ bị nhốt trong ranh giới mà bản sắc đã vạch ra, và trong tiềm thức, bạn sẽ bác bỏ một số ý tưởng là không thực tế. Xuống dưới hơn, cảm xúc của bạn chỉ có thể sinh sản trong cái khung mà ý tưởng đã dựng lên, khiến bạn phản ứng trong sự sợ hãi hay sự giới hạn. Khi cuối cùng bạn đối mặt với một tình huống bên ngoài, phản ứng của bạn hầu như đã hoàn toàn được định trước bởi những cái khuôn ở ba cõi trên. Bạn có rất ít khả năng dùng ý thức của mình ở cõi dưới để đi ngược lại khuôn nếp hầu sử dụng quyền tự do của mình. Nhưng nếu bạn đi theo đường tu của các chân sư, bạn sẽ có thể từ từ lấy lại khả năng chọn lựa tự do và ý thức.

Thay đổi tâm thức đại chúng

Như vậy, đường tu mà các chân sư giảng dạy giúp chúng ta lấy lại quyền làm chủ trên cả bốn tầng của tâm. Chúng ta biến các trói buộc tiềm thức thành ý thức, rồi chúng ta hóa giải chúng. Kết quả tức thì là mình tự giải thoát khỏi những khuôn nếp xúc cảm đang hủy hoại mình. Xa hơn, sẽ tự giải thoát khỏi những khuôn nếp tư tưởng đang hạn chế mình. Và với thời gian, sẽ phát hiện và thay đổi một cách ý thức những khuôn nếp bản sắc đang tước đoạt quyền sống của mình.

Trước hết, tiến trình này sẽ cải thiện kinh nghiệm sống của chúng ta. Chúng ta lấy lại khả năng chọn lựa những phản ứng tốt đẹp trước mọi tình huống ngoại cảnh, và nhờ thế đạt được an bình nội tâm. Nhưng xa hơn, chúng ta sẽ được cả khả năng thay đổi ngoại cảnh chung quanh và đồng sáng tạo một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi có nhiều người cũng làm được vậy, tâm thức và hoàn cảnh sống tập thể sẽ cải thiện theo (như chúng ta đã thấy xảy ra ở môt số nơi).   

Trên mặt tập thể, nhân loại cũng có bốn tầng của tâm y như mỗi chúng ta có bốn tầng trong tâm cá nhân. Tần số rung động của bốn tầng tập thể này cấu tạo thành vũ trụ vật chất. Sống trong xã hội, con người thường bị các khuôn nếp phản ứng tập thể đó áp đảo, khuất phục. Ví dụ như ở vùng Trung Đông, người dân ở đó khó lòng thoát khỏi sự oán giận khi mình bị ngập đầu trong năng lực căm hờn tràn lan khắp nơi chốn.  

Khi cất bước trên đường tu tâm linh, chúng ta sẽ tuần tự gỡ bỏ mọi ảnh hưởng của tâm thức tập thể trên tâm mình. Như khi giải thoát tình cảm mình khỏi năng lượng của nóng giận, thì lập tức trong tâm sẽ không còn chút năng lượng nào mà sự nóng giận tập thể có thể chụp lấy để mà áp đảo, khuất phục ý chí chúng ta.

Tất nhiên là khi sống trong tập thể, chúng ta sẽ không tránh được ảnh hưởng của tâm thức tập thể. Tuy nhiên một khi đã tự tháo gỡ khỏi sức hút của tâm tập thể, mối quan hệ của chúng ta với tập thể sẽ trở thành lợi lạc cho tập thể. Trước kia thì bị tập thể chế ngự, nhưng bây giờ với tâm thức cao hơn, chúng ta có khả năng tác động ngược trở lại, tức là đóng góp để nâng cao tâm thức mọi người, giảm bớt – và cuối cùng gỡ bỏ – những sinh hoạt đang hủy hoại địa cầu.

Các chân sư rất rõ ràng về điểm này: chìa khoá để cải thiện điều kiên sống trên địa cầu là nâng cao tâm thức của tập thể. Tại sao? Bởi vì mọi điều kiện tiêu cực trên thế giới đều do tâm tập thể đồng tạo ra. Lấy bạo lực chẳng hạn, nó không ngừng tái tạo và sinh sản bởi vì năng lực tâm linh chảy xuống tập thể cứ bị các khuôn nếp bạo lực nơi lý trí và cảm xúc làm cho ô uế.

Chìa khoá để thay đổi các điều kiện vật chất không nằm trong nỗ lực thay đổi vật chất, mà trong sự cải thiện ở ba tầng cao khiến cho cải thiện vật chất thị hiện dễ dàng hơn. Chẳng hạn, chúng ta không thể áp đặt một thể chế dân chủ khi tâm thức tập thể chưa sẵn sàng, thế nhưng một khi tâm thức đã nâng cao thì một thể chế dân chủ sẽ dễ dàng thành hình.

Và đây là lý do tại sao các chân sư nói rằng chỉ cần một số nhỏ những người tâm linh trở nên tỉnh giác để kích hoạt những thay đổi to lớn trong xã hội và cuối cùng sẽ thay đổi cả bộ mặt hành tinh vật lý. Nhiều người tâm linh đang đầu thai cảm nhận khá rõ rằng đây là mục đích đầu thai của mình trong thời đại hôm nay. Chúng ta có mặt ở đây để đem lại một số thay đổi quan trọng và đóng góp khởi hiện một thời hoàng kim. Các chân sư đã trao cho chúng ta giáo lý cùng những dụng cụ tu tập dũng mãnh nhất để chúng ta làm tròn mục đích sống của mình – mục đích sống này chính là lý do chúng ta đầu thai.

Các chân sư thăng thiên được biết đến nhiều nhất

Dưới đây là những chân sư thăng thiên quen thuộc nhất.

Giê-su

Chân sư thăng thiên Giê-su từng hiện thân cách đây 2000 năm như nhân vật Jesus lịch sử, thế nhưng sứ mạng cùng thông điệp thực sự của thày rất khác với những gì được đạo Cơ đốc chính mạch mô tả. Chân sư Giê-su đã hiện thân để chứng thực một con đường dẫn đến một trạng thái tâm thức cao hơn – là quả vị Ki-tô cá nhân – mà mỗi người trong chúng ta đều có tiềm năng chứng đạt. Nhưng các tà lực đã khiến cho thông điệp của thày bị tha hóa, biến thày thành một ngoại lệ mà không ai có thể theo chân. Bạn có thể đọc thêm nhiều bài viết, bằng Anh ngữ, về đề tài này trên trang riêng của Giê-su.

Suốt 2000 năm qua, cũng được gọi là Thời đại Song ngư, Giê-su đã là vị chân sư chủ yếu trông coi sự phát triển tâm linh của địa cầu. Trách vụ này hiện do chân sư Saint Germain đảm nhiệm, là người sẽ trông coi sự tiến hóa của địa cầu trong 2000 năm tới, Thời đại Bảo bình. Giê-su vẫn giữ trách vụ Đấng Cứu thế của Hành tinh, cũng như trách vụ Thày giáo của Thế giới cùng với chân sư Kuthumi.

Trái với những gì đạo Cơ đốc chính mạch tin tưởng, Giê-su không sinh ra khác gì tất cả chúng ta, và thày đã từng sống qua rất nhiều kiếp đầu thai trước khi đạt đến mức tâm thức cho phép thày thực hiện sứ mạng của mình qua khuôn mặt lịch sử Jesus. Bạn có thể đọc về những tiền kiếp của thày trong quyển sách “My lives with Lucifer, Satan, Hitler and Jesus”.

Mẹ Mary

Chân sư thăng thiên Mẹ Mary từng hiện thân là thân mẫu của Giê-su cách đây 2000 năm. Trước đó, thày cũng đã nhiều lần đầu thai và ở cuối đời trong kiếp sống làm mẹ của Giê-su, thày đã thăng thiên.

Chân sư Mẹ Mary đảm nhiệm trách vụ Mẹ Thiêng liêng cho địa cầu cùng với Quan Âm và một số chân sư nữ khác. Mẹ Mary rất tích cực trong đợt truyền pháp lần này và đã đưa ra rất nhiều bài truyền đọc, bài cầu nguyện tràng hạt và bài cầu thỉnh để giúp chúng ta vượt qua các giới hạn của tâm lý mình cũng như các điều kiện luôn biến đổi của thế giới.

Saint Germain

Chân sư thăng thiên Saint Germain là chân sư chủ yếu trông coi địa cầu, hay vị đứng đầu địa cầu, trong chu kỳ 2000 năm sắp tới gọi là Thời đại Bảo bình. Thày đã hoạch định sự hiển thị của một Thời Hoàng kim cho nhân loại với những tiến bộ vượt bực về công nghệ, chính quyền và văn hóa, nhưng trên hết là sự phát triển tâm linh của mọi người trên trái đất.

Chân sư Saint Germain cũng là vị thượng sư của Tia sáng Thứ bảy của tự do. Thày đã có vô số kiếp đầu thai, trong đó có những kiếp là Joseph (thân phụ của Giê-su), Roger Bacon, Francis Bacon and bá tước Saint Germain. Thày thăng thiên vào ngày 1 tháng 5 năm 1684.

Trong thập niên 1930, Saint Germain được sự miễn phép của Hội đồng Nghiệp quả để phổ biến những hiểu biết chân truyền về Ngọn lửa Tím qua một tổ chức có tên là I Am Movement (Phong trào Ta Là) do Guy Ballard khởi xướng. Saint Germain cũng trông coi một tu viện tâm linh mang tên Cave of Symbols (Hang Biểu tượng).

Phật Gautama

Chân sư thăng thiên Gautama từng hiện thân là đức Phật lịch sử cách đây 2500 năm. Như Giê-su bị đạo Cơ đốc công truyền nâng lên thành một đấng khác bịêt với mọi người, một số giáo lý đạo Phật cũng làm điều tương tự với Gautama. Tuy nhiên, thày sinh ra cũng giống như mọi người trong chúng ta và đã đầu thai trong nhiều kiếp trước khi đạt được mức tâm thức cho phép thày thực hiện sứ mạng chứng thực con dường dẫn tới quả vị Phật.  

Chân sư Gautama hiện đảm nhiệm trách vụ Phật Hành tinh và thày cũng trấn giữ không gian cho địa cầu, có nghĩa là thày cầm giữ sự quân bình tâm linh để không gian có thể hiện hữu dưới một hình dạng tiến chậm hơn mức tiến hóa của phần còn lại của vũ trụ (tức là vật chất ở đây dày đặc hơn mọi nơi khác), nhờ đó mà quyền tự quyết mới có thể được thực hiện trên địa cầu.

Đại thiên thần Michael

Đại thiên thần Michael là vị đại thiên thần của Tia sáng Thứ nhất của ý chí và quyền năng cùng với Đại thiên thần nữ Faith. Thày thường được biết đến như là đấng bảo vệ con người khỏi các tà lực và trong mục đích đó, thày đã cung ứng một số bài chú và bài nguyện tràng hạt.

Một điều quan trọng cần hiểu là tuy rằng Đại thiên thần Michael thường là đấng khống chế tà lực, nhưng thày không tự xem mình phải chống đối hay chiến đấu với các tà lực. Trái lại, chính tà lực mới thấy mình đối chọi với thày, trong khi thày thì thấy mình bất động. Như thế, sự hung dữ của chúng lại là yếu tố kềm chế chúng, vì thày chỉ đơn giản không lay chuyển và phản chiếu lại cho chúng những gì chúng phóng ra về phía thày.

Nhiều người nhận được những kết quả rất tốt đẹp, và thường là mau chóng, khi thỉnh cầu sự bảo vệ của Đại thiên thần Michael.

El Morya – Master MORE

Chân sư thăng thiên MORE là vị thượng sư của Tia sáng Thứ nhất của ý chí và quyền năng. Thày được biết đến qua nhiều bài giảng dạy tâm linh và những đợt truyền pháp trước đây dưới danh tính El Morya, tuy nhiên trong đợt truyền pháp này, thày đã đổi tên là MORE (HƠN NỮA) hầu hối thúc học trò của thày đã dựng lên một hình tư tưởng quá cứng ngắc về thày. Thày thách thức chúng ta hãy nhận ra thày là nhiều hơn tất cả những hình ảnh mà chúng ta có về thày.

Chân sư MORE đã đầu thai nhiều lần, trong số đó có Thomas More và nhà thơ Thomas Moore nước Ireland, trước khi thày thăng thiên năm 1898. Trước khi thăng thiên, thày có tham gia vào việc thành lập Hội Thông thiên học cùng với chân sư Kuthumi.

Quan Âm

Chân sư Quan Âm được nhiều người biết đến ở phương Đông như là một trong những vị thánh của đạo Phật. Thày được biết đến như là vị Bồ tát của lòng từ bi và nhân ái, hay là vị nghe được tiếng khóc của chúng sinh. Truyền thuyết kể rằng vào thời điểm thày chuẩn bị thăng thiên, thày nghe thấy tiếng kêu gào của loài người đau khổ và nguyện ở lại địa cầu trong tư cách một chân sư thăng thiên để cứu giúp tất cả những ai chưa siêu thoát.

Chân sư Quan Âm đảm nhiệm trách vụ Mẹ Thiêng liêng cùng với Mẹ Mary và cũng có tên là Nữ thần Bi mẫn. Trong quá khứ, thày đã từng là vị thượng sư của Tia sáng Thứ bảy.

Lord Maitreya

Chân sư Maitreya được biết đến như là vị Đại Khởi xướng. Một số giáo lý của các chân sư thăng thiên dạy rằng Vườn Eden là một trường học tâm linh (hay trường bí giáo) mà Maitreya là vị khởi xướng chủ yếu, tức đấng gọi là “Thượng đế” hay “Chúa Trời” trong kinh Sáng thế. Tuy nhiên, có giáo lý của các chân sư cũng dạy rằng sau khi Sanat Kumara đến địa cầu, Gautama và Maitreya là hai vị đầu tiên hưởng ứng xin theo. Gautam thăng thiên trước, Maitreya thăng thiên sau. Vì Gautama thăng thiên cách đây 2500 năm và Vườn Eden thì được thiết lập trước đó rất lâu, hình như có sự mâu thuẫn ở đây.  

Tuy nhiên, một khi chúng ta hiểu rằng danh tính của các chân sư thật ra cũng là danh hiệu của trách vụ, thì mâu thuẫn này không còn. Song song với sự tiến hóa của địa cầu và ngày càng có nhiều người thăng thiên, các trách vụ của Đại đoàn Chưởng giáo có thể thay đổi vị phụ trách, và một chân sư mới có thể vào thay thế chân sư cũ. Quả thật là có một chân sư tên là Maitreya đứng đầu trường bí giáo gọi là Vườn Eden. Vị ấy không đầu thai làm người mà thăng lên một bầu cõi cao hơn. Sau đó, có một vị khác đã thăng thiên và tiếp quản trách vụ đó cùng với danh tính Maitreya.

Sanat Kumara

Chân sư Sanat Kumara có một lịch sử vô cùng lâu đời. Thày không đến từ một hành tinh đặc biệt nào có tên gọi. Thày từng khôi hài tự ví mình là “kẻ hốt rác của vũ trụ”, ý muốn nói là thày đã “du hành” đến một số hành tinh đang đứng trên bờ vực của sự hủy diệt hầu giúp đưa những hành tinh này xoay chuyển, bước vào một vòng xoáy ốc đi lên. Vị đối tác tinh thần của Sanat Kumara là chân sư Venus.

Trước khi đến địa cầu, Sanat Kumara đã phụng sự trên hành tinh Venus. Cách đây rất lâu, địa cầu rơi xuống một tầng tâm thức thấp kém đến độ các hội đồng vũ trụ phải tính đến chuyện để cho địa cầu tự hủy. Sanat Kumara tình nguyện đến làm việc với địa cầu, và cùng với thày có 144,000 dòng sống ở Venus cũng quyết định theo chân để đầu thai trên trái đất. Sanat Kumara thiết lập một khu an toàn ở cõi bản sắc, nơi đó các dòng sống từ Venus được từ hóa. Một trường học huyền bí được dựng lên trong cõi vật lý ở một vùng mà bây giờ là sa mạc Gobi. Bạn có thể đọc thêm về những sự kiện này trong sách “My lives with Lucifer, Satan, Hitler and Jesus”.   

Serapis Bey

Chân sư Serapis Bey là vị thượng sư của Tia sáng Thứ tư. Thày cũng đứng đầu một tu viện tâm linh quan trọng dành riêng cho các hành giả cần sự giúp đỡ để bước vào vòng xoáy đi lên hầu đạt đủ tư cách thăng thiên.

Danh sách các chân sư giữ trách vụ trong bảy tia sáng

Các Elohim

  • Tia thứ nhất: Elohim Hercules
  • Tia thứ hai: Elohim Apollo
  • Tia thứ ba: Elohim Heros
  • Tia thứ tư: Elohim Purity và Astrea
  • Tia thứ năm: Elohim Cyclopea
  • Tia thứ sáu: Elohim Peace
  • Tia thứ bảy: Elohim Arcturus và Victoria.

Các Đại thiên thần

  • Tia thứ nhất: Đại thiên thần Michael
  • Tia thứ hai: Đại thiên thần Jophiel
  • Tia thứ ba: Đại thiên thần Chamuel và Charity
  • Tia thứ tư: Đại thiên thần Gabriel
  • Tia thứ năm: Đại thiên thần Raphael
  • Tia thứ sáu: Đại thiên thần Uriel
  • Tia thứ bảy: Đại thiên thần Zadkiel.

Các Thượng sư

  • Tia thứ nhất: El Morya – Master MORE
  • Tia thứ hai: Lanto
  • Tia thứ ba: Paul the Venetian
  • Tia thứ tư: Serapis Bey
  • Tia thứ năm: Hilarion
  • Tia thứ sáu: Nada
  • Tia thứ bảy: Saint Germain.

Các tia sáng tâm linh

Tia sáng tâm linh là một khía cạnh ít được thông hiểu trong hành trình tâm linh nhưng lại thật quan trọng. Xin đơn cử một vài lý do chủ yếu:

  • Bất cứ gì bạn làm trong đời đều sử dụng năng lượng của một trong bảy tia sáng tâm linh. Toàn thể thế giới vật chất được tạo bằng bảy tia sáng.
  • Mỗi hạn chế mà bạn phải đối mặt trong cuộc sống đều xuất xứ từ sự tha hóa của một hay nhiều tia sáng.
  • Cách DUY NHẤT để thăng vượt một hạn chế nào đó là giải thoát mình khỏi (1) niềm tin tưởng đã tạo ra hạn chế, và (2) năng lượng thấp kém được phát sinh.
  • Cách DUY NHẤT để biến hóa năng lượng thấp kém xuất phát từ tia sáng tha hóa là cầu thỉnh năng lực thuần khiết của chính tia đó, bởi vì mỗi tia là thuốc giải độc cho năng lực tha hóa của tia đó.

Nói ngắn gọn, chỉ qua sự hiểu biết các tia sáng tâm linh mà bạn mới có thể thật sự nhận diện và vượt qua những hạn chế mà bạn đương đầu. Xin mô tả sau đây mỗi tia sáng trong hai cách sử dụng, thuần khiết hay tha hóa. Với mỗi tia sáng, một số “nhân sự” có trách vụ tâm linh cũng được liệt kê:

  • Vị Elohim đại diện cho trách vụ xây dựng vũ trụ vật chất.
  • Vị Đại thiên thần đại diện cho trách vụ trung gian hay sứ giả giữa cõi tâm linh và vật chất.
  • Thượng sư là vị chân sư đảm nhiệm chủ yếu trách vụ trợ giúp loài người trên đường khai ngộ dẫn đến thượng thăng.

Tia thứ nhất

Kim Throat_Chakra_2

  • Màu sắc: Xanh dương
  • Luân xa liên hệ: Cổ họng
  • Elohim: Hercules và Amazonia
  • Đại thiên thần: Michael và Faith
  • Thượng sư: Chân sư More, cũng được biết dưới danh tính El Morya, Morya, Master M, M, hoặc Bapu.

Các đức tính thuần khiết:

Thường được xem là tia sáng của quyền năng và ý chí, tuy nhiên nếu hiểu sâu sắc hơn thì tia thứ nhất biểu tượng cho nghị lực sáng tạo. Đây là ý muốn tự biểu thị, sốt sắng trải nghiệm cho dù kết quả trải nghiệm không thể đoán trước. Đây cũng là thái độ sẵn sàng nhập vào dòng sống và tích cực học hỏi từ mỗi kinh nghiệm.

Tia thứ nhất khiến cho con người cảm thấy mọi việc đều có tầm quan trọng, cuộc đời vô cùng hứng thú, và mỗi cá nhân có khả năng thật sự thay đổi cục diện một cách tích cực. Tia thứ nhất cũng là chìa khóa khiến cho con người hào hứng nâng cao toàn thể thay vì chỉ nâng cao chính mình.    

Những mặt tha hóa:

Khi tha hóa, nghị lực sáng tạo trở thành nỗi sợ hãi những gì mình không nắm biết, dẫn đến sự lạm dụng quyền lực nhằm kiểm soát mọi tình huống, kể cả kiểm soát người khác. Đương sự sợ hãi không dám tiến hành những công việc không bảo đảm trước được kết quả, và khi đó, tất nhiên khả năng sáng tạo bị  thui chột.   

Những người có tia thứ nhất tha hóa thường lao vào trò tranh giành quyền lực để cố kiểm soát cho sự việc đạt được kết quả mình muốn. Nhưng điều này bóp chết cái lực sống trong mỗi sự sống luôn mong muốn thăng vượt lên, và cuối cùng chỉ có tự ngã được cảm thấy an toàn trong sự nắm giữ và sỡ hữu cái gì nó muốn trong thế gian. Hậu quả là đương sự muốn sở hữu luôn cả người khác – một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xung đột trong nhân loại. Trong những trường hợp nhẹ, người đó sẽ sợ sáng tạo, cảm thấy bất lực và tin rằng cuộc đời không còn gì đáng làm, hay mình có đóng góp cũng chẳng đưa tới đâu.  

Tia thứ hai

Kim Crown_Chakra_2

  • Màu sắc: Vàng
  • Luân xa liên hệ: Đỉnh đầu
  • Elohim: Apollo và Lumina
  • Đại thiên thần: Jophiel và Christine
  • Thượng sư: Chân sư Lanto.

Các đức tính thuần khiết:

Thường được xem là tia sáng của minh triết, giác ngộ và tự hiểu biết, tuy nhiên ở mức sâu hơn, đây là tia sáng đem lại khả năng nhận rõ tính không thực của ngã tách biệt cũng như ảo tưởng của ý niệm tách biệt. Qua Tia thứ Hai, con người chiêm nghiệm sự thật cơ bản rằng mọi sự sống đều là một, và không có gì có thể tách rời khỏi Đấng Sáng tạo hiện diện khắp mọi nơi. Một đức tính khác của Tia thứ Hai là sự cởi mở đối với hiểu biết siêu việt, và sự chứng nghiệm rằng chân lý có nhiều cách diễn tả chính đáng khác nhau, nhưng mọi diễn tả đều tụ về cùng một thực tại bất nhị nằm bên dưới.     

Các mặt tha hóa:

Mặt tha hóa của Tia thứ Hai là minh triết giả hiệu, khi con người tưởng là mình biết tất cả, hay mình nắm một chân lý tối hậu. Ảo tưởng này là hệ lụy của ảo tưởng nhị nguyên, lầm tưởng rằng thực tại có thể chia ra thành từng phần riêng biệt, và tâm tách biệt có quyền và có khả năng định ra phần nào là đúng, phần nào là sai.

Sự tha hóa của Tia thứ Hai thường được thấy nơi những người tin tuyệt đối là mình đúng – đặc biệt những ai đã trở nên cuồng tín – và sẵn sàng cưỡng ép người khác phải tuân theo ý mình. Một sự tha hóa khác là chủ nghĩa trí thức, qua đó người ta sẵn sàng tranh cãi để ủng hộ hay chống đối một ý tưởng mà không chịu vượt lên trên ý tưởng đó để trực nghiệm Tánh linh vượt mọi ngôn từ.

Tia thứ ba

Kim Heart_Chakra_2

  • Màu sắc: Hồng
  • Luân xa liên hệ: Tim
  • Elohim: Heros và Amora
  • Đại thiên thần: Chamuel và Charity
  • Thượng sư: Chân sư Paul the Venetian.

Những đức tính thuần khiết:

Thường được xem là tia sáng của tình thương, từ bi, bác ái, vị tha, bất vụ lợi và khả năng thưởng ngoạn cái đẹp. Tuy nhiên trong cách hiểu sâu xa, tia thứ ba là chỗ trụ của sự quân bình.

Tình thương có thể được xem như là lực giữ thăng bằng cho sự sống, tạo sự quân bình giữa hai thái cực của tạo hóa – là lực lan ra (dương, hay Cha) và lực co lại (âm, hay Mẹ). Nếu hai lực này không hài hòa thì sẽ có xu hướng đẩy một trong hai ra cực điểm. Mất quân bình có nghĩa là hoặc lan ra quá xa và bị nổ tan tành, hoặc không xa đủ, tức là không đạt thành quả và tự tiêu diệt do co lại quá trớn.

Với đức tính của tia thứ ba, bạn có khả năng chứng nghiệm tính vô điều kiện, tức là thực tại vượt khỏi hai đối cực do tâm nhị nguyên dựng ra. Nếu nhị nguyên có mặt, bạn sẽ cảm thấy nó ngay, cho dù bạn chưa giải thích được cặn kẽ. Nhị nguyên luôn luôn có điều kiện, và bạn cảm thấy nó “không ổn” vì bạn đã chứng nghiệm trong tim bạn bản chất vô điều kiện của Thượng đế.   

Một người với tia thứ ba thuần khiết sẽ cảm nhận sâu xa trong nội tâm mình sự duy nhất của mọi sự sống, và từ đó có khả năng phân biện giữa điều gì “ổn” khi mọi sự sống được nâng lên, và điều gì “không ổn” khi chỉ có một phần nâng lên và phần kia bị kéo xuống. Bạn sẽ nhận ra điều nào là điều phải, cho dù lý trí bạn chưa thể giải thích tại sao, và cũng vậy, bạn sẽ nhận ra những điều gì do lòng vị kỷ thúc đẩy, và như thế bạn đạt được khả năng quân bình bản thân.  

Những mặt tha hóa:

Sự tha hóa của tia thứ ba nói chung là thiếu quân bình, nhưng nó có thể diễn tả qua nhiều cách vi tế. Có một cách thường gọi là tình yêu, nhưng kỳ thực chỉ là nỗ lực sở hữu và kiểm soát người khác. Đưa đến cùng cực, nó có thể biểu hiện qua sự thù ghét và ý muốn trừng phạt hay tiêu diệt những ai từ chối bị kiểm soát. Chẳng hạn, nhiều người đem lòng thương yêu nhưng lại tỏ ra muốn sở hữu đối tượng mình yêu thương.

Một cách tha hóa khác là tin rằng mọi phương tiện đều chính đáng để đạt được mục đích, có nghĩa là khi mình say đắm một “chính nghĩa” rồi thì mình có quyền cưỡng ép hoặc giết hại người khác để phục vụ chính nghĩa. Hình thức tha hóa này của tình thương đã gây ra những tội ác tàn bạo nhất trong lịch sử loài người. Ít có ai ngoan cố bằng những con người bị lòng cuồng tín làm cho nhân sinh quan mất hẳn quân bình. Đây cũng chính là lý do khiến người ta tin rằng mình phải giết người để chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thượng đế.

Tia thứ tư

Kim Base_Chakra

  • Màu sắc: Trắng ngần
  • Luân xa liên hệ: Gốc
  • Elohim: Purity và Astrea
  • Đại thiên thần: Gabriel và Hope
  • Thượng sư: Chân sư Serapis Bey

Các đức tính thuần khiết:

Thường được xem là sự thuần khiết, hy vọng và kỷ luật bản thân, tuy nhiên nếu hiểu sâu xa hơn, tia thứ tư chính là mặt tương tác giữa Tánh linh với thân thể vật lý và thế giới vật chất. Ở mức tia thứ tư, vấn đề đặt ra là liệu bạn có cho phép thế giới vật chất áp đảo Tánh linh, và như vậy giới hạn cách biểu đạt của bạn trong thế gian hay không. Nói cách khác, bạn có tin rằng các điều kiện của thế gian vật chất là có thực, thường trực và bất biến, hay là bạn hiểu được mình có khả năng cởi trói quyền năng sáng tạo để gia tốc thế gian vật chất – yếu tố Mẹ – khỏi mọi hoàn cảnh hiện tại?    

Với đức tính của tia thứ tư, bạn có quyền năng gỡ mình ra khỏi ảo tưởng cho rằng hình tướng vật chất là có thật, thường trực. Và như thế, bạn không còn bị kẹt trong chu kỳ bất tận khiến mình luôn tìm cách thỏa mãn những ham muốn thấp kém, xác thịt, phàm phu. Thay vào đó, bạn sẽ xem thế gian chỉ là một phương tiện để phát triển khả năng tự nhận biết, qua đó bạn tự động xa lánh những sinh hoạt không phục vụ mục đích này. Nhưng đồng thời, bạn cũng hiểu sâu sắc rằng không hề có sự xa lánh, mà chỉ có sự “tâm linh hóa” mọi sinh hoạt cuộc sống.    

Và thật vậy, ảo giác cuối cùng cần vượt qua trên hành trình tâm linh là ý niệm có sự phân cách giữa cõi tâm linh và cõi vật chất, giữa sinh hoạt tâm linh và sinh hoạt vật chất. Thay vào đó, bạn sẽ trụ trong duy nhất, và mọi việc đều trở thành tâm linh. Làm được vậy thì cũng hoàn thành được mục đích nguyên thủy khi bạn hiện thân làm người, là gia tốc các rung động của toàn thể vũ trụ vật chất lên một bực để nó trở thành một phần trường cửu của cõi tâm linh.  

Những mặt tha hóa:

Tha hóa của tia thứ tư thường được xem là bợn nhơ và hỗn loạn, nhưng hiểu sâu sắc, đó là sự lầm tin rằng các điều kiện hiện tại là có thật, là điều tự nhiên phải như thế, là vượt ngoài khả năng thay đổi của mình. Một người như vậy sẽ tin rằng thế gian tách hẳn khỏi cõi tâm linh, thậm chí còn thuộc về ác quỷ – mình không làm sao thay đổi được thì tốt nhất nên bỏ mặc cho nó làm sao cũng được.    

Hơn vậy, người với tia thứ tư tha hóa tin rằng mình không có quyền là một người tâm linh trong thế gian này, và không được quyền biểu hiện những đức tính tâm linh của mình trong thế gian. Người đó cho rằng phải chấp nhận và thích nghi với mọi điều kiện hiện hữu, và ở cùng cực, sẽ tin chắc rằng mình là một hình thể hoàn toàn vật chất, một sản phẩm của vũ trụ vật chất, đã đến từ bụi thì phải trở về với bụi. Với tâm thức đó thì không còn hy vọng gì thăng vượt lên được nữa. Thế nhưng sự sống lại là sự thăng vượt không ngừng, cho nên Giê-su mới gọi tâm thức này là “chết”, có nghĩa là chết tâm linh.   

Tia thứ năm

Kim Third_Eye_Chakra_2

  • Màu sắc: Xanh lục bảo
  • Luân xa liên hệ: Mắt thứ ba
  • Elohim: Cyclopea và Virginia
  • Đại thiên thần: Raphael và đức Mẹ Mary
  • Thượng sư: Chân sư Hilarion

Các đức tính thuần khiết:

Thường được xem là trụ sở của sự thật và viễn kiến – nhưng viễn kiến về điều gì? Tia thứ năm là chỗ trụ của viễn kiến đơn nhất, như được minh họa trong câu nói của Giê-su, “Nếu mắt con đơn nhất, toàn thân con sẽ tràn ngập ánh sáng”. Viễn kiến đơn nhất chính là viễn kiến Ki-tô nhìn thấu suốt qua mọi nhị nguyên. Đây là sự chứng ngộ rằng tất cả mọi cách diễn đạt “sự thật” trong cõi vật chất đều thiếu sót so với Tánh linh Sự Thật, có nghĩa là để chạm được chân lý, chúng ta phải vượt trên mọi cách diễn đạt vỏ ngoài.

Làm được vậy thì sẽ thấy mọi phân chia đều không thật, và hiểu được mình phải nâng cao mọi sự sống. Đây là tính phân biện Ki-tô, khả năng nhận diện tức thì và nhìn thấu qua mọi gian dối của nhị nguyên, bởi vì nhị nguyên luôn chỉ nâng một bên và dìm bên kia xuống. Điều này được phản ánh trong câu chuyện Vườn Eden khi rắn gieo ngờ vực vào tâm Eva với lời dụ dỗ, “Ông bà chắc chắn sẽ không chết đâu”. Tia thứ năm giúp bạn nhìn thấu lý luận gian manh của rắn. Bạn cũng thấy rõ mọi hình tướng của cõi vật chất đều tạm bợ và bạn trụ trong niệm tinh khôi rằng mọi người cùng mọi điều kiện sẽ được chuyển hóa.

Những mặt tha hóa:

Tha hóa của tia thứ năm là thiếu viễn kiến, thiếu khả năng phân biện giữa Chân lý bất nhị và vô số những “sự thật” nhị nguyên, vốn tạo lòng ngờ vực, tuyệt vọng rằng sự thật không thật có. Đó cũng là sự lầm tin rằng chỉ có một sự thật duy nhất là sự thật của mình. Do tin rằng mình nắm sự thật duy nhất đó mà đâm đầu giao chiến với bất cứ ai ủng hộ một ý thức hệ khác biệt, thậm chí còn cảm thấy việc phê phán và tiêu diệt những tư tưởng đối lập là cần thiết và có chính nghĩa. Tia thứ năm tha hóa biểu hiện nơi những người hay phê phán người khác hoặc ý kiến khác mình, lại còn chụp mũ họ là người xấu, mà không biết rằng tất cả chỉ là hình tướng phù du.     

Tia thứ sáu

Kim Solar_Plexus_Chakra_2

  • Màu sắc: Tím và vàng
  • Luân xa liên hệ: Đám rối dương (solar plexus)
  • Elohim: Peace và Aloha
  • Đại thiên thần: Uriel và Aurora
  • Thượng sư: Chân sư Nada

Các đức tính thuần khiết:

Thường được xem là tia sáng của an bình, nhưng là “sự an bình vượt mọi hiểu biết”. Đây là nội tâm không dao động khi không một hình tướng nhị nguyên nào còn khả năng lôi kéo mình, là sự tĩnh lặng thâm sâu dù đang đứng giữa cảnh binh đao sôi động, là khi chúng ta cảm được lực lôi kéo vào vòng chao đảo của giận dữ mà vẫn trụ vững nơi trung tâm, không nhập cuộc.        

Chỉ khi an định như vậy thì mới có thể thật sự quên mình phục vụ tha nhân, vì khi đó mới có trực giác đem lại sự hài hòa trong mọi tình huống. Và tất nhiên, hài hòa là chìa khóa để giúp con người vượt lên trên những vật lộn nhị nguyên hầu tìm đến điểm chung. Một người với đức tính tia thứ sáu, nhất là khi các luân xa cao đã thuần khiết, sẽ có biệt tài kết hợp mọi người để luôn luôn tìm được điểm gặp gỡ chung.      

Những mặt tha hóa:

Tha hóa dễ thấy nhất của tia thứ sáu là sự nóng giận và dao động, thể hiện qua cách cư xử hung hãn nhằm cưỡng ép người khác thay đổi, hoặc trừng phạt những ai chống cự lại. Đây là sự bất an vượt mọi hiểu biết, bởi vì không có cách nào bình tĩnh lý giải với một người đã tha hóa tia thứ sáu. Trong cơn nóng giận, đượng sự hành xử mù quáng, lầm lỡ để rồi lại hối tiếc, kể cả những chuyện mà ai ai cũng thấy là sai trái nhưng đương sự thì hoàn toàn không biết trong cơn đui mù lúc đó.  

Một tha hóa khác mà có người xem là tính hiếu hòa, nhưng thực sự chỉ là tính thụ động, từ chối có lập trường trong mọi hoàn cảnh. Người bị tha hóa như vậy thường nhận vai mình là nạn nhân, chỉ biết phản ứng trước những thế lực từ ngoài và từ chối nhận trách nhiệm cuộc đời mình. Một số khác đánh mất mọi cá thể đến độ mình hùa theo đám đông để hành động mù quáng, hay mình mù quáng đi theo một lãnh tụ quyền uy. Một nét tha hóa khác là đui mù tưởng rằng bạo hành và vũ lực có thể là một giải pháp khả thi, có khi còn là cách phản ứng hợp lý nhất, thậm chí là cách phản ứng duy nhất.

Tia thứ bảy

Kim Seat_of_Soul_Chakra_2

  • Màu sắc: Tím
  • Luân xa liên hệ: Nơi trụ của hồn (vùng đan điền)
  • Elohim: Arcturus và Victoria
  • Đại thiên thần: Zadkiel và Amethyst
  • Thượng sư: Chân sư Saint Germain và Quan Âm

Các đức tính thuần khiết:

Thường được xem là tia của tự do, tha thứ và công lý, tuy nhiên hiểu sâu xa hơn thì tia thứ bảy là nơi trụ các đức tính vui đùa, sẵn sàng đón nhận cuộc đời như trong câu nói của Giê-su, “Trừ khi con trở thành như một trẻ thơ thì con không thể vào được Vương quốc”. Khi bạn thể hiện đặc tính thuần khiết của tia sáng thứ bảy, bạn cảm nhận cuộc đời tốt thiện trong bản chất. Bạn có mặt trong đời để biểu lộ chính mình và nô đùa với tất cả. Bạn không lo lắng về đời sống hay khắc khoải về tương lai. Bạn hoàn toàn tin cậy Tánh linh sẽ che chở mình và Mẹ sẽ nuôi dưỡng mình. Bạn tràn ngập niềm tự do phơi phới, bạn mong muốn thưởng thức cũng như tô thắm cuộc đời qua biểu hiện sáng tạo.  

Những mặt tha hóa:

Sư tha hóa tia thứ bảy là xu hướng nhìn cuộc đời với thái độ cực kỳ hệ trọng, qua đó cả tự do lẫn công lý bị tha hóa. Bạn cảm nhận cuộc sống là cuộc tranh đấu triền miên, thậm chí bạn phải phấn đấu chống lại một lực lượng bất công đang tìm cách tước đoạt tự do của bạn.  

“Hãy cười nhạo ác quỷ thì hắn sẽ chạy đi mất”, câu châm ngôn này quả là chí lý, bởi vì khi bạn xem điều gì quá nghiêm trọng thì bạn trao cho nó quyền hạn tác động trên bạn. Tất nhiên trên đời cũng có nhiều chuyện bất công hạn chế tự do của bạn, vậy có nghĩa chăng là bạn nên xem nhẹ tất cả? Nói cho đúng, bạn cần giữ quân bình, và Giê-su có một nói câu khác cũng chí lý không kém, “Hãy khôn ngoan như rắn và vô hại như bồ câu”. Quả thật, bạn cần tìm sự quân bình giữa sự ngây thơ và thái độ nghiêm trọng quá đáng khiến bạn cảm thấy không thể nào tự do được nếu bạn chưa đổi được những điều kiện của thế gian vốn đã sẵn tạm bợ.  

Sự tha hóa cùng cực của tia thứ bảy là tư duy cuồng đại, qua đó người ta đinh ninh rằng thế giới là một cuộc chiến vĩ đại giữa thiện và ác, và mọi phương tiện đều chính đáng hầu đánh bại phe ác. Hậu quả là một sự vô cảm toàn diện đối với mạng sống, dẫn đến những sự dã man không kể xiết đối với con người. Và như mọi chuyện, vô cảm đối với người khác xuất phát từ vô cảm đối với chính mình.

Khi tia thứ bảy bị tha hóa, bạn thường nghĩ rằng một vấn đề mà có mặt trên thế giới là do người ta không coi trọng nó như bạn. Nhưng khi khắc phục được tha hóa này, bạn sẽ hiểu ra rằng vấn đề đó cứ vẫn tiếp tục chỉ vì người ta coi trọng nó quá đáng, đến nỗi nó chi phối cả Tánh linh của họ.

Kỳ thực, tất cả chúng ta đều là những sinh thể tâm linh, và một trong những công tác sau cùng của chúng ta trên địa cầu là chứng tỏ rằng mọi điều kiện vật chất không thể hạn chế Tánh linh cùng sự biểu hiện Tánh linh trong thế gian. Chìa khóa của tự do là cho phép chân ngã mình biểu thị qua chính mình, để sự nô đùa của con-người-trẻ-thơ thiêng liêng được biểu lộ, vì con người đó biết rõ nó là một với Cha. Cùng với Thượng đế thì mọi chuyện đều hoàn thành. 

Tia thứ tám

  • Luân xa liên hệ: Phòng kín của tim
  • Đại thiên thần: Uzziel
  • Thượng sư: Đại thượng sư

Tia sáng tâm linh thứ tám có tên là Tia Tổng hợp, vì ở đây bạn phải tổng hợp các đức tính của cả bảy tia sáng ở trên. Tức là bạn đã hoàn toàn vượt qua sự tha hóa của bảy tia đó, bởi vì nếu không, chúng sẽ ngăn cản bạn thực hiện sự tổng hợp tất cả các tia.

Làm sao có những bài truyền đọc trên trang web này?

Để thực sự hiểu được các chân sư giao tiếp như thế nào với loài người đang đầu thai, bạn cần hiểu rõ Luật Tự quyết. Mục đích cuộc sống chúng ta là phát triển khả năng tự nhận biết, và điều này xảy ra khi chúng ta tương tác với thế gian, hành động qua một số lựa chọn, rồi phải nếm mùi hậu quả những lựa chọn đó. Có thể nói, địa cầu giống như một lớp học rộng lớn nơi chúng ta là những học trò với tiềm năng học hỏi.

Trong khắp vũ trụ vật chất, có nhiều nơi khác cũng là trường học với những đặc tính mỗi nơi mỗi khác. Riêng ở địa cầu, trường học chúng ta khá đăc biệt ở chỗ chúng ta có thể chiêm nghiệm cuộc sống trong vai trò một sinh thể tách biệt – tách biệt khỏi Thượng đế và cũng tách biệt khỏi mọi sinh thể khác – để rồi nhờ chiêm nghiệm đó mà tỉnh ngộ.  

Kinh nghiệm này có được là vì năng lượng cấu tạo địa cầu rất dày đặc. Ở nhiều hành tinh khác, năng lượng đã thăng lên một độ cao hơn, khiến cho “vật chất” không nặng nề như ở đây mà trái lại được nhận biết như một chất thanh nhẹ – là ánh sáng tâm linh – vì thế mà không thể ảo tưởng rằng mình là tách biệt. Ngược lại trên địa cầu, chúng ta có quyền chọn cách cảm nhận tách biệt.      

Tại sao phải giữ cho mỗi người có thể phủ nhận sự có mặt của các chân sư

Theo Luật Tự quyết, tỷ trọng của năng lượng cấu tạo một hành tinh là kết quả trực tiếp của tâm thức dân cư ở đó. Chắc rồi địa cầu cũng sẽ một ngày nâng cao rung động để không ai còn tin được là vật chất tách rời khỏi Tánh linh, và các chân sư – cùng với nhiều người chúng ta đang hiện thân – đang nỗ lực để đạt được mục đích đó. Nhưng cho tới khi có đủ túc số những con người đã nâng cao tâm thức để kích hoạt sự chuyển vọt này thì các chân sư sẽ phải tôn trọng Luật Tự quyết.

Một hậu quả của điều này là các chân sư sẽ không thể bỗng dưng hiện ra trên trời hoặc bất cứ nơi đâu để chứng minh một cách không thể chối cãi rằng cõi tâm linh có thật. Thay vào đó, các thày chỉ có thể giao tiếp với nhân loại trong sự tôn trọng những người còn tin vào ảo tưởng tách biệt. Nói cách khác, nguyên tắc mà các thày phải noi theo là tôn trọng quyền tự quyết của những con người chưa thấy được chân lý. Những người đó, tức là đa số nhân loại, vẫn có toàn quyền phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế, phủ nhận sự thật của một cõi tâm linh vượt ngoài cõi vật chất, phủ nhận các chân sư, và tất nhiên cũng phủ nhận họ có thể giao tiếp với chân sư.    

Trong điều kiện như vậy, các chân sư phải liên lạc với nhân loại một cách nào đó mà những người không tin vẫn có thể bác bỏ. Cho tới giữa thế kỷ 19, các thày vẫn chưa được phép tiết lộ sự hiện hữu của mình qua các phương tiện truyền thông đại chúng, chẳng hạn như sách viết bởi vì bất cứ ai cũng có thể tìm đọc. Thay vào đó, các thày phải giới hạn việc làm trong một số hội kín, qua đó các thày chỉ tiết lộ cho những thành viên đã được khai mở.   

Vào nửa sau của thế kỷ 19, các thày được phép xuất hiện trên một số phương tiện công cộng, như sách vở và các tổ chức công khai rao truyền mối liên hệ với chân sư. Và từ đó đã có một loạt sách viết cùng những dụng cụ tu tập được một số tổ chức hay cá nhân phát hành. Tuy vậy trong mỗi trường hợp, không có bằng cớ hiển nhiên nào chứng minh xuất xứ là từ những đấng đã thăng vượt thế gian vật chất.

Làm sao bạn biết được là thật?

Nếu bạn nghiên cứu cuộc tranh luận giữa hai phe vô thần và hữu thần, hẳn bạn cũng thấy rõ cuộc tranh luận có thể kéo dài hàng thế kỷ về sự hiện hữu của Thượng đế mà không phe nào đưa ra được bằng chứng thuyết phục. Lý do là bởi bản chất lý trí con người, người ta có thể tranh cãi mãi mãi mà không đạt được một giải đáp cuối cùng.

Có cách nào đi xa hơn tình trạng bế tắc đó của trí não? Thưa có, đó là khả năng trực giác. Bạn chỉ có thể chấp nhận sự hiện hữu của chân sư qua một kinh nghiệm nội tâm, trực nhận hoặc thần bí. Bạn sẽ biết mà không cần bất cứ lý lẽ nào do tư duy đường thẳng cung cấp.

Vậy làm sao bạn biết được giáo lý trên trang web này xuất phát thật sự từ chân sư? Bạn sẽ chỉ biết được nếu rung động của trang này đánh động một cái gì đó nơi nội tâm bạn. Nếu bạn không cảm thấy gì thì có lẽ bạn nên thôi đọc và đi tìm một giáo lý nào khác đồng điệu với tâm bạn hơn.

Còn đối với những bạn bén nhạy trực giác, có một cách khá dễ để biết được đâu là thật hay giả. Khi đọc, bạn hãy hoà điệu nơi con tim và quan sát xem bạn chiêm nghiệm giáo lý như thế nào. Năng lực vi tế bên trong bạn có dâng lên hay là bị kéo xuống? Nếu năng lực đi lên thì hẳn đây là dấu hiệu rất tốt rằng giáo lý này sẽ giúp bạn nâng tâm thức.

Các chân sư giao tiếp thế nào?

Chân sư có nhiều cách giao tiếp với con người. Thật sự chúng ta không nên phân tích quá chi ly và bỏ chân sư vào những cái hộp của lý trí đường thẳng – là loại lý trí sẽ khiến cho chân sư không giúp đỡ mình được– nhưng chúng ta có thể chia cách thức giao tiếp thành hai loại: trực tiếp và gián tiếp.

Cách gián tiếp có thể được ví như đài phát thanh hay đài truyền hình. Các thày không ngừng phát ra một số năng lượng cùng những thông điệp từ cõi thượng thăng. Nhưng điều quan trọng cần hiểu ở đây, chúng ta không thể nhận bắt những tín hiệu này bằng tâm thức “bình thường” của mình. Tâm chúng ta có khả năng bắt được những sóng đó, nhưng không ở mức tâm thức bình thường mà chỉ ở một mức cao hơn. Cho nên bất cứ ai nâng cao tâm thức đều có khả năng bắt sóng từ chân sư.

Trong lịch sử đã có nhiều người sử dụng được khả năng này. Trong nhiều trường hợp, các đương sự hoàn toàn không ý thức tư tưởng từ đâu đến, cho nên gọi đó là cảm hứng, nàng thơ hay nàng nhạc. Một số người cả đời chỉ nhận được linh hứng đúng một lần, trong khi một số người khác có thể hòa điệu thường xuyên hơn. Nhưng nói chung, chính qua sự phát sóng liên tục như vậy mà các chân sư đã có thể đem lại nhiều tư tưởng mới vào thế gian vật lý để đẩy mạnh tiến hóa của nhân loại.

Ngoài cách gián tiếp nói trên, các chân sư cũng giao tiếp với con người một cách trực tiếp. Điều này chỉ xảy ra với những người đã nhận ra sự hiện hữu của các thày. Đã có những trường hợp người ta nhận được thông điệp, viết thành sách nhưng không nói rõ nguồn gốc. Và cũng có khi người ta công khai nhìn nhận nội dung là từ chân sư, như trong trường hợp một chân sư giảng dạy trực tiếp qua một sứ giả đang hiện thân làm người. Cách thức này thường được gọi là thông điệp hay “bài truyền đọc”. Thông điệp là khi sứ giả biên chép lại, còn bài truyền đọc là khi sứ giả dùng giọng nói của mình để đọc to, có khi trước mặt một cử tọa.

Những giáo lý và dụng cụ tu tập đăng tải trên trang web này tiếp nối truyền thống giảng dạy trực tiếp của các chân sư. Từ năm 2002, tôi, Kim Michaels, đã nhận được bài đọc lẫn công cụ tu tập từ các thày, và tuy rằng tôi đã làm việc này từ nhiều năm, tôi vẫn có cảm giác đang tập sự. Tôi thiển nghĩ địa cầu quả là một mái trường, và khi nào mình còn ở đây thì việc học tập sẽ còn tiếp diễn.

Trong một số tổ chức, người nhận bài đọc có tên là “sứ giả”. Thành thật mà nói, theo thiển ý của tôi, đây là một vai trò thật hèn mọn. Nhưng tiếc thay, một số tổ chức lại có khuynh hướng thần tượng hóa, biến sứ giả thành một người quan trọng hơn mọi thành viên khác, gần như là tụ điểm nối kết với chân sư. Nhưng tôi thì xem mình là một cánh cửa mở mà thôi. Tôi biết rõ mỗi người trong chúng ta đều có khả năng hòa điệu và liên lạc trực tiếp với các thày, và mục đích của trang web này chính là để bồi sức cho mọi người đạt được điều đó.

Bài truyền đọc là gì?

Đối với nhiều người tâm linh, tiến trình giao tiếp với chân sư thường có tên chung là “mở kênh” (channeling), nhưng từ này lại chứa đựng rất nhiều hiện tượng khác nhau một trời một vực. Vì vậy tôi xin trình bày những điều xảy ra khi tôi nhận sóng từ chân sư. Tôi hoàn toàn không có ý định so bì mà chỉ muốn trình bày sự kiện một cách chân thực.   

Bài truyền đọc là khi tôi hòa điệu tâm tôi với Hiện diện của một vị chân sư nào đó. Tôi không xuất vía và trở nên vô thức, vì theo chỗ tôi hiểu, các chân sư không hợp tác với kênh xuất vía. Đó là vi phạm quyền tự quyết, bởi vì người đồng bóng không ý thức được ai sẽ nhập hồn, sẽ làm gì hay nói gì trong buổi lên đồng. Riêng tôi thì hoàn toàn tỉnh thức trong nguyên tiến trình. Vả lại tôi đã được học tập để giữ tâm mình hoàn trung dung, thuần khiết, để mọi ý tưởng cùng cảm xúc cá nhân của mình không can dự vào.  

Thường thường, tôi không ý thức trước những gì chân sư sẽ nói trong bài đọc, nhưng cũng có khi tôi cảm nhận được đề tài sẽ là gì, và tôi hay nhận thấy một cái mầm ý tưởng đã được truyền trước đó vào tôi để tôi có thể bắt đầu. Một khi bài truyền đọc khởi sự, công vịêc của tôi là giữ vững tâm hòa điệu với chân sư mà không bị chia trí bởi tiếng động chung quanh (tôi đã từng đọc trước những cử tọa đông đến trăm người và ở nơi công cộng) hoặc cả những tiếng động trong tôi. Nhiều khi tôi hoàn toàn không biết trước chân sư sẽ nói gì, nhưng dù cho bài đọc kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, tôi vẫn giữ được một nội dung trơn tru từ đầu đến cuối – một điều mà cái trí vỏ ngoài của tôi không có khả năng làm được.

Tôi không nhận được thông điệp của chân sư dưới hình thức lời nói mà tôi nghe được trong tâm rồi lặp lại. Tôi cũng không nhìn thấy chữ viết hiện ra trước mắt để mà đọc lên. Tôi chỉ hòa điệu với một dòng tâm thức vượt khỏi mọi hình thức từ ngữ đường thẳng. Dòng tâm thức này được diễn đạt thành lời bởi chính tâm tôi. Tôi có thể nghe được từng lời thốt ra khi phát biểu, nhưng tất nhiên, tôi hoàn toàn có khả năng ngừng lại bất cứ lúc nào nếu tôi muốn.

Tuy nhiên, phần quan trọng nhất của một bài truyền đọc không phải là lời nói, mà là dòng ánh sáng tâm linh tuôn ra trong lời nói. Cái trí đường thẳng có thể nắm bắt được ý nghĩa, nhưng nếu bạn chỉ đọc, hoặc nghe, một bài truyền đọc với thuần lý trí thì bạn sẽ bỏ lỡ phần quan trọng nhất là ánh sáng.

Vì tôi đã làm công việc này từ rất lâu nên tôi cũng phần nào quen thuộc, nhưng gần đây tôi có một kinh nghiệm lý thú. Trong một buổi hội đàm, tôi nhận bài đọc của Đại thượng sư (Mahachohan). Trong cử tọa có một người lần đầu tham dự nên bán tín bán nghi. Sau khi tôi đọc xong, ông ta bảo tôi rằng theo ông, không một người nào có thể nói chuyện cả tiếng đồng hồ với một giọng dũng mãnh đến như vậy, và đến chót lại còn tăng cường độ lên một bực. Tôi phải công nhận là ông nói đúng, và về điểm này tôi xin trình bày thêm như sau.  

Bài truyền đọc thường kéo dài hơn một tiếng, và suốt bài đọc, tôi ở trong thế đứng. Tuy vậy tôi không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, dù là mệt thể chất, cảm xúc hay tinh thần. Trái lại tôi cảm thấy mình tràn trề sinh lực và tâm thức sáng rõ hơn một bực. Nếu như tôi cảm thấy kiệt quệ thì đó mới thật là đáng lo, bởi vì như vậy có nghĩa vị đọc bài cho tôi đã hút mất năng lượng của tôi. Nhưng không, các chân sư đã cho tôi thêm thật nhiều ánh sáng và đồng thời các thày cũng gửi tràn ngập ánh sáng cho cử tọa. Nếu bạn muốn tận dụng ích lợi của một bài truyền đọc thì bạn nên cố bắt được phần ánh sáng, tốt nhất là bằng cách lắng nghe băng ghi âm.   

Tâm thức sứ giả có thay đổi thông điệp không?

Tâm thức chân sư cao hơn tâm thức bình thường ở địa cầu rất nhiều. Khác biệt lớn nhất ở chỗ các thày không suy nghĩ với lý trí đường thẳng. Các thày có sự nhận biết hình quả cầu. Mà tâm quả cầu thì khó lòng nào diễn tả được hết thành lời nói.

Tức là thông điệp của chân sư bắt buộc sẽ bị tô màu bởi ngôn từ được sử dụng cùng gốc gác văn hóa của sứ giả. Thêm vào đó, nếu sứ giả tin tưởng mãnh liệt vào điều gì đó thì sẽ không thể truyền đạt những tư tưởng đối chọi với tin tưởng này. Đó là lý do tôi luôn luôn cố gắng là một “cánh cửa mở”, nghĩa là tâm tôi sẽ không chứa đựng bất cứ gì có thể bóp méo thông điệp.

Tôi từng gặp nhiều người cho rằng sứ giả giỏi là một người có khả năng diễn tả hoàn toàn ý chân sư mà không thêm vào màu sắc. Nhưng qua kinh nghiệm bản thân và được chứng kiến một số sứ giả khác, tôi phải kết luận rằng chúng ta cần hiểu vấn đề này sâu sắc hơn. Không thể nào có chuyện tâm thức sứ giả không ảnh hưởng thông điệp được, bởi vì cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ vốn là một tiến trình vô thức.

Thêm vào đó, bởi vì tôi không xuất vía cho nên chân sư sẽ phát biểu qua khả năng ý thức của tôi. Chân sư chỉ có thể sinh sôi những gì đã có sẵn trong tâm thức tôi, và một cách tự nhiên, tôi sẽ dùng những từ ngữ và khái niệm mà tôi quen thuộc. Cũng vì vậy mà chân sư không thể truyền đọc về một đề tài hoàn toàn xa lạ đối với tôi bởi vì chẳng có gì để mà sinh sôi.   

Bạn có thể cho đây là một giới hạn, nhưng theo tôi hiểu thì không phải vậy. Như được giải thích ở nơi khác, trên địa cầu có cả thảy 144 tầng tâm thức, và tuy rằng bài truyền đọc của chân sư có thể được hiểu ở cả 144 tầng, thông địêp sẽ hữu ích nhất cho những ai cùng chia sẻ một số đặc tính với sứ giả, như về tâm thức, gốc gác văn hóa hay tâm linh. Nói cách khác, chân sư chọn một sứ giả cốt ý là để chạm được một loại cử tọa nào đó, và vì vậy ngôn từ cùng khái niệm của sứ giả sẽ không là một trở ngại khi cử tọa đã sẵn chia sẻ cùng tâm trạng với sứ giả. Nhưng đồng thời cũng có một điều bạn cần hiểu, cả sứ giả lẫn cử tọa không được nghĩ rằng đây là cách DUY NHẤT mà chân sư có thể phát biểu.

Mục đích của chân sư là dùng một sứ giả nào đó để giúp một loại cử tọa đặc thù thăng vượt hộp tư duy và tâm thức hiện tại. Điều khó khăn là thông điệp đến từ một cõi ở ngoài hộp tư duy, và chúng ta phải vươn theo thông điệp này mà đi lên thay vì kéo nó xuống, nhét nó vào hộp tư duy. Tôi đã từng gặp nhiều người chỉ muốn chân sư xác nhận cho họ những điều mà họ muốn nghe, và tôi thiển nghĩ chúng ta cần luôn cảnh giác để giữ tâm mình mở rộng, đón nhận những luồng tư tưởng vượt ngoài hộp tư duy của mình.    

Khi truyền đọc, một thông điệp quả cầu luôn bị biến dạng thành ngôn từ đường thẳng. Cho nên để tận dụng ích lợi của bài truyền đọc, bạn cần vượt qua cái trí phân tích và đánh động khả năng trực giác của mình. Xin nhấn mạnh hơn nữa, điều quan trọng nhất trong bài truyền đọc KHÔNG PHẢI là từ ngữ được dùng, bởi vì cái trí đường thẳng sẽ luôn luôn tìm được đủ cách để tranh luận trên từ ngữ. Bạn cần nhận ra cái gì đó đến thẳng từ cõi trên, rồi sử dụng cái đó làm phương tiện nâng cao tâm thức, cho tới khi bạn chiêm nghiệm được các thày trực tiếp nơi nội tâm sâu xa. Tôi mong rằng các bài truyền đọc của tôi sẽ giúp bạn chứng nghiệm được điều này, và tôi cũng mong bạn sẽ không bao giờ cho phép chúng giới hạn sự giao tiếp nội tâm của bạn.

Để kết thúc chủ đề này, xin nói thêm là có khi tôi cũng nhận được thông điệp mà tôi ghi thẳng xuống thay vì đọc lên rồi ghi lại sau. Những dụng cụ tu tập như các bài chú hay bài thỉnh, thường được chép thẳng xuống như vậy, nhưng cũng có trường hợp bài cầu thỉnh dựa theo một bài truyền đọc.

Trước khi chia tay, xin gửi bạn đoạn trích sau đây từ một bài giảng của thày Giê-su về bốn cõi của vũ trụ vật chất, trong đó có lời cảnh báo về cách giao tiếp với những cõi trên.

Lời cảnh báo của Giê-su

Tâm con người có khả năng hoạt động như chiếc máy radio. Như ta vừa nói, có rất nhiều làn sóng vô tuyến xâm nhập vào căn phòng mà con đang ngồi. Nếu con bật máy lên, con có thể bắt được từng làn sóng bằng cách quay cái nút. Máy radio biến sóng năng lượng thành âm thanh nghe thấy, mà con nhận biết là những đài phát thanh khác nhau. Tâm con có khả năng tựa như chiếc máy radio vậy, nó có thể bắt sóng của mọi tầng cấp vũ trụ vật chất. Nó cũng có thể bắt được các tầng cấp trong cõi tâm linh. Nói cách khác, tâm con người có khả năng vượt ra ngoài cõi vật chất để đồng điệu với những sinh thể trí năng ở các cõi cảm xúc, tư tưởng, bản sắc, hoặc cả cõi tâm linh nữa.

Một hệ quả của lời dạy này là nếu con cố bắt liên lạc với sinh thể trí năng ở những cõi khác, con cần biết rằng không phải ai ai ở đó cũng thiện lành. Rất có thể một số đã từng cố tình đối nghịch lại các quy luật của Thượng đế, và họ sẽ cố lôi kéo con làm điều tương tự.

Đã từng có một thời cả bốn cõi đều có những sinh thể thiện lành trú ngụ ở đó. Thế nhưng cõi cảm xúc bây giờ bị ô nhiễm, tha hóa đến độ không còn ai tốt nữa. Tất cả mọi sinh thể nơi cõi cảm xúc đều đã mất quân bình, họ tin rằng mục tiêu có thể biện minh cho mọi phương tiện, và phương châm của họ là “nếu thích thú thì cứ việc làm tới”. Trên địa cầu có nhiều người hiện thân tâm thức này bởi vì cảm thể họ bị mất quân bình do đồng cảm với cõi cảm xúc. Và họ trở thành nô lệ cho bọn thao túng đang hoành hành ở đó.

Cõi tư tưởng cũng bị ô nhiễm nặng nề, nhưng vẫn còn một số sinh thể không ác ý. Tuy vậy, rất nhiều trong số đó còn bị kẹt trong cách suy nghĩ rằng họ có thể hiểu được mọi chuyện bằng lý trí. Thậm chí, một số còn đinh ninh họ thông hiểu thế gian hơn cả Thượng đế và do đó họ hiểu rõ hơn Thượng đế phải vận hành vũ trụ làm sao. Đây là sự kiêu căng của trí thức, và con sẽ thấy trên địa cầu cũng có nhiều người hiện thân lòng tự kiêu này. Lý do là vì trí thể của họ đã đồng tình với những sinh thể tự kiêu nơi cõi tư tưởng. 

Cõi bản sắc là cõi tương đối trong sạch nhất, cho dù cũng bị ô nhiễm bởi một ý niệm bản sắc sai lầm. Ở đây có những sinh thể tự xem mình tách biệt với Thượng đế, và họ phóng chiếu cái nhìn này vào tâm thức loài người. Nhưng song song cũng có những sinh thể trong cõi ether giữ vững được bản sắc đúng đắn rằng mình là sinh thể tâm linh.

Các thày trong Đại đoàn Thăng thiên giáo hóa để phục vụ loài người. Các thày sẵn sàng giao tiếp với bất cứ ai để giúp họ tiến bước trên đường tu tâm linh. Khi địa cầu còn trong sáng, các thày đã có thể hiện ra trước con người trong cõi vật chất, và ai nấy đều có thể gặp gỡ, đàm đạo với các thày. Điều này xảy ra không phải vì các thày đã hiện ra trong một thể xác vật lý, mà vì tâm thức con người thời đó còn trong trắng đến độ có thể nhận biết các thày trong “thân thể” tâm linh của các thày. Với giác quan vật lý, họ nhìn thấy được thân tâm linh của các thày.

Nhưng ngày nay, những sự mất quân bình mà loài người tạo ra đã kéo thấp độ rung của toàn cõi vật chất, và việc nhận biết các thày đã trở nên khó khăn hơn. Con người không thể nhận biết các thày qua giác quan của cơ thể, trừ những trường hợp hiếm hoi khi các thày mượn tạm một thân thể vật chất.

Cho nên muốn giao tiếp với Đại đoàn Thăng thiên trong thế giới hiện đại, con phải nâng cao tâm thức, và điều này có nghĩa con phải quân bình cả bốn thể phàm của mình. Con chỉ tạo được quân bình bằng cách đạt đến trung đạo của tâm thức Ki-tô. Nếu con không quân bình trong tâm Ki-tô thì con sẽ không liên lạc được với Đại đoàn Thăng thiên. Nhưng tiếc thay, con vẫn có khả năng liên hệ với các sinh thể trú ngụ nơi các cõi phàm. Con đừng quên rằng chúng bị kẹt lại ở đó chính vì chúng đã mất quân bình trong một hay nhiều thể. Cho nên nếu con muốn giao tiếp một cách an toàn với cõi trên, con cần phải vươn lên tâm thức Ki-tô, và điều này có nghĩa con phải quân bình cả bốn thể phàm của con.

Đại đoàn Chưởng giáo

Trước tiên chúng ta hãy nhìn từ góc độ địa cầu. Vũ trụ vật chất được cấu tạo bởi những năng lượng rung động trong một khoảng tần số nhất định. Ở ngay trên khoảng tần số này là tầng thấp nhất của cõi tâm linh. Bên trên cõi tâm linh còn nhiều cõi khác nữa, trải ra trong 6 bầu cõi – vì chúng ta là bầu cõi thứ bảy – trải mãi cho tới Đấng Sáng tạo. Trong mỗi bầu cõi đều có một đoàn chưởng giáo, tức một hàng ngũ những đấng tâm linh coi sóc bầu cõi.

Cõi vật chất đã được sinh tạo bởi những đấng ở cõi ngay trên cõi chúng ta, với rung động cao hơn chúng ta một bậc. Những đấng này, chúng ta thường gọi là các chân sư đã thăng thiên. Các chân sư còn sử dụng danh tính “Đại đoàn Thăng thiên”, là toàn thể các đấng ở tất cả các bầu cõi trên chúng ta. Tuy nhiên, phần lớn những đấng này không có tương tác gì với chúng ta ở địa cầu.

Cho nên từ góc nhìn loài người, chúng ta chỉ có thể bàn tới đoàn chưởng giáo ngay trên chúng ta một vài tầng mà thôi. Và sau đây là những đấng quen thuộc nhất:

Các chân sư mới thăng thiên

Khi mới thăng thiên từ thế giới vật chất, vị tân chân sư thường dành thì giờ để làm quen với tầm tỉnh giác mới cùng thế giới tâm linh mà bây giờ thày có khả năng tiếp cận một cách ý thức. Tuy nhiên, những vị nào đã từng giảng dạy loài người từ thời còn chưa thăng hoa thì có thể nhận ngay một trách vụ giáo huấn.    

Các Thượng sư

Có cả thảy bảy tia sáng tâm linh, là những quang phổ năng lượng căn bản cấu tạo vũ trụ vật chất. Để bước trên đường tu tâm linh và có đủ tư cách thăng hoa, chúng ta cần làm chủ, điều ngự cả bảy tia sáng này. Cho nên cũng có thể mô tả đường tu tâm linh như một trình tự qua đó chúng ta phải học qua đủ cả bảy tia sáng.

Để sự tu tập được tốt đẹp, mỗi tia sáng có một số chân sư chủ trì, đây là những vị thày sẽ giúp chúng ta vượt qua những cuộc điểm đạo đặc thù của tia sáng. Vị đứng đầu giáo đoàn đó có tên là Thượng sư (Chohan), và như vậy mỗi tia sáng đều có một Thượng sư, tương tự như vị hiệu trưởng một trường học vậy.    

Thượng sư có thể hiện ra như phái nam hay phái nữ, và không phải vị nào cũng có tương ứng trong phái đối diện. Chẳng hạn một thượng sư nam có thể không có tương ứng phái nữ, bởi vì vị nữ chưa thăng thiên, hoặc vị nữ đã chuyển sang những cõi khác và không còn liên hệ với địa cầu nữa.

Các Đại thiên thần

Có một nhánh đặc biệt nơi cõi thượng thăng sẽ không bao giờ đầu thai là các thiên thần. Thiên thần có nhiều trách vụ khác nhau, nhưng đối với chúng ta, có lẽ hữu ích nhất là trách vụ giúp chúng ta tăng trưởng. Các thiên thần cũng được tổ chức theo bảy tia sáng thành từng đoàn, và mỗi đoàn như thế có một Đại thiên thần đứng đầu. Vậy mỗi tia sáng đều có một Đại thiên thần được ủy nhiệm.

Các Đại thiên thần Archangels đều là phái nam, nhưng các thày cũng có tương ứng phái nữ, gọi là Archeia, chẳng hạn thái cực phái nữ của Đại thiên thần Michael là vị Archeia có tên là Faith.

Các Elohim

Vũ trụ vật chất được tạo thành từ năng lượng của bảy tia sáng khi độ rung động của tia sáng được hạ thấp xuống theo một tỷ lệ nhất định. Một bản mẫu bằng trí năng được dùng làm khuôn để nhào nắn năng lượng đó, và từ đó những kiến trúc nền tảng của vũ trụ vật chất được thành hình.

Những đấng khởi xướng và trông coi tiến trình này thường được gọi là Elohim. Và ở đây cũng như trên, có cả thái cực nam lẫn nữ, chẳng hạn Elohim Hercules có tương ứng nữ là Amazonia.

Một trong những Elohim được cầu thỉnh nhiều nhất là Astrea, là vị Elohim của Tia thứ tư, Tia Thuần khiết, có thể giúp bạn loại bỏ các năng lượng thấp kém hay thế lực đen tối trong từ trường của bạn.

Mặt trời Trung tâm

Mức cao nhất trong cõi thượng thăng mà chúng ta có thể biết, được biểu tượng qua hai đấng có tên là Alpha và Omega. Người ta bảo rằng hai đấng này ngụ nơi “Mặt trời Trung tâm”, nhưng đây không phải là mặt trời vật lý của vũ trụ vật chất đâu, đành tạm gọi là một “địa danh” trong cõi tâm linh.

Như đã trình bày, ở trên bầu cõi chúng ta có cả thảy sáu bầu cõi. Mỗi bầu cõi tạo thành một cấu trúc có tầng cấp, phần nào tương tự như một kim tự tháp. Nơi mỗi bầu cõi có một mặt trời trung tâm là nơi trụ trì của hai đấng Alpha và Omega, và nơi bầu cõi thứ nhất ở trên cùng là mức tối thượng của Alpha và Omega, tức là những đấng biểu hiện trực tiếp Đấng Sáng tạo.

Tuy nhiên, điều bạn cần hiểu là phần trình bày ở trên chỉ là một cách biểu tượng đường thẳng, và tất nhiên với tư duy đường thẳng, chúng ta không thể nào nắm bắt được thực tại tâm linh với vô số chiều kích ở nhiều tầng tâm thức. Cho nên bạn không nên đặt quá nhiều tầm quan trọng cho chữ nghĩa cùng cách diễn đạt, bởi vì cách duy nhất để nắm được thực tại đó là qua sự chứng nghiệm trực tiếp.

Và một điều nữa, các chức vị liệt kê ở đây cần được bạn hiểu trong ý nghĩa trách vụ, nghĩa là đấng đảm nhiệm trách vụ có thể thay đổi với thời gian. Chẳng hạn, vị Đại thiên thần của Tia thứ nhất là một trách vụ đã từng được giao phó cho nhiều vị khác nhau, và đó là lý do tại sao danh tính những vị phụ trách có thể khác biệt trong những bài giáo lý ở những thời điểm khác nhau. 

Một số danh xưng khác

Thần và Nữ thần

Dù các Elohim có khi được gọi là Thần và Nữ thần, nhưng có một số đấng khác đã đạt đến tầng cấp Thần, chẳng hạn Nữ thần Tự do, Nữ thần Công lý (Portia) và Nữ thần Từ bi (Quan Âm).

Các Logos của thái dương hệ

Mỗi thái dương hệ đều có một mặt trời và mỗi mặt trời vật lý có một cặp trưởng lãnh với nhiệm vụ giữ cho mặt trời luôn là một cánh cửa mở giữa cõi vật chất và cõi tâm linh. Nếu vì lý do nào đó, năng lượng ngừng tuôn chảy từ cõi tâm linh vào thái dương hệ thì lập tức sự sống nơi thái dương hệ sẽ không thể tiếp tục. Hai vị trưởng lãnh của mặt trời chúng ta là Helios và Vesta.

Chủ tể Thế gian

Mỗi địa cầu có một đấng giữ trách nhiệm Chủ tể Thế gian. Đấng này phải đạt được quả vị Phật, tức là đã điều ngự không gian. Đây là đấng giữ sự quân bình tâm linh để địa cầu có thể hiện hữu trong không gian. Vị Chủ tể Thế gian cho hành tinh chúng ta là Phật Gautama, hay Phật Thích Ca.  

Đấng Ki-tô của hành tinh hay của cá nhân

Mỗi hành tinh đều có một đấng giữ trách vụ Ki-tô. Tuy rằng Ki-tô mang một ý nghĩa đặc thù trong đạo Cơ đốc, nhưng “Ki-tô” thật sự là một danh hiệu toàn vũ mang ý nghĩa bao quát là tánh hợp nhất giữa Đấng Sáng tạo và tạo vật của ngài.  Cũng vì vậy mà mỗi khi có ai thăng vượt được ảo tưởng tách biệt thì người ấy được gọi là đã đạt tâm thức Ki-tô, một điều kiện phải có trước khi thăng thiên. Khi Giê-su nói, “Ta là con đường, sự thật và sự sống, và không ai đến với Cha mà không qua ta”, thì thày không ám chỉ bản thân trần thế của thày mà thật sự nói về tâm thức Ki-tô.

Hiện nay, Giê-su là vị nắm giữ trách vụ Ki-tô cho hành tinh chúng ta.  

Ki-tô toàn vũ

Mỗi hành tinh có một chân sư giữ trách vụ biểu tượng cho tâm thức Ki-tô toàn vũ nơi hành tinh đó. Cho địa cầu, vị này là Maitreya. Thày Maitreya chính là vị chân sư được mô tả – một cách méo mó và thô – qua nhân vật “Thượng đế” trong câu chuyện Vườn Eden trong Kinh thánh. Sự thật đằng sau huyền thoại này là Maitreya từng là vị thày, và hiện nay vẫn là vị thày, chủ trì ngôi trường tâm linh – có khi cũng gọi là Trường Bí giáo – nơi mọi dòng sống phải kinh qua để chuẩn bị cho cuộc đầu thai trên địa cầu hầu có đủ khả năng đương đầu với những khai ngộ được biểu tượng qua sự dày đặc của địa cầu.

Các vị Thày của Nhân loại

Đây là những vị trông coi mức phát triển tổng quát của tâm thức loài người, định đoạt những phương cách hay nhất để truyền dạy các bài học toàn vũ cũng như những giáo lý mới cần ban hành ở một thời điểm nào đó, dựa trên trình độ tinh tấn – hay thiếu tinh tấn – của tâm thức tập thể. Trách vụ này hiện được giao phó cho Giê-su và Kuthumi.

Hội đồng Nhân quả và các vị Chủ tể Nghiệp quả

Các chân sư dạy dỗ nhân loại thường có hai cách giáo huấn. Đối với những ai đã mở tâm với giáo lý tâm linh, các thày luôn khuyến khích chúng ta sử dụng giáo lý để tự quan sát rồi tự thăng vượt. Nhưng đối với những ai chưa bén nhạy với giáo lý thì các thày sẽ để yên cho chúng ta tự thân chiêm nghiệm lấy những hậu quả vật lý của tâm thức mình. Đây chính là Trường đời Cay đắng mà nhiều người cũng gọi là “nghiệp quả xấu”.     

Để trông coi luồng giáo huấn qua bài học nghiệp quả, có một hội đồng được thành lập gồm 8 vị chân sư. Điều cần hiểu là cho dù người ta hay gọi là “nghiệp quả xấu” nhưng kỳ thực nghiệp quả không hề có mục đích trừng phạt một ai. Trái lại, giáo dục là chủ đích duy nhất. Chân sư cố tìm cách dạy dỗ những người do ảo ảnh mà tự đẩy mình ra ngoài tầm tác động của các giáo lý tâm linh.

Cũng vì vậy mà Hội đồng Nhân quả có quyền nán giữ lại một biện pháp nhân quả nào đó nếu nhận thấy đương sự đã học được, hoặc sắp sửa học được, bài học cần học. Ngược lại, Hội đồng cũng có thể kích hoạt nghiệp quả sớm hơn đối với những người bị trôi cuốn vào một vòng xoáy đi xuống và đang đối xử tồi tệ với người khác.

Nói vậy để hiểu rằng công việc của Hội đồng vô cùng phức tạp. Các thày không những phải cân nhắc nghiệp quả cá nhân của từng dòng sống, mà còn phải xét đến nghiệp quả của từng đoàn nhóm hay toàn nhân loại nói chung. Các thày cũng là những vị quyết định ai sẽ là người sắp đầu thai, và đã có những trường hợp xảy ra khi một dòng sống bị khước từ tái đầu thai trên địa cầu vì đã lạm dụng các cơ hội thăng vượt trước đây.  

Hội đồng Nhân quả cũng có nhiệm vụ giáo huấn trực tiếp chúng ta trong khoảng cách giữa hai kiếp đầu thai. Cùng với các vị thày tâm linh khác, các vị trong Hội đồng giúp mỗi dòng sống thảo ra những nét chính của kiếp tới bằng cách trù định xem hoàn cảnh đời sống nào sẽ hữu ích nhất cho dòng sống. Mục đích là để giúp cho dòng sống học được những bài học cần thiết và biểu lộ Sứ vụ Thiêng liêng của mình, tức là mòn quà mà dòng sống đem đến cho cuộc đời.

Hiện các thành viên của Hội đồng Nhân quả là: Đại chỉ đạo Thiêng liêng, Nữ thần Tự do, Pallas Athena, Nada, Portia (Nữ thần Công lý), Quan Âm (Nữ thần Từ bi), Elohim Cyclopea và Vajrasattva.

Các đức Phật Thiền định

Trong truyền thống đạo Phật, đây là những vị Phật “bản sơ”, tức là chưa từng hiện thân như Phật Gautama. Ở cõi tâm linh có cả thảy sáu vị, mỗi vị biểu tượng cho liều thuốc giải độc của một loại độc tố tâm linh. Bằng cách cầu thỉnh Hiện diện của Phật Thiền định, bạn sẽ được trợ giúp để thăng vượt được độc tố.

Các chân sư có gì đặc biệt?

Nếu bạn đọc trang mạng này với tinh thần cởi mở, chắc hẳn bạn đã ý thức được rằng cuộc sống không chỉ là những gì mà đại đa số người ta đeo đuổi. Ngoài chuyện kiếm tiền để sống no đủ và tiêu thụ thoải mái, hẳn là phải có một cách sống nào khác nhiều ý nghĩa hơn chứ.

Con đường chúng ta theo là một con đường có hệ thống dẫn đến những tầng tâm thức cao hơn những gì mà hầu hết mọi người xem là bình thường. Tên gọi thông thường là đường tu tâm linh, mà đã nói tới tu tâm linh thì nghĩ ngay đến vị thày tâm linh. Trên địa cầu có rất nhiều vị thày tâm linh với giáo lý và phương pháp khác nhau, và chắc hẳn bạn cũng đã từng tiếp xúc với một số vị như thế.

Bạn sẵn sàng học với vị thày nào?

Nói cho cùng thì ai ai cũng bước đi trên đường tu tâm linh cả, chỉ có cái là không phải ai cũng biết điều đó. Trong tiến trình nâng cao tâm thức, có một quy luật vũ trụ nói rằng: “Khi trò sẵn sàng thì thày xuất hiện”.

Nhưng đa số con người không sẵn sàng đi theo một vị thày một cách ý thức như vậy. Họ đi theo con đường vô ý thức, và trên con đường “không thày” đó, những hoàn cảnh mà họ gặp trong đời sống nghiễm nhiên trở thành người thày của họ. Đó chính là Trường đời Cay đắng.   

Ngày nay, những người đã đủ thức tỉnh để có thể bước đi trên đường tu tâm linh một cách ý thức ngày càng đông hơn. Theo quy luật nói trên thì đã đến lúc họ gặp gỡ vị thày của họ, dưới hình thức một người hay một giáo lý. Đó là lý do mà bạn đã gặp gỡ tận mặt những vị thày và những giáo lý mà từ đó bạn đã học hỏi.

Với lòng chung thủy tự nhiên, chúng ta thường có khuynh hướng xem vị thày hay giáo lý đó là con đường tối thượng mà chúng ta nguyện sẽ theo đuổi cho tới khi nhắm mắt. Tuy nhiên, như mọi con đường, đường tu tâm linh cũng có nhiều chặng.

Chúng ta thường khởi đầu ở một mức tâm thức nào đó, và vị thày ở mức đó sẽ dẫn chúng ta tới một mức cao hơn. Nhưng một khi tới mức cao hơn rồi, chúng ta sẽ cần đến một giáo lý khác hơn. Cho nên để tiến bước tốt nhất, chúng ta luôn phải mở tâm ra tìm vị thày kế tiếp của mình.

Rất nhiều người sẽ nhận thấy suốt đường tu tập đã qua, mình đã tìm được nhiều vị thày, hết vị này rồi đến vị kia, tạo thành một cái chuỗi đi lên biểu lộ cho sự phát triển tâm thức không ngừng của mình. Một khi đã nâng tâm thức và nội tâm đã sẵn sàng thì vị thày kế tiếp sẽ xuất hiện trong đời mình. Để đi về đâu?

Thày thế gian và thày thăng thiên

Địa cầu rất may mắn không thiếu các vị thày tâm linh chân chính. Nhiều vị được xem là đã đạt được quyền năng đặc biệt họăc tâm thức giải thoát tối thượng.

Tuy nhiên vì còn hiện thân trong xác thân vật lý, điều này có nghĩa là tâm thức chưa hoàn toàn thăng vượt được mọi đặc tính con người. Nếu bạn cảm thấy là mình đã học hỏi tối đa từ các vị ấy rồi thì bước tới của bạn sẽ là gì?

Mọi con đường tâm linh đều có mức đến, giống như mọi trường học cũng đều có kỳ thi tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trường học thế gian, một người không còn nhu cầu ở lại hiện thân trong thế gian nữa.  

Kỳ thi tốt nghiệp này có tên là tiến trình thăng thiên. Thăng thiên không phải là lần lần tiến tới trong sự liên tục, mà là một bước nhảy quyết định, một bước nhảy vọt lượng tử trong tâm thức. Muốn hội đủ tư cách thăng thiên, một người phải buông bỏ MỌI ý muốn cá nhân cùng mọi đặc tính thế phàm.    

Điều này có nghĩa, người đó phải giải quyết toàn vẹn mọi phản ứng đã thành khuôn nếp trong tâm lý mình, và đạt tới mức không còn tự ngã hoặc bất cứ một cái ngã tách biệt nào nữa. Khi sắc thái cuối cùng của tâm lý thế phàm bị loại bỏ thì mới bước vào vòng xoáy ốc thăng thiên, khi đó vị đó không còn là một con người nữa mà trở thành một sinh thể thăng thiên. Vị ấy cũng được gọi là chân sư bởi vì đã trở thành một bậc thày đã điều ngự nội tâm của mình.

Sau khi thăng thiên, một số chân sư sẽ tiếp tục thăng nữa trong cõi tâm linh ở trên vũ trụ vật chất, nhưng cũng có một số khác tình nguyện ở lại với địa cầu, tất nhiên là trong một cái thân “phi vật chất” để giúp đỡ phần nhân loại chưa thăng.

Nói tóm gọn, chân sư là một vị đã hoàn toàn thăng vượt mọi lợi ích bản thân. Chân sư không cần bất cứ điều gì từ chúng ta, cho dù đó là tài chánh hay năng lượng tâm lý, sự vâng lời hay lòng tôn sùng đời đời của chúng ta.     

Những điểm lợi mà chân sư cho chúng ta

Khi trợ giúp chúng ta, một vị chân sư thăng thiên sẽ hoàn toàn không có hậu ý gì. Vì đã thăng vượt mọi cảm nhận tách biệt, các thày sống trọn trong sự hợp nhất với mọi sự sống. Đối với các thày, cách duy nhất để thăng vượt mình là phải tìm cách thăng vượt tất cả mọi người, và trong đó có chúng ta đó.  

Các thày giản dị chỉ muốn giúp chúng ta giải thoát khỏi ảo tưởng làm người bởi vì chính các thày đã giải thoát. Vì đã bước qua cùng con đường chúng ta đang đi qua nên các thày là những vị dẫn đường lý tưởng. Vì đã gian nan như chúng ta nên các thày mới hiểu rõ cách vượt qua mọi gian nan, mọi giới hạn của chúng ta.  

Nhưng điều quan trọng cần nắm ở đây là các thày sẽ hoàn toàn tôn trọng quyền tự quyết của chúng ta. Tại sao vậy? Chúng ta đã lỡ đánh mất sự hiểu biết về thực tại tâm linh do một số lựa chọn trong những kiếp trước, cho nên muốn gỡ bỏ những hạn chế hiện tại, chúng ta cần nhìn vào tâm lý mình, nhận ra rằng chính những chọn lựa đó đã hạn chế mình, và phát hiện những ảo ảnh mà chúng ta xem là thực.

Nhưng các chân sư cũng biết rõ chúng ta không thể vượt qua mọi ảo ảnh cùng một lúc được. Chúng ta cần đi theo một con đường tuần tự, gỡ bỏ từng ảo ảnh một, vì nếu không, chúng ta sẽ có nguy cơ đánh mất ý niệm hiện hữu liên tục, thậm chí có thể mất cả bản sắc của mình. Vì vậy các chân sư sẽ không bao giờ cưỡng ép chúng ta. Sự giúp đỡ của các thày sẽ chỉ tới mức chúng ta sẵn sàng chấp nhận mà thôi. 

Tại sao bạn chưa bao giờ nghe đến các chân sư thăng thiên?

Suốt đời, đa số chúng ta chưa từng nghe đến các chân sư, vì sao thế? Có lẽ cách giải thích thông thường nhất là vì nhân loại đã sinh tạo ra một tâm thức tập thể nơi đó tâm mỗi người còn ở mức rất thấp, cho nên cần được phép nghi ngờ sự có mặt của chân sư hầu quyền tự quyết được tôn trọng.

Mỗi người có toàn quyền phủ nhận sự hiện hữu của một thế giới vượt ngoài vũ trụ vật chất mà họ quen thuộc, hoặc phủ nhận những đấng tâm linh khác hẳn với những đấng mà các tôn giáo chính mạch mô tả. Các chân sư không có quyền tiết lộ, hay chứng minh một cách không thể chối cãi, sự hiện hữu của mình cho những ai chưa sẵn sàng cất bước trên đường tu tâm linh.  

Vì vậy mà hiện nay các thày chỉ giảng dạy chúng ta qua trung gian một số vị đã được đào tạo khả năng trình bày giáo lý từ cõi thượng thăng. Trang mạng này là bản dịch Việt ngữ của những giáo lý được truyền đạt qua một sứ giả như thế.

Số lớn các bài vở trên trang này là bài truyền đọc trực tiếp của các chân sư. Sứ giả được sử dụng ở đây đã từng được huấn luyện khả năng gạt qua mọi quan tâm cá nhân hầu đạt được một nội tâm hoàn toàn trung dung, khác hẳn với hiện tượng đồng bóng. Nhờ vậy mà chân sư có thể nói chuyện qua miệng sứ giả và giảng dạy trực tiếp cho chúng ta.

Như đã trình bày trong một bài khác, giáo lý truyền đọc vẫn cần phải “đi qua” tâm thức sứ giả, có nghĩa đó không phải là một bằng chứng bất khả phản bác về chân sư – một điều mà chân sư muốn tránh – và một người chưa sẵn sàng nhận giáo lý vẫn có thể dễ dàng phủ nhận giá trị của giáo lý, phủ nhận thẩm quyền của sứ giả và cả tính trung lập của sứ giả.    

Làm sao biết được giáo lý này chân thực?

Tất nhiên khi xem xét một giáo lý mới mẻ, điều quan trọng là phải tìm xem giáo lý đó có chân truyền hay không. Đặc điểm của trang mạng này là vị sứ giả ở đây không dám tự xưng mình có thẩm quyền hay tài năng gì đặc biệt.

Bằng chứng chân truyền hay không thật ra nằm ở tác dụng mà giáo lý gợi lên trong tâm thức bạn. Bạn có khả năng cảm được rung động nơi tim bạn, phải không? Khi đọc những lời dạy này, bạn có nhận thấy một cảm giác phấn chấn nơi tim, hay là nó gây nơi bạn một cảm giác lún xuống? Lời dạy có tạo linh hứng sâu sắc khiến bạn cảm thấy đang thoát khỏi ảo tưởng hiện tại?   

Nếu bạn cảm thấy phấn chấn, hay nói cách khác, nếu lời dạy rung động đồng nhịp với nội tâm bạn, điều này có nghĩa là bạn đã được hướng dẫn để vào nơi đây. Trang mạng này có cái gì đó đáp ứng được nhu cầu của bạn, nó đang giục bạn bước chân tiếp trên con đường mà bạn đang đi.  

Xin nhấn mạnh là trang mạng này không bao giờ tuyên bố giáo lý đăng tải ở đây là những giáo lý tối thượng, hay tối hậu, trên địa cầu. Sẽ không có chuyện so sánh với các giáo lý tâm linh khác, và bạn sẽ không bao giờ bị yêu cầu tham gia một tổ chức nào, hoặc bị đòi hỏi phải trung thành với sứ giả hoặc ngay cả với giáo lý. Và cũng hoàn toàn không có đòi hỏi bạn phải ngừng học tập các giáo lý khác.   

Giản dị, bạn hãy sử dụng những giáo lý này cho tới khi nó còn đồng điệu với nội tâm bạn và còn giúp bạn tăng trưởng tâm linh. Nhưng cũng xin nhớ rằng muốn tăng trưởng, bạn cũng cần buông bỏ một số ảo tưởng mà cho tới giờ bạn còn xem là thật. Đây là một tiến trình cam go vì trong tâm lý chúng ta, luôn luôn có những lực muốn cưỡng cản lại. Những lực đó thường mang tên là tự ngã, và nhiều lần bạn sẽ phải trực diện với câu hỏi, liệu tôi sẽ nghe lời chân sư để mà chất vấn ảo tưởng, hay là tôi sẽ nghe lời tự ngã đang cố biện hộ cho ảo tưởng?

Các lời dạy trên trang web này nhắm thẳng vào mục đích đó, là tra vấn mọi ảo tưởng của con người trên địa cầu. Nếu bạn sẵn sàng làm điều này – nhanh hay chậm tùy bạn – thì bạn sẽ thấy giáo lý của chân sư mở ra những chân trời vô biên.

Nghĩa là sao? Giáo lý được đọc ra thành lời, được viết xuống thành chữ, dù sao cũng đã mang sẵn nhiều giới hạn, và do đó không phải là cứu cánh. Mục đích cao xa là bạn đạt tới mức không cần tới giáo lý nữa, bởi vì bạn đã sử dụng giáo lý để liên hệ thẳng trong nội tâm với cá nhân các chân sư. Chỉ mong sao những giáo lý này sẽ rút ngắn thời gian bạn còn cần đến nó.

Chúng ta có thể làm gì cho các chân sư?

Hiểu rõ bài toán của địa cầu

Nhiệm vụ của các chân sư là nâng tâm thức địa cầu đến một mức khi các giới hạn, khó khăn và xung đột hiện tại không còn thị hiện nữa. Các thày cũng có nói đến việc thị hiện một thời hoàng kim với những tiến bộ vượt bực mà đa số chúng ta khó lòng mường tượng nổi huống hồ là chấp nhận. Thật sự, các thày có đủ quyền năng để gỡ bỏ mọi vấn đề do loài người gây ra, tuy nhiên làm như vậy có phi lý lắm không?  

Như đã trình bày, địa cầu là một trường học cho tất cả chúng ta. Đây là môi trường được lập ra để chúng ta có cơ hội học tập cách sử dụng khả năng đồng sáng tạo của tâm mình. Vì vậy thế giới vật chất được thiết kế để phóng chiếu mọi hình ảnh trong tâm con người thành những hoàn cảnh thực tế bên ngoài. Hiện trạng của thế giới chẳng qua chỉ là kết quả sáng tạo tập thể của chúng ta từ rất lâu nay, cho nên nếu các chân sư bỗng dưng quyết định xóa hết mọi tệ đoan khỏi mặt đất thì làm sao chúng ta học hỏi được điều gì?   

Nhiều người sẽ bảo, “Nhưng chúng tôi nào có biết chính chúng tôi đã tạo ra vấn đề cho chúng tôi?” Phải, đây là một tình trạng không tự nhiên chút nào. Nó hiện diện vì đa số chúng ta không chịu nhận trách nhiệm làm chủ bản thân mình, và chúng ta cũng bị thao túng bởi một nhóm người không đúng nghĩa là người vì quá ích kỷ. 

Kết quả là địa cầu ngày nay là một vùng tranh tối tranh sáng nơi con người tạo ra những điều kiện bất toàn cho mình mà không hề hay biết mình là tác giả. Chúng ta không chịu nhìn nhận rằng cách duy nhất để thay đổi hoàn cảnh bên ngoài là thay đổi hoàn cảnh bên trong, những hình ảnh trong tâm mình. Thay vào đó, chúng ta nắm lấy những cái cớ vặn vẹo do cac hệ thống tư tưởng đưa ra  – từ tôn giáo, ý thức hệ chính trị cho đến chủ nghĩa duy vật – để phóng chiếu ra là mình là nạn nhân của một ngoại cảnh vượt ngoài quyền hạn của mình.

Bài toán của địa cầu là như sau: các chân sư có cả minh triết lẫn quyền năng để giúp loài người cùng với chân sư đồng sáng tạo những điều kiện tốt đẹp, nhưng các thày chỉ giúp được nếu chúng ta sẵn sàng thay đổi chính mình. Quy luật vũ trụ không cho phép các thày vi phạm quyền tự quyết của chúng ta, và các thày cũng chẳng bao giờ có ý muốn đó. Trong khi đó thì lại có một nhóm sinh thể khác sẵn lòng xâm phạm quyền tự quyết này bằng cách thao túng để chúng ta tiếp tục sống trong sự hạn chế và chấp nhận cho họ sai khiến. Nhóm sa nhân này lập thành một giai cấp thượng lưu quyền lực, và như lịch sử cho thấy, họ không ngần ngại khuynh loát và gây ra đau khổ để mà chiếm hữu mọi đặc quyền đặc lợi.     

Cho nên điều đầu tiên chúng ta có thể làm để giúp chân sư là tìm hiểu tình trạng thật sự của thế giới bằng cách nhìn xem tâm lý mình đã bị sa nhân chi phối như thế nào. Giáo lý của các thày trên trang này sẽ giúp bạn trong việc đó.

Trao cho chân sư thẩm quyền thay đổi địa cầu

Như nói ở trên, các chân sư có đủ quyền năng để thay đổi mọi điều kiện bất toàn, nhưng vì luật tự quyết, các thày không có thẩm quyền làm điều đó. Vậy ai có thẩm quyền? Chính chúng ta đây, những người đang đầu thai. Chúng ta không có quyền năng nhưng lại có thẩm quyền. Còn các thày thì có quyền năng mà không có thẩm quyền. Vậy giải pháp hữu lý nhất là chúng ta hãy sử dụng thẩm quyền của mình để cho phép các thày dùng quyền năng của các thày chuyển đổi thế gian. Chỉ cần tương đối ít người làm được điều này thì sẽ có được kết quả tích cực.

Tuy nhiên, bởi vì địa cầu là một trường học, cho nên mỗi chúng ta không thể cho phép chân sư thay đổi địa cầu nếu chính cá nhân mình chưa học xong những điều mà mọi người cần học trên hành tinh này. Là người tâm linh, chúng ta có thể sử dụng những giáo lý của chân sư để có nhận biết cao hơn về sự vận hành của tâm mình lẫn của thế giới. Một khi tăng trưởng nhận biết và hàn gắn các vết thương trong tâm lý mình, chúng ta sẽ nâng tâm thức và có đủ nhận biết để chuyển giao thẩm quyền cho chân sư.

Tiến trình này có hai yếu tố:

  • Những ai đã nâng cao tâm thức và học xong những bài học cần thiết, đều có thể trao cho chân sư thẩm quyền loại bỏ một số sinh thể cực kỳ ích kỷ khỏi địa cầu. Đây là những sinh thể luôn kéo thấp tâm thức tập thể khiến cho nhân loại khó lòng nhìn thấu được một số ảo tưởng.
  • Chúng ta đạt được đủ túc số những người không chấp nhận một điều kiện nào đó kéo dài và nhất quyết tự giải phóng khỏi điều kiện đó. Số người này không nhất thiết phải nhận biết cao độ như người tâm linh mà chỉ cần đạt tới quyết định rằng “như vậy là đủ rồi”.          

Lấy một ví dụ điển hình là sự xuất hiện của dân chủ. Trong phần lớn lịch sử, xã hội loài người chỉ biết có chuyên chế bạo ngược dưới bàn chân của những lãnh đạo chỉ yêu có mình, quy tụ thành giai cấp thượng lưu quyền lực. Nhưng thế nào cũng đến lúc sẽ xuất hiện một số ít người có khuynh hướng tâm linh đã học được một số bài học dẫn dắt đến lý tưởng dân chủ do chân sư rải xuống. Với thời gian, con số những người chán ghét chuyên chế sẽ ngày càng đông hơn, cho đến một thời điểm quyết định khi họ đạt được con số đủ để tác động một số quốc gia. Đây là thời điểm mà các chân sư nhận được thẩm quyền để nhập cuộc, đem lại những thể chế dân chủ đầu tiên cho nhân loại. Tiến trình này gần như không có giới hạn.

Trong tương lai, ngày sẽ càng có nhiều người biết đến các chân sư, và điều này sẽ khai mào một sự cộng tác có ý thức giữa nhân loại và các chân sư, đẩy mạnh sự phát triển tâm thức dẫn đến thời hoàng kim.    

Thỉnh cầu chân sư hành động

Là người đang hiện thân trong thế gian, chúng ta có thẩm quyền kêu gọi các chân sư hành động trên địa cầu. Một phần, chúng ta có thể thỉnh cầu một sự phóng thích năng lực tâm linh từ chân sư, và phần khác, chúng ta có thể hướng dẫn tác động này của chân sư về một lãnh vực đặc thù nào đó.

Trên trang mạng này, các thày có truyền dạy rất nhiều dụng cụ tu tập như thế. Có mấy loại dụng cụ khác nhau nhưng chủ yếu thì có hai:

  • Các bài chú, với vần điệu như thơ mà bạn có thể đọc lên mạnh mẽ, nhịp nhàng. Những bài này thu hút mạnh mẽ một số năng lực tâm linh từ các chân sư.
  • Các bài thỉnh, phối hợp lời chú với một số lời tự xác định tích cực hầu kêu gọi các thày tác động trong lãnh vực mong muốn.

Cả hai loại dụng cụ tu tập đều hiệu năng dũng mãnh, một đằng sẽ giúp bạn nâng tâm thức cá nhân, đằng khác thanh lọc năng lượng trong tâm thức tập thể, tác dụng trên số đông để họ đạt đến quyết định “như vậy là đủ rồi”.

Một khía cạnh khác it được biết đến là chúng ta có thẩm quyền kêu gọi sự phán xét tâm linh đối với nhóm thượng lưu quyền lực cực kỳ ích kỷ. Trong phán xét tâm linh, các chân sư bắt buộc các sinh thể đã lạm dụng, khuynh loát con người, phải trực diện với việc làm của họ và nhìn nhận hậu quả mà họ gây ra cho người khác, một điều mà họ luôn tìm cách trốn tránh hay tự bào chữa. Họ sẽ phải chọn lựa giữa hai con đường, hoặc sửa đổi việc làm, hoặc bị dời chuyển khỏi địa cầu.  

Hiện nay có một số rất đông những sinh thể như thế đang hoành hành nơi những tầng cõi gắn liền với địa cầu, và họ không ngừng thao túng loài người để đồng sáng tạo những điều kiện hiện tại. Tác dụng của họ giống như thôi miên vậy, tức là họ tạo ra một tấm màn ảo ảnh khiến cho đa số không thể nhận ra thực trạng của trái đất. Tâm thức tập thể bị kéo xuống thấp, chính vì vậy mà nhiều người tuy nhìn thấy vấn nạn và mong trừ bỏ nó đi nhưng lại để cho nó cứ kéo dài triền miên. Một ví dụ điển hình là thời đại phong kiến khi suốt cả ngàn năm trời, các vua chúa đã khiến cho dân chúng bị thôi miên, không làm sao thoát khỏi chế độ chuyên chế đã biến họ thành nô lệ của một thiểu số.

Các chân sư có quyền năng loại bỏ khỏi địa cầu mọi sinh thể cực kỳ vị kỷ, nhưng các thày cần nhận được thẩm quyền từ ai đó. Các thày cũng cần chúng ta nâng cao tâm thức tập thể, sẵn sàng tự mình chuyển hóa thay vì ngồi trông ngóng một vị cứu tinh ở đâu bay đến.  

Và về điểm này, các chân sư thật không giống chút nào hình ảnh thông thường của vị cứu tinh từ trên trời bay xuống vung tay đập tan mọi xấu ác. Chính chúng ta những người đang đầu thai phải là cứu tinh của mình, bằng cách nâng cao nhận biết hầu có thể cộng tác với các chân sư trong thế liên đới cộng sinh. Tự chúng ta không thể làm được gì, nhưng cùng với các chân sư thì mọi chuyện đều khả dĩ. Một mình các chân sư cũng không có thẩm quyền làm gì được. Chỉ khi quyền năng phối hợp với thẩm quyền thì mọi chuyện mới khả dĩ.    

Quảng bá tư tưởng và năng lượng vào tâm thức tập thể

Chân sư dạy rằng tâm thức tập thể hiện nay trên trái đất rất nặng trược. Trong tâm nhân loại chất chứa nhiều tư tưởng sai lầm cùng nhiều năng lượng sợ hãi như tức giận, oán hận, ghen ghét, v. v… Chúng tràn ngập, áp đảo tâm tư mỗi người, khiến chúng ta mất đi khả năng nắm bắt, đón nhận những luồng tư tưởng mới có thể đem lại giải pháp cho những vấn đề của xã hội hay của chính mình.  

Thật sự chỉ có một lối thoát mà thôi, đó là biến hóa các năng lực sợ hãi đó bằng cách gửi vào tâm thức tập thể những luồng năng lực yêu thương, đồng thời gỡ bỏ ảo ảnh bằng cách phóng ra tư tưởng mới có tiềm năng minh triết. Chúng ta có thể giúp chân sư bằng cách cho phép các thày sử dụng luân xa của mình để quảng bá năng lực yêu thương cùng tư tưởng mới. Có mấy cách để làm điều này.    

Như khi chân sư đọc bài giảng qua sứ giả và chúng ta lắng nghe, chúng ta có thể cho phép chân sư sử dụng luân xa mình để các thày “phát thanh” với một sức mạnh lớn hơn, đi xa hơn, tới nhiều người hơn.

Khi chúng ta lắng nghe một bài giảng được thâu thanh, một hiện tượng tương tự cũng xảy ra, nhưng với cường độ thấp hơn. Còn nếu chúng ta chỉ đọc bài giảng thôi thì kết quả cũng có, nhưng ít hơn nữa.

Khi sử dụng những bài chú và bài thỉnh của chân sư, cần lưu ý rằng cả năng lực lẫn ý tưởng đều được quảng bá. Bài chú mạnh mẽ nhất trong việc quảng bá năng lực, nhưng ít hơn đối với ý tưởng. Còn bài thỉnh thì ngược lại, vô cùng dũng mãnh với tư tưởng nhưng ít hơn với năng lực.

Khi cả hai cộng lại thì ngày sẽ càng có nhiều người thoát được từ trường lôi kéo của tâm thức đại chúng. Có như vậy họ mới dễ dàng rút ra khỏi các khuôn nếp phản ứng tiêu cực cố hữu, và tâm họ được tự do hơn để bắt được và tiếp nhận những ý tưởng mà trước kia họ không thể tiếp cận, rồi từ đó họ có hành động tương ứng. Đây là công tác vô cùng quan trọng để khởi hiện thời hoàng kim. Nhiều người tâm linh đã tình nguyện làm việc này trong kiếp hiện tại và đó là Sứ vụ Thiêng liêng mà họ đã chọn. Bạn thử dùng trực giác xem điều này có đúng với bạn hay không.       

Khởi hiện một thời hoàng kim

Cũng giống nhiều giáo lý tâm linh khác, các chân sư dạy rằng địa cầu trải qua những chu kỳ nối tiếp nhau. Với mỗi chu kỳ, năng lực tâm linh được truyền xuống phù hợp với nhu cầu học hỏi của nhân loại vào lúc đó, và trong số các chân sư có một vị đứng ra giữ vai trò chủ yếu trông coi sự phát triển của nhân loại trong toàn chu kỳ.

Khoảng 2000 năm vừa trôi qua là Thời đại Song ngư và vị chân sư chủ yếu là thày Giê-su. Thày đã hiện thân ở ngay khởi đầu Thời đại hầu nêu gương sự chứng đạt tâm thức mà nhiều người trong chúng ta có khả năng đạt được trong chu kỳ này. Nói cách khác, nhiều người tâm linh có tiềm năng thể hiện cùng trạng thái tâm thức mà Giê-su đã nêu gương, và hiện có khoảng 10,000 vị đang đứng trên ngưỡng cửa ý thức được tiềm năng đó. Về đề tài này, Giê-su đã có rất nhiều bài giảng cùng sách viết mà bạn có thể tìm thấy trên mạng này.   

Nhưng hiển nhiên, nhiều người không xem Giê-su là tấm gương để noi theo, trái lại họ coi Giê-su như một vị cứu tinh từ ngoài. Ý tưởng này là sự thêu dệt của sa nhân, đặc biệt sau khi giáo hội Công giáo La mã thành lập. Một trong những bài học căn bản mà nhân loại đáng lý phải lãnh hội trong Thời đại Song ngư là khắc phục thái độ từ chối trách nhiệm – chính thái độ đó khiến người ta trông mong một vị cứu tinh từ ngoài đến để giải quyết mọi khó khăn cho mình. Thế nhưng chúng ta mới là kẻ đồng sáng tạo mọi điều kiện sống hiện hữu, và chúng ta cũng là người có quyền năng tái sáng tạo địa cầu trong một viễn kiến thăng vượt hơn.

Nếu đã học được bài học trên trong chu kỳ trước thì nhân loại đã sẵn sàng hơn để khởi đầu chu kỳ tiếp theo là Thời đại Bảo bình. Thời đại mới này được thày Saint Germain trông coi, dẫn dắt phát triển loài người trong 2000 năm sắp tới. Saint Germain có chương trình khởi hiện một Thời Hoàng kim đem lại những thay đổi to lớn cho thế giới.

Saint Germain còn nói rằng viễn kiến của thày khác xa tình trạng hiện nay đến độ đa số chúng ta không thể mường tượng được nó có thể lớn lao như vậy hay không chấp nhận được nó có thể xảy ra. Nhưng một lần nữa, thời hoàng kim sẽ không tự dưng xảy đến. Nó phải thuận theo Luật Tự quyết, tức là chính chúng ta phải khiến cho nó xảy ra, phải nâng viễn kiến tới mức mình hoàn toàn chấp nhận những viễn kiến thay đổi của Saint Germain.

Cho nên chìa khoá là nâng cao khả năng nhận biết hầu đồng điệu với Saint Germain cùng các chân sư đang chuẩn bị Thời đại Bảo bình. Chúng ta làm điều này qua giáo lý cùng những dụng cụ tu tập được các thày giảng day, nhưng thêm vào đó, chúng ta cũng cần học hỏi một số chủ đề hữu ích và hấp dẫn đối với chúng ta để có được sự hiểu biết kỹ thuật cụ thể hầu nắm rõ viễn kiến của các thày.  

Bởi vì viễn kiến chỉ là một phần, và phần kia là làm thế nào biến nó thành hiện thực. Nhân loại sẽ cần đến nhiều người với kỹ năng chuyên môn trong nhiều lãnh vực đời sống, không chỉ là khoa học và công nghệ mà còn cả chính trị với văn hóa.

Là người chuộng tâm linh, chúng ta cũng cần học hỏi một số đề tài mà mình quan tâm, không cứ là để trở thành nhà chuyên môn mà để giúp các nhà chuyên môn nhận bắt tư tưởng mới từ Saint Germain cho dù họ chưa biết đến các chân sư thăng thiên. Và thật vậy, như chân sư có nói, mọi người không nhất thiết phải biết tới hay chấp nhận các thày hầu đóng góp. Các thày không cần tiếng tăm mà chỉ muốn địa cầu tốt đẹp hơn, cho nên các thày sẽ làm việc với bất cứ ai có tâm rộng mở. Chúng ta, những người tâm linh, có thể phụng sự đắc lực bằng cách hỗ trợ tinh thần cởi mở đó để tư tưởng của Saint Germain được đón nhận và biểu hiện.   

Các chân sư giúp chúng ta như thế nào?

Đa số những ai mở tâm ra với sự hiện hữu của các chân sư thường xem mình là người tâm linh hơn là người đi theo một tôn giáo. Chúng ta không chấp nhận hình ảnh Thượng đế và quan điểm về tâm linh mà tôn giáo chính mạch đưa ra. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận mọi sự thật tâm linh để mà đi theo chủ nghĩa khoa học duy vật. Chúng ta luôn trực nhận rằng cả hai hệ thống tư tưởng đó đều có cái gì thiếu sót và thực tại tâm linh là nhiều hơn như vậy. 

Sự trực nhận này của chúng ta rằng sự sống có một khía cạnh tâm linh sâu xa hơn, các chân sư xác nhận là không sai. Quả là có một cõi tâm linh vượt ngoài cõi vật chất và ở đó có những sinh thể trí tuệ, tự nhận biết. Những đấng ấy sẵn sàng chỉ dạy chúng ta về thực tại tâm linh, giúp chúng ta nâng cao khả năng nhận thức để có thể liên lạc trực tiếp với các thày mà không qua trung gian của một ai hay một tổ chức nào.

Giúp chúng ta hiểu mục đích đầu thai

Đa số những người tâm linh đều trực nhận mạnh mẽ rằng cuộc sống có một ý nghĩa, rằng mỗi chúng ta đều có mục đích rõ ràng khi ra đời trên một địa cầu mà phần lớn đều xem là rất khó khăn, thậm chí còn thô sơ. Tại sao chúng ta lại đầu thai ở đây, và mục đích cuộc sống thật sự là gì? Các chân sư đã trả lời những câu hỏi này trong rất nhiều bài giảng, cho nên trong bài này chỉ xin tóm lược một số lý do khiến chúng ta đã chọn đầu thai ở thời điểm đặc biệt này:

  • Trước hết, chúng ta có mặt ở đây để nâng cao tâm thức của riêng mình. Có một số bài học tâm linh mà chúng ta cần phải học, và địa cầu này với tất cả sự đảo điên của nó lại là môi trường đào tạo tốt nhất cho chúng ta. Giáo lý của chân sư sẽ giúp chúng ta phát hiện mục đích đầu thai thật sự của mỗi người là gì.
  • Mỗi chúng ta đều có một Sứ vụ Thiêng liêng mà chính mình đã thảo ra cùng với các chân sư thăng thiên trước khi đầu thai. Sứ vụ này kê rõ chúng ta sẽ ra đời ở đâu, gặp gỡ những ai, làm những nghề gì, cần học những bài học tâm linh gì và cần làm gì để cải thiện xã hội.
  • Đa số chúng ta, nếu là người đã mở tâm về các chân sư, hẳn đã từng nâng tâm thức mình tới mức trở nên người hữu ích cho tha nhân, cho xã hội hay cho địa cầu nói chung. Xin dành lại đề tài này cho một dịp khác vì chân sư có giảng dạy rất nhiều về sự phục vụ tha nhân và hỗ trợ cho các thày.
  • Các chân sư dạy rằng địa cầu trải qua những chu kỳ tâm linh. Thời gian 2000 năm qua là Thời đại Song ngư và vị chân sư chủ yếu trông coi địa cầu suốt thời gian đó là thày Giê-su. Bây giờ chúng ta vừa bước sang Thời đại Bảo bình dưới sự trông coi của thày Saint Germain. Saint Germain có chương trình thị hiện một Thời Hoàng kim cho trái đất, và đang có nhiều người tâm linh tình nguyện hiện thân trong thời điểm này chính là để đóng góp vào công việc đó. Song song, cũng có nhiều người ra đời hiện nay cốt ý để giúp cho Giê-su phục hồi giáo lý chân chính của thày – những giáo lý từng bị đạo Cơ đốc chính mạch làm cho biến dạng. Bởi vì muốn cho địa cầu thật sự lật qua trang bước vào Thời đại Bảo bình thì sẽ cần thật nhiều người lãnh hội được chân pháp của Giê-su.

Giúp chúng ta qua những lời dạy tâm linh

Đối với đa số chúng ta, có lẽ lợi ích nhất khi tiếp xúc với các thày là số lượng giáo lý rất lớn mà các thày truyền dạy. Là những nhà giáo dục tâm linh cho toàn thể nhân loại trên một địa cầu vô cùng thử thách, các thày không chỉ dạy về các đề tài tâm linh mà còn phải hướng dẫn chúng ta trong những hoàn cảnh thực tế của đời sống hàng ngày.    

Trang mạng tiếng Việt này là sự rút tỉa một số bài vở chọn lọc từ mạng lưới Ascended Master Light gồm một số trang web bằng tiếng Anh đã từ nhiều năm qua đăng tải hàng trăm bài truyền đọc và những lời vấn đáp của các chân sư qua trung gian vị sứ giả là ông Kim Michaels, cùng với nhiều bài viết và bộ sách của chính ông. Nếu bạn muốn tham khảo trực tiếp toàn bộ những tài liệu rất phong phú này bằng Anh ngữ thì xin truy cập trang web nói trên.    

Riêng trang tiếng Việt này thì xin bạn xem đây là một khu vườn nhỏ quy tụ một số bài vở đã được chọn ra để đáp ứng phần nào nhu cầu tu tập của người Việt trong hoàn cảnh đặc thù của chúng ta. Đối với những bạn mới vào đây tìm hiểu, trang này có một số bài vở căn bản để làm nền tảng giáo lý giúp bạn đi tới. Còn đối với những bạn mong muốn đào sâu hơn, trang này cũng có nhiều bài vở được cập nhật đều đặn nhằm đánh động cảm hứng của bạn ở những mức thâm sâu hơn.

Giúp chúng ta phân biện giữa thực tại và ảo tưởng

Trong thời buổi internet hôm nay, người ta có khả năng tung ra đủ loại luận điệu cùng phản luận điệu, và cả những giả thuyết kỳ quặc nhất. Vậy làm thế nào biết được sự thật ở đâu, hay phải chăng đó chỉ là những ảo tưởng được nặn ra bởi những kẻ muốn thao túng xã hội, thậm chí cả những người có thiện chí nhưng phần nào ngây thơ? Trong hoàn cảnh đó, giáo lý của các chân sư có thể là một điểm tựa cho chúng ta vì giáo lý xuất phát từ một tâm thức không có chút mục đích vụ lợi.   

Chúng ta sử dụng giáo lý các chân sư để thêm khả năng phân biện giữa chân và giả. Thật vậy, nhờ giáo lý mà chúng ta thấu hiểu được những phương thức nhằm thao túng tâm lý nhân loại, đặc biệt là tâm thức nhị nguyên và tư duy cuồng đại đã ăn sâu vào tiềm thức chúng ta và từng được các hệ thống chuyên chế sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử.

Một điểm giáo lý quan trọng là sự hiện diện của một lớp thượng lưu quyền lực (hay nói đúng hơn, một vài nhóm thượng lưu quyền lực) với ý định thao túng xã hội để chiếm lãnh mọi đặc quyền đặc lợi của xã hội. Các nhóm này gồm một số sinh thể đã từng, ở một thời điểm rất xa trong quá khứ, nổi loạn chống lại tiêu chí tối thượng của vũ trụ là luôn luôn tự thăng vượt. Do vậy mà họ bị rớt khỏi ý hướng đi lên của vũ trụ để rồi bị té ngã, cho nên gọi họ là sa nhân. Các sa nhân hoàn toàn ích kỷ, như chúng ta có thể thấy nơi những kẻ mang tâm lý chỉ biết có mình, hay những loại bệnh nhân cách khiến họ thù ghét con người. Ở trong họ không có tình thương và họ chỉ cố sức lợi dụng và khuynh loát con người bằng cách nhồi sọ với những tư tưởng dối trá.

Nhưng với giáo lý của chân sư, bạn có thể phơi bày những dối trá tinh vi đó ở ngay trong tâm mình. Đây là bước cốt yếu để bạn tự giải phóng và đạt được một tâm thức cao hơn.

Giúp chúng ta năng lực tâm linh

Nâng cao tâm thức không chỉ là chuyện tích lũy cái hiểu và cái biết, mà còn phải nâng cao phẩm chất của năng lượng.

Như Albert Einstein đã minh chứng, mọi vật trong thế giới vật chất được cấu tạo bởi năng lượng. Điều này có nghĩa là mọi hành động, cảm xúc hay ý nghĩ của chúng ta đều sản sinh ra những xung động năng lượng. Chúng ta thật sự không thể làm được việc gì, thậm chí không thể tồn tại, nếu chúng ta không sử dụng năng lượng, cả vật lý lẫn tâm lý.  

Là con người, chúng ta đã được ban cho quyền tự quyết, cho nên chúng ta có toàn quyền sử dụng mọi nguồn năng lượng mà mình có. Tuy nhiên chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm về cách sử dụng năng lượng ra sao, hay đúng hơn, về cách chúng ta ảnh hưởng chất lượng của năng lượng đó như thế nào. Có hai lựa chọn:

  • Hoặc chúng ta phú cho năng lượng một độ rung cao hơn, tức một rung động phát xuất từ tình thương. Trong trường hợp này, năng lượng được tuần hoàn lên cõi tâm linh nơi đó nó sẽ được cái ta cao hơn của chúng ta cùng các chân sư làm cho sinh sôi nẩy nở. Kết quả là chúng ta sẽ được nhận thêm dồi dào năng lượng mới để mà hành động và nâng cao tâm thức.
  • Hoặc chúng ta phú cho nó một rung động thấp hơn phát xuất từ sợ hãi. Loại năng lượng này không cách nào thăng được lên cõi tâm linh, và như thế nó bắt buộc phải ở lại cõi phàm nơi nó tích tụ lại trong từ trường bao quanh thể xác. Năng lượng sợ hãi này là chướng ngại cản bước phát triển khả năng tự nhận biết của chúng ta, và với thời gian, nó sẽ tác hại đến cả những hoàn cảnh đời sống của mình. Đây chính là hiện tượng được nhiều truyền thống tôn giáo gọi là nghiệp quả.

Nói ngắn gọn, chẳng qua chúng ta bị hạn chế trong đời là vì năng lượng sợ hãi mà mình đã tạo ra trong quá khứ. Nếu thực sự muốn tinh tấn trên đường tu và cải thiện đời sống của mình thì chúng ta phải tìm cách nâng cao rung động của những lực thấp kém này. Chỉ có một cách thiết thực mà thôi, đó là tiếp cận năng lượng thanh nhẹ ở các tần số cao, hướng nó về những luồng năng lượng ở tần số thấp để nhờ đó lực thấp được nâng lên. Và như vậy gánh nặng của trọng trược phải tan biến.     

Vai trò của chân sư trong tiến trinh này là cung cấp nguồn năng lượng với tần số cao – là năng lượng tâm linh – để chúng ta tự giải thoát khỏi lực thấp. Nhưng bạn cần hiểu, các thày không thể tự tay gỡ bỏ năng lượng thấp dùm chúng ta, bởi vì địa cầu này cốt yếu là một trường học nơi chúng ta phải tự làm lấy. Nhưng nếu chúng ta sẵn sàng nâng tâm thức mình và ngừng sản xuất lực thấp, thì năng lực tình thương đó được tuần hoàn lên cõi tâm linh để các chân sư làm cho sinh sôi nảy nở.

Và đó là tác dụng của những bài chú hay bài thỉnh, là những dụng cụ tu tập được các thày chỉ dạy qua trang mạng này. Khi sử dụng những dụng cụ này, chúng ta phát ra những lời kêu gọi có tác dụng hướng dẫn năng lượng tâm linh. Khi năng lượng được các thày sinh sôi, chúng ta dựa vào đó mà dần dần thoát khỏi các xu hướng vị kỷ, trút được gánh nặng của lực thấp, và đồng thời cũng quân bình lại nghiệp quả của mình.     

Giúp chúng ta qua sự hướng dẫn nội tâm cá nhân

Các chân sư hoàn toàn không muốn bạn lệ thuộc vào giáo lý các thày được đăng tải ở đây, hay lệ thuộc vào vị sứ giả đã chuyển đạt giáo lý đó. Điều mà các thày mong muốn là bạn dần dần nâng tỉnh giác cho đến mức có khả năng tự mình liên hệ trực tiếp trong nội tâm với các thày.  

Vì hiện nay khoảng cách giữa tỉnh giác bình thường của bạn và tâm thức chân sư còn quá lớn, cho nên điều đó có thể sẽ đòi hỏi thời gian, dài hay ngắn còn tùy vào những gì bạn từng làm trong quá khứ nữa. Nhưng đây là mục tiêu không ngoài tầm tay của mỗi người tu tập. Và trang mạng này có mục đích giúp bạn đạt tới mức đó khi bạn nhận được sự hướng dẫn trực tiếp từ chân sư, hoặc nếu bạn đã nhận được rồi mà chưa rõ thì sẽ được rõ hơn.   

Vì bạn đã tìm thấy trang web này, rất có thể là bạn đã nâng tâm thức mình lên cao hơn mức gọi là bình thường. Trong tâm linh có một quy luật quen thuộc nói rằng, “Khi trò sẵn sàng thì thày xuất hiện”. Do bạn tìm thấy trang này, rất có thể những giáo lý và dụng cụ tu tập ở đây là những gì bạn đang cần đến trong giai đoạn hiện tại của bạn.     

Khi bạn tinh tấn, sẽ đến một lúc chân sư sẽ có khả năng làm việc thẳng với bạn. Bạn sẵn sàng thì vị thày của bạn sẽ xuất hiện.

Giúp chúng ta qua tư tưởng và phát minh mới

Như đã trình bày, chân sư Saint Germain có chương trình khai sáng một Thời Hoàng kim trên địa cầu. Tuy nhiên vì mọi chuyện phải thuận theo quy luật tự quyết của mỗi cá nhân cho nên thày không thể tự ý thị hiện điều này mà phải cần đến chúng ta.

Trước khi Thời Hoàng kim có thể hiện diện, tâm thức tập thể của con người cần chuyển vọt nhiều đợt. Số người đón nhận và lãnh hội được luồng tư tưởng mới của Saint Germain phải đạt tới một con số đủ lớn thì chuyển đổi mới xảy ra. Đó là lý do nhiều người tâm linh đang đầu thai trong lúc này để hậu thuẫn cho công cuộc thoát xác được đề xướng.      

Và thật vậy, Thời Hoàng kim đòi hỏi rất nhiều tư tưởng mới được đem vào hiện thực vật chất trong mọi địa hạt của cuộc sống. Vì quyền tự quyết của mỗi người phải được tôn trọng, các tư tưởng này không thể ép uổng từ trên xuống được. Trái lại, chính nhân loại đang đầu thai phải tự mình hòa điệu tâm mình với cõi thượng thiên để trở nên nhạy bén với tư tưởng ở đó.  

Muốn vậy thì phải có một trực giác rộng mở và sự hòa điệu cao độ với các chân sư. Thêm vào đó, còn cần cả kỹ năng chuyên môn nữa. Nhiều người tâm linh đã tình nguyện làm công việc nhận luồng tư tưởng đổi mới. Bạn cũng vậy, bằng cách sử dụng giáo lý và dụng cụ tu tập ở đây, bạn cũng có thể phát triển khả năng bắt được tư tưởng trực tiếp từ chân sư.

Giúp chúng ta đạt tâm thức cao hơn một bực

Chân sư dạy rằng đại đa số nhân loại vẫn còn bị kẹt trong vùng tâm thức khiến cho mọi nhận biết về cuộc sống đều bị bóp méo. Trớ trêu thay, chính bóp méo này khiến cho chúng ta không thể ý thức được tình trạng bóp méo. Có nghĩa là chúng ta chỉ thấy ảo tưởng nhưng không thể thoát ra khỏi ảo tưởng và cứ tưởng lầm đó là thực tại.   

Bạn thử quan sát điều này. Trong đời, mỗi cá nhân thường đều có những quan điểm và tin tưởng khác nhau, thế nhưng đa số chúng ta lại tin rằng chỉ có mình là nắm được sự thật tối hậu. Dưới mắt chúng ta, mọi người khác nhất định phải sai nếu họ không nhìn nhận sự thật duy nhất của chúng ta.  

Theo lẽ thường tình, khi quan điểm trái ngược nhau đến chỗ không thể dung hòa như thế thì không thể có chuyện mọi quan điểm đều đúng hết. Nhưng biết đâu, lỡ tất cả đều sai hết thì sao?

Thật vậy, các chân sư dạy rằng phần lớn chúng ta bị kẹt trong tâm thức tách biệt, nơi đó chúng ta thấy mình là những con người tách biệt. Chúng ta đinh ninh rằng mình tách biệt khỏi nguồn cội của mình (Thượng đế), tách biệt khỏi môi trường (thiên nhiên) và tách biệt cả với mọi người khác. Tâm thức này sinh sản ra tất cả mọi hình thức tranh chấp bất đồng giữa con người.

Ảo tưởng tách biệt khởi đầu với tâm thức nhị nguyên. Trong nhị nguyên, tất cả mọi thứ đều chia ra làm hai đối cực, chẳng hạn đúng-sai, tốt-xấu. Nhị nguyên bắt buộc chúng ta phải chọn một trong hai, bởi vì ngoài hai cái đó ra thì không có lựa chọn nào khác. Đồng thời có cả sự đánh giá chủ quan, hoặc tốt hoặc xấu, và không có gì ở giữa.  

Đến khi nào con người còn bị kẹt trong nhị nguyên thì bất kể lý lẽ là gì đi nữa, người ta cũng sẽ luôn luôn tìm được một lý lẽ đối chọi để chứng minh rằng mình đúng và người bất đồng với mình bắt buộc phải sai. Đây chính là lý do người ta có thể biện minh cho chuyện giết người. Tâm thức này không thể dẫn tới hòa bình như lịch sử đã chứng minh hùng hồn.  

Nhưng chúng ta có một lối thoát khỏi nhị nguyên, các chân sư dạy như thế. Lối thoát đó, cả đức Phật lẫn đức Giê-su đều biểu hiện. Ở căn bản là khả năng phân biện giữa ảo tưởng nhị đối – luôn luôn là một cặp bị chia hai bởi sự đánh giá chủ quan – và cái nhìn thăng vượt. Các thày gọi đó là khả năng phân biện Ki-tô, là khả năng nhìn vượt lên trên những mối chia rẽ để thấy được sự duy nhất nằm bên dưới mọi sự sống.      

Ai ai cũng có thể đạt được tâm thức Ki-tô nếu chuyên cần trau dồi. Trên trang mạng này, bạn có thể tìm thấy nhiều bài giảng cùng dụng cụ mà các chân sư đã ban ra để giúp bạn tu tập. Theo các thày, khắp địa cầu hiện nay có tới 10,000 vị đang đầu thai đã biểu hiện được tâm thức Ki-tô ở một trình độ nào đó, dù rằng trong số đó cũng có nhiều vị chưa ý thức được và cũng chưa thực hiểu tâm thức đó là gì. Nếu như tất cả những vị đó tự biết mình hơn và kết hợp lại, hẳn là họ sẽ nâng cao tâm thức tập thể và đem lại nhiều thay đổi lớn lao cho hành tinh này.      

Tâm thức Ki-tô không phải là một trạng thái tĩnh mà là một tiến trình năng động nâng cao tâm thức. Cao hơn nữa gọi là tâm thức Phật, khi sự hợp nhất được cảm nhận sâu xa, đặc biệt là sự hợp nhất với nguồn cội, và trong đó có cả sự hợp nhất với những thể chân của chính mình. Trên trang mạng này cũng có nhiều bài giảng dạy của chân sư về cách chứng đạt tâm thức này.

Thăng thiên – giải thoát khỏi vòng luân hồi

Theo giáo lý của chân sư, phần lớn các tôn giáo cùng những phong trào tâm linh thời nay thường đưa ra một hình ảnh thiếu thiết thực về sự thăng thiên, cứu rỗi. Hình ảnh thông thường là một tiến trình tự động, gần như máy móc, qua đó chúng ta sẽ tự động giải thoát nếu mình trở thành tín đồ của một tôn giáo, dốc lòng tuân theo mọi giới luật được tôn giáo quy định và trả sạch mọi nghiệp quả đã chồng chất. Nhưng sự thật, ở cõi tâm linh không hề có sự vị kỷ tách biệt mà chúng ta thấy ở địa cầu. Tức là để nhập vào cõi tâm linh, chúng ta phải một cách hoàn toàn ý thức, nâng tâm thức mình vượt lên trên mọi sự vị kỷ phát sinh từ ảo tưởng tách biệt và tâm thức nhị nguyên.

Địa cầu là một trường học nơi chúng ta được ban cho cơ hội chiêm nghiệm cuộc sống như thể mình là một thể sống tách biệt. Do ảo tưởng tách biệt mà chúng ta tin rằng chúng ta có thể tác động trên người khác, hoặc tác động trên thiên nhiên, mà không ảnh hưởng gì tới mình. Có khi chúng ta còn ảo tưởng rằng mình có thể làm bất cứ điều gì mình muốn mà không phải chịu hậu quả, ít ra là trong kiếp hiện tại. Với tâm thức nhị nguyên, những ảo tưởng đó càng được củng cố hơn, bởi vì trong lý luận nhị đối, mọi cư xử của con người đều có thể được biện minh là đúng. Ví dụ điển hình nhất là những nhà độc tài trong suốt lịch sử đã có thể dùng lý luận nhị nguyên để biện hộ cho những hành động tàn sát vô số sinh linh.  

Chân sư dạy rằng khi nào chúng ta còn bị kẹt trong ảo tưởng đó và hành động như một thể sống tách biệt, thì chúng ta không thể rời bỏ hành tinh chúng ta. Lý do thật giản dị: khi chưa học xong cách vượt lên trên ảo tưởng tách biệt thì chúng ta chưa thể thi đậu kỳ thi tốt nghiệp để có thể rời mái trường địa cầu.

Mọi điều chúng ta làm trên địa cầu là qua năng lượng, phần lớn là năng lượng tâm lý. Chúng ta nhận năng lực này từ cái ta cao hơn của chúng ta cùng các chân sư. Chúng ta có toàn quyền biến hóa năng lượng đó theo ý muốn của mình, chỉ có điều là song song, chúng ta cũng trách nhiệm về phẩm chất của nó. Như đã trình bày, chúng ta có hai con đường:   

  • Nếu năng lượng được phú cho rung động của tình thương do chúng ta đã phần nào nhìn vượt lên trên ảo tưởng tách biệt, thì nó sẽ thăng lên cõi tâm linh nơi nó sinh sôi trước khi được phản hồi về chúng ta. Chúng ta sẽ dùng năng lượng khởi sắc ấy để nâng tiếp tâm thức mình cho đến thoát hẳn khỏi tách biệt.
  • Nếu năng lượng bị phú cho rung động của sợ hãi, nó không thể thăng lên và nó trở thành những cái kho chứa trong tâm tiềm thức của mình, tạo thành gánh nặng ngàn cân khiến mình không thể gỡ khỏi sự chi phối của tách biệt. Đây là hiện tượng nghiệp quả mà một số tôn giáo và truyền thống tâm linh nói đến.

Tâm thức tách biệt giống như cái xoắn ốc ngày càng mãnh liệt kéo mình đi xuống. Một phần là vì năng lực sợ hãi tồn đọng lại với thời gian, nhưng hơn thế, mỗi lần chúng ta cư xử tách biệt thì ảo tưởng tách biệt lại càng vững chắc, và khi đó thì chẳng làm sao chúng ta vào được cõi tâm linh. Quá trình này, các chân sư gọi là Trường đời Cay đắng. Khi ảo tưởng tách biệt ngày càng dũng mãnh thì cuộc sống sẽ càng thêm khốc liệt, cho đến khi khổ quá chúng ta bắt buộc phải xét lại nguyên cái tâm thức và lối sống đã kéo mình lún sâu vào đau khổ.     

Vấn đề là khi chúng ta bị kẹt trong tách biệt, chúng ta cứ nghĩ là mình sống trong một môi trường tách biệt với những người tách biệt khỏi mình. Từ đó mới lầm tưởng rằng ngoại cảnh không phải do mình tạo ra hay phóng chiếu ra từ tâm mình. Kỳ thực, thế giới vật chất có thể ví như một tấm gương vũ trụ khổng lồ phản chiếu mọi thứ chứa đựng trong tâm chúng ta – cả trên bình diện cá nhân lẫn tập thể – trở ngược về chúng ta dưới hình thức những hoàn cảnh vật chất chi phối đời sống. Mọi xung đột, mọi vấn nạn đang xảy ra trên trái đất hiện nay kỳ thực chỉ là sự phóng chiếu của tâm thức tập thể loài người.

Khi nào chúng ta còn tin vào cái ảo tưởng vô cùng phổ biến này thì khi đó sẽ còn phải ngồi lại lớp học trần thế, trói chặt vào chu kỳ sống, chết và tái đầu thai. Các chân sư nhìn nhận sự thật của hiện tượng đầu thai cũng như nghiệp quả, nhưng những lời dạy của các thày đi xa hơn mọi điều mà bạn đã từng đọc được ở nơi khác.

Rốt cuộc sẽ tới một khúc rẽ nơi chúng ta phải đặt lại vấn đề ảo tưởng ngoại cảnh và thử tìm xem có cách nhìn nào khác về cuộc đời hay chăng. Làm vậy, chúng ta mới thực sự nắm lấy vận mạng của mình thay vì cứ đổ lỗi cho ngoại cảnh nghiệt ngã. Khi nào bước đến khúc rẽ đó thì chúng ta mới có thể nói là mình sẵn sàng bước vào đường tu tâm linh. Đây là con đường dẫn mình vượt khỏi tách biệt và nhị đối, để qua từng bước chiêm nghiệm, mình đạt đến những tầng cao hơn của thực tại tâm linh.   

Rồi khi đạt tới tầng tâm thức cao đó, sẽ đến lúc chúng ta không còn nhu cầu tái đầu thai nữa. Đây là bước chót dẫn thẳng đến thăng thiên khi chúng ta vĩnh viễn chia tay trái đất.

Các chân sư mang danh hiệu thăng thiên là vì các thày đã từng thăng thiên từ hành tinh này hay một hành tinh nào khác. Rất nhiều các vị hiện đang phục vụ cho trái đất đã từng là người sống trên trái đất và đã thăng thiên từ trái đất, và điều này quý giá làm sao khi các thày có thể dùng kinh nghiệm bản thân để giúp chúng ta cũng thăng thiên như các thày. Các chân sư biết rõ mọi thử thách đặt ra cho một hành tinh có vật chất nặng trược và tâm thức không mấy cao như địa cầu. Vì hiểu rõ bản chất của những ảo tưởng đang bao trùm chúng ta mà các thày sẽ giúp được chúng ta theo chân các thày.

Thế nào là một chân sư thăng thiên?

Xin bắt đầu bằng câu hỏi này dành cho bạn: “Bạn là gì?” Ở cốt lõi, có thể trả lời: bạn là một sinh thể có khả năng tự nhận biết. Bạn biết là bạn hiện hữu (phần “nhận biết”) và bạn cũng ý thức được bạn là ai (phần “tự”). Trong hiện tại, khả năng tự nhận biết này của bạn tập trung vào cõi vật chất và tiêu điểm là xác thân vật lý của bạn. Tuy nhiên, bạn cũng có thể nhận biết mình là cái gì khác nữa.

Chân sư cũng là đấng tự nhận biết. Nhưng chân sư đã nâng cao, hoặc gia tốc, khả năng tự nhận biết đến mức không còn tập trung vào cõi vật chất nữa, mà vào những cõi rung động thanh cao hơn được thường được gọi là cõi tâm linh.

Mỗi sinh thể tự nhận biết đều có tiềm năng đi muốt tiến trình gia tốc nói trên để đạt tới cao điểm gọi là sự thăng hoa, hay thăng thiên. Chính bạn cũng có tiềm năng này, bạn có thể nâng cao khả năng tự nhận biết của mình cho tới khi bạn điều ngự được cả tâm mình lẫn cõi vật chất chung quanh. Rồi bạn có thể nhảy vọt một bước, nâng tự nhận biết tới một mức chưa từng đạt tới và khi ấy bạn không còn cần đến xác thân vật lý nữa. Thay vì xác thân vật lý, bạn sẽ sinh hoạt trong một cái “xác” trong nhẹ được kết tạo bởi những rung động thanh cao của cõi tâm linh.

Một số chân sư đã từng là con người đầu thai trên trái đất này, không khác gì bạn hay tôi (Kim Michaels) bây giờ. Các thày hiểu rõ mọi điều mà bạn đang trải qua bởi vi chính các thày cũng đã phải vật lộn với cõi vật chất dày đặc y như bạn. Và đó là lý do chân sư là những vị thày lý tưởng để hướng dẫn bạn khỏi rơi vào những lầm lỗi mà các thày đã vấp phải. Còn bạn, bạn chỉ cần đi theo đường lối mà chân sư đã khai thông cho bạn xuyên qua rừng rậm của tâm thức con người.   

Tất nhiên cũng có một số chân sư đã thăng thiên ở những hành tinh khác ngoài trái đất, và có cả những vị chưa bao giờ xuống hiện thân trong bầu cõi chúng ta. Vậy xin mô tả dưới đây từng thành phần xuất xứ.  

Các đấng đã từng đầu thai và đã thăng thiên

Trước hết xin nhìn từ góc cạnh một người đang đầu thai trên địa cầu. Vũ trụ vật chất thật sự là một “bộ máy” phản hồi tinh vi nhằm giúp mỗi chúng ta phát triển khả năng tự nhận biết qua sự phản hồi.

Nhiều người không ưa từ “trường học”, nhưng ở đây, khái niệm trường học khá thích hợp với câu chuyện của chúng ta. Đa số trường học đều có một kỳ thi ra trường, và nếu thi đậu thì chúng ta sẽ đươc tự do xông ra đời mà không còn bận bịu chuyện học vấn nữa. Cũng vậy, nếu chúng ta không ngừng nâng cao tâm thức và thăng vượt khả năng tự nhận biết của mình thì chuyện gì sẽ xảy ra?  

Đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ được “thi ra trường”, qua đó chúng ta nhập vào một tiến trình “tốt nghiệp” mọi sự học hỏi của vũ trụ vật chất. Đây là một tiến trình thâm sâu, phức tạp, đòi hỏi chúng ta chấm dứt mọi sự đồng hóa với ngã tách biệt để chuyển sang một nhận thức tự nhận biết mới. Trong tâm thức mới này, chúng ta hợp nhất toàn vẹn, ở trên thì hợp nhất với cõi tâm linh, và ở dưới với mọi sự sống trong cõi thế gian này. Mọi ham muốn hay dính mắc đối với thế gian đều được bỏ lại.

Tiến trình này thường mang tên là đường tu tâm linh, với giai đoạn gia tốc chót gọi là xoắn ốc thăng hoa, dẫn tới sự thăng thiên. Một khi thăng thiên, chúng ta sẽ mãi mãi giải thoát khỏi địa cầu cùng vũ trụ vật chất. Vì đã điều ngự được tâm mình nên trở thành bậc thày và mang danh hiệu “chân sư thăng thiên”.

Cuộc thăng thiên đó, nhiều dòng sống đã thực hiện được trong suốt quá trình của trái đất trải dài hơn lịch sử chính thức rất nhiều. Mỗi chân sư khi mới thăng thiên đều có hai lựa chọn: hoặc đi tiếp tới những vùng cao vô tận của cõi tâm linh, hoặc ở lại với địa cầu hầu trợ giúp phần nhân loại chưa thăng thiên.

Nhiều vị chân sư đã chọn con đường thứ hai này để ở lại giúp chúng ta. Vì đã trải qua kinh nghiệm đầu thai trên hành tinh chúng ta hay một hành tinh nào khác, và đã thăng vượt được cõi đời dày đặc ở đây cho nên các thày hiểu rõ mọi khó khăn mà chúng ta phải đương đầu. Nhờ khả năng quý giá đó mà các thày mới giúp được chúng ta khai ngộ chính những điều mà các thày đã khai ngộ.   

Các đấng không từng đầu thai

Vũ trụ được tạo ra như một cấu trúc nhiều tầng. Bầu cõi nơi chúng ta sinh sống được tạo ra bởi một số sinh thể ở bầu cõi nằm ngay trên. Và bầu cõi đó lại cũng được tạo ra bởi sinh thể ở bầu cõi cao hơn nữa, và cứ như thế, lớp lớp họp thành một dãy cấu trúc nhiều tầng dẫn ngược lên Đấng Sáng tạo của chúng ta.

Điều quan trọng cần hiểu là một sinh thể chỉ có khả năng sinh tạo bầu cõi dưới mình một khi đã hợp nhất với các đấng đã tạo ra mình và nguyên hàng ngũ tâm linh ở trên. Nói cách khác, đây là điều khác biệt căn bản giữa cõi vật chất và cõi tâm linh: chúng ta trong cõi vật chất xem mình là những sinh thể tách biệt sinh sống trong một thế giới tách biệt, nhưng muốn vào được cõi tâm linh, chúng ta phải vượt qua ảo tưởng này và thật sự hòa nhập vào tánh duy nhất của mọi sự sống.

Cho nên khi sinh thể ở cõi cao sinh tạo một cõi mới chưa thăng hoa, thì cõi mới này như được tiết ra từ bản thân mình. Nói cách khác, vị sáng tạo không xem bầu cõi mới là cái gì riêng rẽ mà là chính mình. Có điều, bầu cõi mới ấy được tạo với rung động nặng trược hơn. Mục đích là vị sáng tạo sẽ phái xuống những thành phần nối dài của mình để đầu thai trong cõi mới, với thân thể được cấu tạo bằng năng lực ở đó.

Sáng tạo như vậy có hai mục đích. Một là để nâng cao rung động của bầu cõi mới cho đến khi cõi này thăng hoa, hợp lại với cõi tâm linh. Và hai – mục đích thâm sâu của cả tiến trình – là những thành phần nối dài đó có sắc tính đặc thù, là những cá thể sẽ phát triển khả năng tự nhận biết bằng cách giúp cho bầu cõi của họ thăng hoa.

Cho nên một đằng có thể nói, các vị sáng tạo bầu cõi chúng ta đã không đầu thai trọn vẹn trong cõi chúng ta. Nhưng nhìn cách khác cũng có thể nói, các vị ấy đã hiện thân trong bầu cõi chúng ta qua trung gian những cá thể nối dài được phái xuống. Những cá thể nối dài này không phải là những nhân vật bí hiểm xa lạ nào đâu, họ chính là chúng ta đó!  

Hóa ra chúng ta đã bị nhồi sọ để rồi cứ tin rằng là mình chỉ là những con người hạn chế đủ mọi mặt – thậm chí có thể là những kẻ có tội – nhưng thực sự chúng ta là phần nối dài của các đấng tâm linh đã sinh tạo bầu cõi chúng ta. Nói cho cùng thì mục đích của đường tu tâm linh và thăng thiên chẳng qua chỉ là để chúng ta chấp nhận trọn vẹn bản sắc đích thực của mình, rằng chúng ta là những cá thể nối dài của nguyên cái chuỗi tâm linh ở trên chúng ta.

Điều quan trọng là đây: cho dù rất nhiều vị trong Đại đoàn Thượng thiên không hiện thân hoàn toàn, nhưng các thày lại hiện thân qua trung gian chúng ta – là những phần nối dài của các thày. Cho nên hình ảnh cố hữu về một Thượng đế xa xăm và nóng giận ngồi ngự ở đâu đó trên mây không ăn khớp chút nào với thực tế. Không có chuyện nổi giận, phán xét hay lên án chúng ta, mà các chân sư kỳ thực chỉ mong nâng chúng ta lên cao để nhập lại cùng với các thày.    

Dù trong hiện tại, chúng ta có thể quên rằng mình là thân nối dài của các đấng thăng thiên, nhưng các thày thì không bao giờ quên đâu. Các thày nâng chúng ta lên chính là vì không thể quên được chúng ta là một phần của các thày. Khi được nâng lên như thế, chúng ta sẽ không mất hẳn cá thể của mình. Ngược lại là đằng khác, chúng ta sẽ hòa nhập với cá thể tâm linh chân thật của mình, và đồng thời cũng thăng vượt mọi hạn chế của cái gọi là cá thể phàm phu, là cái ngã tách biệt. Chẳng có gì mất mà chỉ có được thêm.  

Các chân sư thăng thiên là ai?

Các chân sư thăng thiên là những vị đã vượt lên trên tâm thức loài người và đã cống hiến bản thân để giúp chúng ta cũng sẽ thăng thiên như các thày. Qua lời dạy và các dụng cụ tu tập tâm linh, các thày giúp chúng ta kết nối lại với mục đích nguyên thủy của mình khi mình hiện thân làm người trên quả địa cầu đầy thử thách này.

Chính vì tâm thức cao hơn hẳn chúng ta mà các thày mới có khả năng giúp được chúng ta như vậy. Cho nên nếu chúng ta tưởng mình có thể đứng nguyên ở mức tâm thức cố hữu của mình mà nắm bắt được trọn vẹn các thày, thì e rằng chúng ta chỉ khiến cho sự vượt thăng của mình khó khăn hơn mà thôi. Một vài lời giải thích đơn giản về các thày thật là không thể đủ vào đâu.

Tuy nhiên trong ý nghĩa phổ quát nhất, chúng ta có thể nói rằng các chân sư thăng thiên là những vị thày tâm linh cho mọi người trên trái đất. Các thày đã nhận làm công việc giúp tất cả chúng ta nâng cao tâm thức, cả trên bình diện cá nhân lẫn tập thể. Công việc này không dễ chút nào vì chúng ta ở những trình độ tâm thức rất khác nhau. 

Chỉ cần nhìn qua lịch sử cũng như hiện tại thì sẽ thấy ngay nhân loại đa dạng vô cùng trong các quan điểm, tín ngưỡng cùng cách cư xử. Vì thế các thày không thể chỉ dùng một phương cách giàng dạy độc nhất, mà phải thích ứng phương cách đó với trình độ tâm thức của mỗi người. Nói chung có hai cấp độ:

  • Tuyệt đại đa số con người chưa có tâm thức ở mức sẵn sàng chấp nhận sự hiện hữu của các chân sư thăng thiên,
  • Và một số ít đã nâng tâm thức mình đến mức có thể thấy được bước tự nhiên kế tiếp của mình trên đường phát triển nội tâm là sự nhận diện các chân sư.

Từ rất lâu, các chân sư đã không ngừng làm việc với địa cầu chúng ta, nhưng các thày đã kín đáo ẩn mặt trong phần lớn thời gian đó. Chúng ta không biết đó thôi chứ các thày đã luôn luôn gieo những hạt mầm thăng tiến vào tâm thức loài người qua những luồng tư tưởng tâm linh hay thực dụng, như qua các phát minh trong các ngành công nghệ, văn hoá hay nghệ thuật. Và như thế, tâm thức tập thể của nhân loại được nâng lên, chẳng hạn khi ý thức về dân chủ xuất hiện, hoặc khi con người nhận thức rõ ràng hơn về những giá trị của quyền sống và quyền làm người.     

Tâm thức tập thể luôn luôn được nâng lên khi có một số ít người mở tâm ra nhận lấy những tư tưởng mới đó, rồi từ đó nó dần dần lan rộng trong quần chúng cho đến khi một sự chuyển vọt xảy đến. Chúng ta đã từng chứng kiến nhiều ví dụ như vậy, như khi dân chủ khai sinh, khi chế độ nô lệ được hủy bỏ, hoặc giới phụ nữ dần dần được hồi phục bình quyền.  

Nay với tâm thức tập thể cao hơn trước, các chân sư đã bắt đầu lộ diện qua một số phương tiện phổ thông như sách vở và mạng internet. Nhờ đó, ngày càng có nhiều người biết đến các thày, rồi học tập giáo lý các thày một cách ý thức, cũng như sử dụng các dụng cụ tu tập tâm linh được các thày ban ra.

Trang mạng này không có tham vọng nhắm đến tất cả mọi người, mà chỉ xin dành tặng cho những ai có tâm mở đối với các chân sư, sẵn sàng nắm lấy những giáo lý và dụng cụ tu tập được đăng tải ở đây để sử dụng một cách ý thức. Bằng cách áp dụng giáo lý, bạn có khả năng nâng cao tâm thức mình cùng cải thiện hoàn cảnh đời sống của mình. Bạn cũng sẽ có khả năng đóng góp nâng cao tâm thức tập thể và giúp cho địa cầu này vượt qua phần lớn những khó khăn hiện tại. Nhờ đó biết đâu chính bạn cũng sẽ tìm ra phương hướng cho đời mình, một điều mà chắc hẳn bạn đã mong mỏi từ lâu.    

Làm sao bạn biết được những giáo lý này có thích hợp với bạn hay không? Bạn chỉ biết được trong nội tâm mà thôi, qua trực giác. Nếu bạn đã sẵn sàng nhận giáo lý này thì hẳn bạn cũng đã phát triển trực giác rồi. Vậy bạn hãy thử hòa điệu với cảm giác trong tim mình khi bạn học tập giáo lý và thử nghiệm các dụng cụ tu tập ở đây. Nếu giáo lý thích hợp thì bạn sẽ biết ngay trong tim mình. 

Các chân sư thăng thiên dạy trực tiếp thế nào?

Các chân sư đã công khai giảng dạy trực tiếp từ hơn một thế kỷ nay qua một số vị sứ giả khác nhau. Gọi là “lời dạy trực tiếp” nhưng là lời dạy được phát biểu qua một người làm trung gian, như sau:

  • Lời dạy được công khai nhìn nhận là của các chân sư, chứ sứ giả không phải là tác giả những lời đó.
  • Lời dạy được truyền đạt qua tâm sứ giả và do đó có thể nhuốm một ít màu sắc văn hóa từ phía sứ giả, nhưng lời dạy vượt trội hẳn khả năng tư duy hiện hữu trong tâm sứ giả.  

Trong quá khứ, các chân sư đã từng sử dụng nhiều người làm trung gian trong nhiều vai trò sứ giả khác nhau, nhưng những lời dạy trực tiếp nhất thường là những “bài truyền đọc”. Trong phương thức này, sứ giả được huấn luyện để nâng tâm thức mình lên đến mức có thể đồng điệu với chân sư, hầu chân sư dùng tâm và giọng nói của sứ giả để phát biểu trực tiếp lời mình. Lời dạy được gọi là “bài truyền đọc” vì đó chính là chân sư đọc qua sứ giả.

Xin nhấn mạnh đây không phải là đồng bóng, vì vị sứ giả của chân sư không ở trong trạng thái xuất vía, mà trái lại hoàn toàn sáng suốt, tỉnh thức suốt bài đọc. Sứ giả có khả năng chấm dứt buổi đọc bất cứ lúc nào. Vì giữ được tâm trung dung cho nên không có vấn đề cố tình tô màu hay bóp méo lời dạy.

Tuy vậy, vì lời dạy dược chuyển qua tâm sứ giả cho nên nó phải dựa vào ngôn ngữ, kiến thức cùng văn hóa của sứ giả. Chẳng hạn, nếu sứ giả hiểu biết rất ít về cơ học lượng tử thì chân sư không thể phát biểu về đề tài đó. Chân sư chỉ có thể sinh sôi những gì đã có sẵn trong tâm thức sứ giả mà thôi.

Hẳn điều này sẽ giới hạn những gì chân sư có thể phát biểu, nhưng đó cũng có thể là một điểm lợi cho những ai có cùng văn hóa với sứ giả vì lời dạy trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn. Tất nhiên, điều này cũng có nghĩa là không một sứ giả nào có khả năng chuyển đạt mọi loại giáo lý mà các thày muốn truyền dạy. Không một sứ giả hay một tổ chức nào đã, hoặc sẽ, có thể dành độc quyền tiếng nói của các chân sư.

Tại sao giáo lý chân sư hữu ích cho chúng ta?

Lợi ích tiềm tàng lớn nhất nằm ở chỗ các chân sư có tâm thức cao hơn hẳn chúng ta trên cơ bản. Các thày đã vượt lên trên mọi quan điểm hay thành kiến, mọi loại ích kỷ, sợ hãi hay ảo tưởng của con người. Các thày cũng vượt trên mọi sự phân biệt trên trái đất, dù là những nhân vật quyền uy, những tổ chức, quốc gia hay truyền thống văn hoá. Các thày chỉ mong muốn giúp đỡ mọi người bất kể người đó là ai. Vấn đề duy nhất là mọi người có mở tâm ra để được giúp đỡ hay không mà thôi.   

Các chân sư nhìn thế gian từ một tầm góc khác hẳn chúng ta, và điều này vô cùng quý báu ở chỗ chúng ta được trao một cái khung chuần với ba sự thật căn bản:

  • Có một tâm thức vượt cao hơn và xa hơn tâm thức con người bình thường. Hẳn là có cái gì đó ở bên ngoài hộp tư duy giới hạn của chúng ta.
  • Mỗi sinh thể tự nhận biết (self-aware being) có sẵn tiềm năng vượt lên trên tâm thức con người bình thường để đạt đến tâm cao của chân sư. Mỗi người trong chúng ta đều có khả năng đó, nhưng muốn vậy, chúng ta phải trở nên tỉnh giác hơn bây giờ.
  • Có một hệ thống tu tập để đưa chúng ta từ bất cứ tầng tâm thức nào trong hiện tại đến sự tỉnh giác bao la của tâm thức thăng hoa. Mỗi chúng ta đều có khả năng trở thành chân sư thăng thiên, và khi đó chúng ta cũng thăng vượt được mọi khổ đau cùng hạn chế của loài người. Con đường này có tên là đường tu tâm linh.   

Khả năng tự nhận biết cao độ là cách giúp chúng ta vượt lên trên mọi vấn đề cùng hạn chế cá nhân. Đó cũng là cách duy nhất để giúp địa cầu vượt lên trên mọi vấn đề do con người gây ra – mà mọi vấn đề của địa cầu đều do con người gây ra cả. Điều này chúng ta làm được bởi vì mỗi chúng ta là phân tử của tâm thức tâp thể, và khi nâng tâm thức cá nhân thì chúng ta cũng kéo cả tập thể đi lên.

Biết vậy nhưng tâm thức rộng lớn của chân sư là điều khó đạt nhất đấy. Tại sao thế? Vì khi nào chúng ta còn bị tấm màn ảo tưởng của nhận thức con người che chắn, thì chúng ta rất khó nắm bắt được cái gì không có màn che. Chúng ta luôn có khuynh hướng đánh giá mọi thứ dựa trên cái nhìn giới hạn cố hữu, muốn gò ép mọi điều mới vào những cái khuôn cũ để xác nhận những điều mình đã sẳn tin là sự thật.

Thói quen này từng được nhà hiền triết Cổ Hy Lạp Plato minh họa trong ngụ ngôn hang đá. Trong hang đá ngụ ngôn, có một nhóm người bị xiềng xích quay mặt vào tường, đối lưng với cửa hang. Ngoài hang có người ta đi lại bình thường, nhưng kẻ bị xiềng trong hang thì chỉ thấy được bóng chiếu trên tường. Người trong hang cố hết sức nắm được thực tại ngoài hang, nhưng vô ích, vì họ chỉ thấy được những cái bóng của thực tại mà thôi.

Con người có khuynh hướng muốn xác nhận những điều mình đã sẵn tin tưởng, cho nên chúng ta thường chụp lấy bất cứ tư tưởng nào, dù là từ tôn giáo, triết học, ý thức hệ chính trị hay giáo lý tâm linh. Và rất có thể bạn cũng sẽ mượn lời dạy của các chân sư để củng cố cho những điều bạn sẵn tin, nhưng nếu chẳng may bạn làm vậy thì sẽ không thể nào thoát được tâm thức hiện hữu của mình.

Và đây là vấn đề chúng ta phải trực diện: Liệu chúng ta sẽ cố gò ép lời dạy của chân sư vào trong cái hộp tư duy kín mít của mình, hay chúng ta sẽ dùng lời dạy đó để tra vấn các ảo tưởng và mở rộng cái hộp đó ra? Nếu chúng ta chọn cách thứ nhất thì sẽ không thể nào nâng tâm thức lên một bậc được. Còn nếu chọn cách thứ hai thì hộp tư duy sẽ ngày càng rộng rãi hơn cho đến khi nó không còn tồn tại được nữa, và lúc đó chúng ta sẽ được quyền thênh thang bước ra khỏi cái hang của Plato để nhìn thực tại với con mắt của chân sư.

Mục đích duy nhất của trang mạng này là để giúp bạn cất bước trên con đường tâm linh đó, để nó dẫn bạn tới một tầng tỉnh giác cao hơn. Bài vở trong trang này sẽ chỉ dẫn tường tận về từng giai đoạn trên đường, nhưng nói cho cùng thì chỉ có bạn mới có thể quyết định cất bước, quyết định sử dụng những giáo lý được trình bày. Và dù bạn có quyết định thế nào đi nữa thì các chân sư cũng sẽ hoàn toàn tôn trọng quyền tự quyết của bạn.

Các chân sư là ai?

Các chân sư thăng thiên là những vị đã vượt lên trên tâm thức loài người và đã cống hiến bản thân để giúp chúng ta cũng sẽ thăng thiên như các thày. Qua lời dạy và các dụng cụ tu tập tâm linh, các thày giúp chúng ta kết nối lại với mục đích nguyên thủy của mình khi mình hiện thân làm người trên quả địa cầu đầy thử thách này.

Chính vì tâm thức cao hơn hẳn chúng ta mà các thày mới có khả năng giúp được chúng ta như vậy. Cho nên nếu chúng ta tưởng mình có thể đứng nguyên ở mức tâm thức cố hữu của mình mà nắm bắt được trọn vẹn các thày, thì e rằng chúng ta chỉ khiến cho sự vượt thăng của mình khó khăn hơn mà thôi. Một vài lời giải thích đơn giản về các thày thật là không thể đủ vào đâu.

Tuy nhiên trong ý nghĩa phổ quát nhất, chúng ta có thể nói rằng các chân sư thăng thiên là những vị thày tâm linh cho mọi người trên trái đất. Các thày đã nhận làm công việc giúp tất cả chúng ta nâng cao tâm thức, cả trên bình diện cá nhân lẫn tập thể. Công việc này không dễ chút nào vì chúng ta ở những trình độ tâm thức rất khác nhau. 

Chỉ cần nhìn qua lịch sử cũng như hiện tại thì sẽ thấy ngay nhân loại đa dạng vô cùng trong các quan điểm, tín ngưỡng cùng cách cư xử. Vì thế các thày không thể chỉ dùng một phương cách giàng dạy độc nhất, mà phải thích ứng phương cách đó với trình độ tâm thức của mỗi người. Nói chung có hai cấp độ:

  • Tuyệt đại đa số con người chưa có tâm thức ở mức sẵn sàng chấp nhận sự hiện hữu của các chân sư thăng thiên,
  • Và một số ít đã nâng tâm thức mình đến mức có thể thấy được bước tự nhiên kế tiếp của mình trên đường phát triển nội tâm là sự nhận diện các chân sư.

Từ rất lâu, các chân sư đã không ngừng làm việc với địa cầu chúng ta, nhưng các thày đã kín đáo ẩn mặt trong phần lớn thời gian đó. Chúng ta không biết đó thôi chứ các thày đã luôn luôn gieo những hạt mầm thăng tiến vào tâm thức loài người qua những luồng tư tưởng tâm linh hay thực dụng, như qua các phát minh trong các ngành công nghệ, văn hoá hay nghệ thuật. Và như thế, tâm thức tập thể của nhân loại được nâng lên, chẳng hạn khi ý thức về dân chủ xuất hiện, hoặc khi con người nhận thức rõ ràng hơn về những giá trị của quyền sống và quyền làm người.     

Tâm thức tập thể luôn luôn được nâng lên khi có một số ít người mở tâm ra nhận lấy những tư tưởng mới đó, rồi từ đó nó dần dần lan rộng trong quần chúng cho đến khi một sự chuyển vọt xảy đến. Chúng ta đã từng chứng kiến nhiều ví dụ như vậy, như khi dân chủ khai sinh, khi chế độ nô lệ được hủy bỏ, hoặc giới phụ nữ dần dần được hồi phục bình quyền.  

Nay với tâm thức tập thể cao hơn trước, các chân sư đã bắt đầu lộ diện qua một số phương tiện phổ thông như sách vở và mạng internet. Nhờ đó, ngày càng có nhiều người biết đến các thày, rồi học tập giáo lý các thày một cách ý thức, cũng như sử dụng các dụng cụ tu tập tâm linh được các thày ban ra.

Trang mạng này không có tham vọng nhắm đến tất cả mọi người, mà chỉ xin dành tặng cho những ai có tâm mở đối với các chân sư, sẵn sàng nắm lấy những giáo lý và dụng cụ tu tập được đăng tải ở đây để sử dụng một cách ý thức. Bằng cách áp dụng giáo lý, bạn có khả năng nâng cao tâm thức mình cùng cải thiện hoàn cảnh đời sống của mình. Bạn cũng sẽ có khả năng đóng góp nâng cao tâm thức tập thể và giúp cho địa cầu này vượt qua phần lớn những khó khăn hiện tại. Nhờ đó biết đâu chính bạn cũng sẽ tìm ra phương hướng cho đời mình, một điều mà chắc hẳn bạn đã mong mỏi từ lâu.    

Làm sao bạn biết được những giáo lý này có thích hợp với bạn hay không? Bạn chỉ biết được trong nội tâm mà thôi, qua trực giác. Nếu bạn đã sẵn sàng nhận giáo lý này thì hẳn bạn cũng đã phát triển trực giác rồi. Vậy bạn hãy thử hòa điệu với cảm giác trong tim mình khi bạn học tập giáo lý và thử nghiệm các dụng cụ tu tập ở đây. Nếu giáo lý thích hợp thì bạn sẽ biết ngay trong tim mình. 

Các chân sư thăng thiên dạy trực tiếp thế nào?

Các chân sư đã công khai giảng dạy trực tiếp từ hơn một thế kỷ nay qua một số vị sứ giả khác nhau. Gọi là “lời dạy trực tiếp” nhưng là lời dạy được phát biểu qua một người làm trung gian, như sau:

  • Lời dạy được công khai nhìn nhận là của các chân sư, chứ sứ giả không phải là tác giả những lời đó.
  • Lời dạy được truyền đạt qua tâm sứ giả và do đó có thể nhuốm một ít màu sắc văn hóa từ phía sứ giả, nhưng lời dạy vượt trội hẳn khả năng tư duy hiện hữu trong tâm sứ giả.  

Trong quá khứ, các chân sư đã từng sử dụng nhiều người làm trung gian trong nhiều vai trò sứ giả khác nhau, nhưng những lời dạy trực tiếp nhất thường là những “bài truyền đọc”. Trong phương thức này, sứ giả được huấn luyện để nâng tâm thức mình lên đến mức có thể đồng điệu với chân sư, hầu chân sư dùng tâm và giọng nói của sứ giả để phát biểu trực tiếp lời mình. Lời dạy được gọi là “bài truyền đọc” vì đó chính là chân sư đọc qua sứ giả.

Xin nhấn mạnh đây không phải là đồng bóng, vì vị sứ giả của chân sư không ở trong trạng thái xuất vía, mà trái lại hoàn toàn sáng suốt, tỉnh thức suốt bài đọc. Sứ giả có khả năng chấm dứt buổi đọc bất cứ lúc nào. Vì giữ được tâm trung dung cho nên không có vấn đề cố tình tô màu hay bóp méo lời dạy.

Tuy vậy, vì lời dạy dược chuyển qua tâm sứ giả cho nên nó phải dựa vào ngôn ngữ, kiến thức cùng văn hóa của sứ giả. Chẳng hạn, nếu sứ giả hiểu biết rất ít về cơ học lượng tử thì chân sư không thể phát biểu về đề tài đó. Chân sư chỉ có thể sinh sôi những gì đã có sẵn trong tâm thức sứ giả mà thôi.

Hẳn điều này sẽ giới hạn những gì chân sư có thể phát biểu, nhưng đó cũng có thể là một điểm lợi cho những ai có cùng văn hóa với sứ giả vì lời dạy trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn. Tất nhiên, điều này cũng có nghĩa là không một sứ giả nào có khả năng chuyển đạt mọi loại giáo lý mà các thày muốn truyền dạy. Không một sứ giả hay một tổ chức nào đã, hoặc sẽ, có thể dành độc quyền tiếng nói của các chân sư.

Tại sao giáo lý chân sư hữu ích cho chúng ta?

Lợi ích tiềm tàng lớn nhất nằm ở chỗ các chân sư có tâm thức cao hơn hẳn chúng ta trên cơ bản. Các thày đã vượt lên trên mọi quan điểm hay thành kiến, mọi loại ích kỷ, sợ hãi hay ảo tưởng của con người. Các thày cũng vượt trên mọi sự phân biệt trên trái đất, dù là những nhân vật quyền uy, những tổ chức, quốc gia hay truyền thống văn hoá. Các thày chỉ mong muốn giúp đỡ mọi người bất kể người đó là ai. Vấn đề duy nhất là mọi người có mở tâm ra để được giúp đỡ hay không mà thôi.   

Các chân sư nhìn thế gian từ một tầm góc khác hẳn chúng ta, và điều này vô cùng quý báu ở chỗ chúng ta được trao một cái khung chuần với ba sự thật căn bản:

  • Có một tâm thức vượt cao hơn và xa hơn tâm thức con người bình thường. Hẳn là có cái gì đó ở bên ngoài hộp tư duy giới hạn của chúng ta.
  • Mỗi sinh thể tự nhận biết (self-aware being) có sẵn tiềm năng vượt lên trên tâm thức con người bình thường để đạt đến tâm cao của chân sư. Mỗi người trong chúng ta đều có khả năng đó, nhưng muốn vậy, chúng ta phải trở nên tỉnh giác hơn bây giờ.
  • Có một hệ thống tu tập để đưa chúng ta từ bất cứ tầng tâm thức nào trong hiện tại đến sự tỉnh giác bao la của tâm thức thăng hoa. Mỗi chúng ta đều có khả năng trở thành chân sư thăng thiên, và khi đó chúng ta cũng thăng vượt được mọi khổ đau cùng hạn chế của loài người. Con đường này có tên là đường tu tâm linh.   

Khả năng tự nhận biết cao độ là cách giúp chúng ta vượt lên trên mọi vấn đề cùng hạn chế cá nhân. Đó cũng là cách duy nhất để giúp địa cầu vượt lên trên mọi vấn đề do con người gây ra – mà mọi vấn đề của địa cầu đều do con người gây ra cả. Điều này chúng ta làm được bởi vì mỗi chúng ta là phân tử của tâm thức tâp thể, và khi nâng tâm thức cá nhân thì chúng ta cũng kéo cả tập thể đi lên.

Biết vậy nhưng tâm thức rộng lớn của chân sư là điều khó đạt nhất đấy. Tại sao thế? Vì khi nào chúng ta còn bị tấm màn ảo tưởng của nhận thức con người che chắn, thì chúng ta rất khó nắm bắt được cái gì không có màn che. Chúng ta luôn có khuynh hướng đánh giá mọi thứ dựa trên cái nhìn giới hạn cố hữu, muốn gò ép mọi điều mới vào những cái khuôn cũ để xác nhận những điều mình đã sẳn tin là sự thật.

Thói quen này từng được nhà hiền triết Cổ Hy Lạp Plato minh họa trong ngụ ngôn hang đá. Trong hang đá ngụ ngôn, có một nhóm người bị xiềng xích quay mặt vào tường, đối lưng với cửa hang. Ngoài hang có người ta đi lại bình thường, nhưng kẻ bị xiềng trong hang thì chỉ thấy được bóng chiếu trên tường. Người trong hang cố hết sức nắm được thực tại ngoài hang, nhưng vô ích, vì họ chỉ thấy được những cái bóng của thực tại mà thôi.

Con người có khuynh hướng muốn xác nhận những điều mình đã sẵn tin tưởng, cho nên chúng ta thường chụp lấy bất cứ tư tưởng nào, dù là từ tôn giáo, triết học, ý thức hệ chính trị hay giáo lý tâm linh. Và rất có thể bạn cũng sẽ mượn lời dạy của các chân sư để củng cố cho những điều bạn sẵn tin, nhưng nếu chẳng may bạn làm vậy thì sẽ không thể nào thoát được tâm thức hiện hữu của mình.

Và đây là vấn đề chúng ta phải trực diện: Liệu chúng ta sẽ cố gò ép lời dạy của chân sư vào trong cái hộp tư duy kín mít của mình, hay chúng ta sẽ dùng lời dạy đó để tra vấn các ảo tưởng và mở rộng cái hộp đó ra? Nếu chúng ta chọn cách thứ nhất thì sẽ không thể nào nâng tâm thức lên một bậc được. Còn nếu chọn cách thứ hai thì hộp tư duy sẽ ngày càng rộng rãi hơn cho đến khi nó không còn tồn tại được nữa, và lúc đó chúng ta sẽ được quyền thênh thang bước ra khỏi cái hang của Plato để nhìn thực tại với con mắt của chân sư.

Mục đích duy nhất của trang mạng này là để giúp bạn cất bước trên con đường tâm linh đó, để nó dẫn bạn tới một tầng tỉnh giác cao hơn. Bài vở trong trang này sẽ chỉ dẫn tường tận về từng giai đoạn trên đường, nhưng nói cho cùng thì chỉ có bạn mới có thể quyết định cất bước, quyết định sử dụng những giáo lý được trình bày. Và dù bạn có quyết định thế nào đi nữa thì các chân sư cũng sẽ hoàn toàn tôn trọng quyền tự quyết của bạn.

Bốn tầng của tâm

Một bài giảng của chân sư thăng thiên Giê-su

Ta muốn gửi các con một bài dạy căn bản về ý nghĩa thật của câu ta từng nói về “nhiều gian trong căn nhà Cha ta”. Câu này đã khiến nhiều người bối rối, và ta hoàn toàn thông cảm. Câu này là ví dụ điển hình về những giới hạn trong hiểu biết và từ vựng được sử dụng cách đây 2000 năm. Ta đã có ít cơ hội giảng giải cho người thời đó về một sự thật vô cùng thâm sâu mà mọi người tầm đạo tâm linh cần lãnh hội. Vậy bây giờ ta sẽ dùng hiểu bíết và từ vựng thời nay để làm điều đó.     

Trong thế giới ngày nay, hầu hết mọi người đều biết là có năng lượng. Hầu hết cũng biết năng lượng là một hình thức rung động. Hầu hết đã nghe nói tới thuyết tương đối của Albert Einstein, qua đó mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo bằng năng lượng. Tiếc thay, hầu hết cũng chưa thật sự hấp thụ được những hệ quả to lớn của khám phá này. Và vì vậy, họ đã không có nỗ lực nào để thay đổi thế giới quan của mình hầu đáp ứng với thực tế nơi tất cả đều là năng lượng.  

Sự thật đơn giản là toàn bộ vũ trụ được tạo ra từ một chất căn bản duy nhất. Trong quá khứ, người ta gọi đó là ether. Ý niệm ether đã được đạo Phật cùng một số triết lý biết đến từ nhiều thế kỷ. Vào thời trung cổ tại Âu châu, các nhà giả kim (alchemist) cũng đã có biết đến – và có thể nói trong một số trường hợp, họ đã thực sự là những nhà khoa học thực nghiệm đầu tiên. Có cả những nhà vật lý chấp nhận khái niệm ether, cho tới khi một thí nghiệm đáng tiếc đã không tìm được tác động vật chất nào của ether – nhưng lý do họ không tìm được là vì ether không có đặc tính vật chất nào cả.

Từ đó, đa số nhà vật lý đã bỏ rơi khái niệm ether, một quyết định thật đáng tiếc cho khoa học. Vì quyết định này mà họ không thể hiểu được năng lượng một cách trọn vẹn, Họ thừa biết năng lượng là rung động, nhưng rung động chỉ hiện hữu nếu có một môi thể rung động. Như sóng biển không thể hiện hữu nếu không có biển. Cho nên sẽ không có sóng năng lượng, và cũng không có vũ trụ vật chất, trừ khi có một cái gì đó để rung động.      

Cái gì đó rung động chính là chất căn bản mà Thượng đế đã sử dụng để sinh tạo toàn thể thể giới hình tướng. Chất này được mô tả trong Thánh kinh qua câu “Và Đức Chúa Trời phán, hãy có ánh sáng.” Ánh sáng cũng có thể mô tả là diện nữ của Thượng đế Cha-Mẹ. Ánh sáng là Mẹ Thiêng liêng, thân thể của Mẹ Thiêng liêng, là Đấng sinh ra mọi hình tướng được chiếu hình lên Mẹ bởi ý muốn của Cha qua tâm của Con. Hình tướng được biểu hiện và nuôi dưỡng bởi quyền năng của Thánh linh, như Mẹ Mary yêu dấu có giảng dạy. Ánh sáng Mẹ còn có tên gọi là Ánh sáng Mẫu-Vật.

Như con biết, ánh sáng mà con nhìn thấy là những sóng ánh sáng, rung động trong một dải tần số nhất định. Ánh sáng màu đỏ rung động ở tần số thấp hơn ánh sáng màu xanh hay màu tím. Và con cũng biết, có những tần số thấp hơn hay cao hơn ánh sáng nhìn thấy. Mắt con người không thấy được những tần số này cho dù chúng có thực không kém gì ánh sáng đỏ hay xanh.  

Đặc biệt cho bài này, chúng ta hãy dùng khái niệm căn bản: tất cả đều là rung động. Như vậy thì trong thế giới hình tướng, không hề có hàng rào bất khả xâm phạm nào. Mọi thứ đều là cùng một chất, chỉ khác chúng rung động ở những tần số, hay mức độ, khác nhau mà thôi. Tất cả đều được tạo bằng sóng năng lượng, và khác biệt duy nhất giữa Trời và Đất là độ rung của sóng năng lượng.

Câu “Nhà Cha ta có nhiều gian” thật sự có nghĩa như thế: nhà Cha ta là một tấm thảm năng lượng liên tục, một tấm thảm những rung động liên tục. Tấm thảm liên tục ấy có từng phân đoạn, và mỗi phân đoạn là một nhóm tần số. Mỗi phân đoạn là một gian trong căn Nhà của Thượng đế. Trong số đó, có một phân đoạn được con người gọi là vũ trụ vật chất. Ở ngoài cõi này là cái mà con người gọi là cõi tâm linh, hay Trời. Nhưng ngay trong cõi tâm linh cũng có nhiều phân đoạn nữa.

Bốn thể phàm của con

Qua bài này, ta muốn giúp các con hiểu rằng trong vũ trụ vật chất có mấy phân đoạn như thế. Nói chính xác, có cả thảy bốn phân đoạn, hay cõi, trong vũ trụ vật chất. Cõi mà mọi người đều quen thuộc là vũ trụ làm bằng vật chất. Đây là thế giới mà con có thể nhận biết qua giác quan vật lý của mình. Nó được tạo bằng những rung động trong một dải tần số mà giác quan vật lý có khả năng phát hiện. Lý do phát hiện được là vì cơ thể con được tạo bằng những năng lượng tương tự trong cùng dải tần số. Nói cách khác, cái gì làm bằng vật chất thì phát hiện được rung động của vật chất và chỉ những rung động đó thôi. Điều này giải thích tại sao các nhà vật lý kia đã không thể tìm thấy ether qua dụng cụ vật chất.

Bên trên cõi vật chất có ba phân đoạn nữa vẫn thuộc về cái gọi chung là vũ trụ vật chất. Khi từ cõi vật chất con đi lên phân đoạn trên, con bước vào một cõi có thể gọi là cõi cảm xúc. Ở trên nữa là cõi tư tưởng, và trên nữa là cõi bản sắc.  

Trong nhiều tôn giáo cùng triết lý lâu đời, như Phật giáo, Hy lạp cổ hay giáo lý huyền bí của các nhà giả kim, bốn cõi này được mô tả là bốn góc của Địa cầu, với tên gọi là đất, nước, không khí, lửa. Khái niệm này liên hệ với ý tưởng cổ xưa về hình vuông xuất phát từ hình tròn. Hình tròn biểu tượng cho Trời, vô tận và không có phân chia – nếu chúng ta dùng ý niệm không gian và thời gian. Nó tương ứng với ether.

Còn hình vuông biểu tượng cho Địa cầu, đúng hơn, cho vũ trụ vật chất. Vũ trụ vật chất là cõi của thời gian và không gian, được tạo ra bằng cách lấy cõi vô tận của hình tròn mà chia thành bốn hướng, bốn chiều kích, tức là bốn tọa độ của không gian và thời gian.  

Để con dễ hình dung, ta sẽ nói đến mối tương quan với tâm con người. Ta đã giảng trong trang mạng này là tất cả mọi thứ đều được nuôi giữ duy bằng một dòng năng lượng của Thượng đế tuôn chảy từ cõi tâm linh xuống vũ trụ vật chất. Trong mỗi con người, năng lượng tuôn xuống từ cái ta tâm linh xuyên qua những lớp tiềm thức cho tới khi nó chạm tâm ý thức. Năng lượng chảy xuống từ cõi tâm linh và đầu tiên nó vào cõi lửa. Một số giáo lý huyền bí gọi cõi này là bát cung ether, hay thể nhớ. Ta muốn gọi đó là cõi bản sắc. Đây là phần của tâm con cất giữ ký ức mọi trải nghiệm trong thế giới vật chất. Nó cũng cất giữ ý niệm bản sắc mà con đã xây dựng qua nhiều kiếp sống suốt hành trình của dòng sống con trong thế gian này. Khi năng lượng sự sống lần đầu tiên nhập vào tâm con, tức bản thân con, nó chảy qua bản sắc của con, và do đó nó bị bản sắc tô màu. Bản sắc con cũng bao gồm cách con nhìn thế giới, nhìn Thượng đế, quan hệ của con với thế giới và quan hệ của con với Thượng đế. Cho nên nó là cái nền tảng cho con phản ứng với cuộc đời trong cõi này.

Sau khi chảy qua bản sắc thể của con, nó nhập cõi không khí. Một số giáo lý gọi là cõi trí. Ta muốn gọi đó là cõi tư tưởng. Ở cõi này, năng lượng bị các tư tưởng của con về chính con và về thế giới tô màu. Tư tưởng con phần lớn được định đoạt bởi bản sắc con, nhưng vì chúng nằm ở một tầng thấp hơn trong tâm con, chúng mềm lỏng hơn, dễ thay đổi hơn những hình ảnh vùi sâu nơi bản sắc. Nói cách khác, tư tưởng có thể thích ứng hay bị ảnh hưởng bởi những tình huống cụ thể mà con gặp trong đời. Có thể nói, bản sắc định đoạt cách con nhìn đời rộng lớn, còn tư tưởng là cách con hiểu từng chi tiết trong tấm ảnh lớn đó. Bản sắc quyết định cách con nhìn thế giới, còn tư tưởng quyết định cách con nghĩ tưởng thế giới vận hành làm sao.

Sau khi năng lượng chảy qua thể tư tưởng, nó nhập vào cõi cảm xúc. Đây là cảm thể, chứa đựng cảm xúc của con về chính con và về thế giới. Cảm xúc chỉ đơn giản là năng lượng trong chuyển động, và chúng là tiền thân của hành động thể xác. Cho nên cảm xúc định đoạt cách con biến tư tưởng thành hành động. Có thể nói, một mình tư tưởng không có khả năng dẫn tới hành động. Tư tưởng chỉ đơn thuần là ý nghĩ, và để chuyển ý nghĩ thành hành động vật lý, tư tưởng cần đến hai đặc tính của cảm xúc, là phương hướng và cường độ. Cảm xúc con sẽ hướng tư tưởng con vào một hành động cụ thể, và cường độ cảm xúc sẽ định đoạt sức mạnh của hành động.  

Bước chót là khi năng lượng nhập vào bộ não cùng hệ thần kinh của cơ thể vật lý. Ở tầng này, cảm xúc của con được chuyển thành hành động, và hành động được định đoạt bởi phương hướng và cường độ của cảm xúc đứng đằng sau. Tất nhiên, phương hướng và cường độ của cảm xúc bị định đoạt bởi tư tưởng, và tư tưởng thì bị định đoạt bởi ý niệm bản sắc cùng thế giới quan của con.

Vậy con đã thấy, dòng chảy tự nhiên của năng lượng là tuôn xuống từ cái ta tâm linh qua thể bản sắc nơi nó bị thế giới quan của con tô màu. Năng lượng chảy tiếp vào thể tư tưởng nơi nó bị tư tưởng tô màu. Năng lượng lại chảy nữa vào thể cảm xúc nơi nó khoác lấy phương hướng cùng cường độ do cảm xúc định đoạt. Và cuối cùng, năng lượng chuyển thành hành động vật lý mà bộ não, hệ thần kinh cùng cơ thể đem ra thi hành.  

Người ta có thể ví nguyên tiến trình này như máy chiếu phim. Ánh sáng tuôn ra từ cái ta tâm linh giống như ánh sáng trắng tinh của bóng đèn trong máy chiếu. Các thể bản sắc, tư tưởng và cảm xúc giống như ba cuộn phim, và ánh sáng bị hình ảnh trên ba cuộn phim liên tiếp tô màu. Sau khi đi qua cả ba cuộn, ánh sáng được chiếu lên màn ảnh. Màn ảnh này chính là cái phần của tâm con ngụ trong vũ trụ vật chất. Đây là tâm ý thức của con và một số thành phần của tìềm thức con. Nó neo cứng vào trong não và hệ thần kinh của con.

Bốn tầng của vũ trụ vật chất

Hiểu được năng lượng vận chảy như thế qua tâm con, con cần đem hiểu biết này vào toàn thể vũ trụ vật chất. Vũ trụ vật chất cũng có bốn bát cung, hay tầng mức, khác nhau – bốn thể khác nhau.  Chúng tương đương với bốn tầng của tâm con, bởi vì thật sự vũ trụ chỉ đơn giản là một gian trong căn nhà, trong tâm của Thượng để. Như tâm con, vũ trụ vật chất được tạo bằng năng lượng cơ bản của Thượng đế tuôn chảy qua các cõi bản sắc, tư tưởng và cảm xúc trước khi nó thị hiện trong cõi vật chất.

Khi con hiểu rằng dòng năng lượng cơ bản này chảy xuyên qua bốn tầng của vũ trụ vật chất, thì con sẽ hiểu tầng thấp nhất, tầng của vật chất, là kết quả của những nguyên nhân tiềm ẩn hiện diện nơi ba tầng cao, là các thể cảm xúc, tư tưởng và bản sắc. Có thể nói vũ trụ vật chất chỉ đơn giản là sự phóng chiếu của hình ảnh nằm sẵn nơi ba tầng cao. Thực sự, vũ trụ vật chất không là gì hơn những hình ảnh được chiếu lên màn ảnh của một rạp chiếu bóng.

Khi con suy ngẫm điều này, con sẽ hiểu ngay rằng con có thể – và con bắt buộc phải – thay đổi vũ trụ vật chất bằng cách thay đổi ba tầng cao của nó. Đối với cá nhân con, nếu con muốn thay đổi hoàn cảnh đời mình, con phải bắt đầu bằng cách thay đổi cảm xúc, tư tưởng và bản sắc của con. Chỉ khi nào con thay đổi những hình ảnh nằm trong ba thể cao thì con mới có thể thay đổi hình ảnh hiện ra trong thế giới vật chất. Cũng vậy, trên bình diện hành tinh, chìa khóa để loại bỏ khổ đau loài người là thanh lọc thể cảm xúc, tư tưởng cùng bản sắc của toàn thể hành tinh, bởi vì hành tinh vật chất chỉ là hình chiếu của những hình ảnh lưu trữ nơi những cõi cao.

Địa cầu đã được tạo ra bởi bảy đấng tâm linh gọi là Elohim. Các Elohim luôn duy trì hình ảnh một địa cầu toàn hảo, và hình ảnh này vẫn còn đó. Tuy nhiên, hình ảnh toàn hảo đó đã bị tạm thời che phủ bởi một hình ảnh bất toàn được phóng chiếu qua các thể bản sắc, tư tưởng lẫn cảm xúc của nhân loại. Đây là cái mà tâm lý học gọi là vô thức tập thể.

Nguyên nhân thực sự của khổ đau

Bây giờ ta muốn chỉ cho con thấy tại sao địa cầu có quá nhiều biểu hiện bất toàn và tại sao con người phải chịu quá nhiều đau khổ đến thế. Lý do là ba thể cao của loài người đã bị ô nhiễm bởi một bản sắc bất toàn, những tư tưởng bất toàn và những cảm xúc không trong sạch.   

Như mẹ yêu dấu của ta giải thích trong bài kế tiếp, mọi điều nơi cõi Trời đều được định ra theo quy luật Thượng đế. Cho nên nếu một sinh thể tâm linh đi ngược lại quy luật Thượng đế thì y sẽ không thể ở lại cõi Trời. Mẹ ta cũng giảng dạy rằng trong vũ trụ vật chất, người ta có khả năng đi ngược lại quy luật Thượng đế. Lý do là vì vũ trụ vật chất được thiết lập như một lớp học cho các dòng sống đang học tập để vươn lên trở thành giống như Thượng đế. Thượng đế đã phú cho các dòng sống này quyền tự quyết và cái khung sườn để họ thử nghiệm năng lượng của ngài.

Vì vậy, các định luật của vũ trụ vật chất cho phép con người đi ngược lại quy luật Thượng đế mà không phải rời cõi này. Nói cách khác, họ có thể dùng quyền tự quyết của họ để chú tâm vào những hình ảnh không phù hợp với các nguyên tắc mà Thượng đế đã sử dụng để thiết lập thế giới hình tướng. Con người có quyền tạo dựng bản sắc riêng, xem mình là một thể sống tách biệt với Thượng đế, là sinh thể vật chất thay vì tâm linh. Họ có quyền tạo ra những hình tư tưởng lệch lạc so với sự thật và thực tại Thượng đế. Họ có quyền nếm trải những cảm xúc là sự tha hóa của cảm thức chân thật của Thượng đế. Và khi họ lao vào những bất toàn như vậy, họ có khả năng biến đổi vũ trụ vật chất và tạo dựng một thế giới biểu hiện bất toàn.

Tuy nhiên khi Thượng đế ban cho con người quyền tự quyết, ngài cũng đặt ra một khuôn khổ có chức năng một chiếc van an toàn, hầu không một ai có thể phá hủy được vũ trụ vật chất. Nói cách khác, tuy con người có toàn quyền làm bất cứ gì mình muốn với năng lượng Thượng đế, họ sẽ bắt buộc phải trải nghiệm chính những hoàn cảnh sống mà họ đã tạo ra với năng lượng đó. Nếu họ tham gia vào tư tưởng hay cảm xúc bất toàn, họ sẽ sinh sản những điều kiện cũng bất toàn như thế trong thế giới vật chất, và khả năng sáng tạo của họ sẽ bị giới hạn bởi những gì họ tạo ra. Làm gì thì chịu nấy.  

Có thể nói, Thượng đế đã thiết kế vũ trụ vật chất như một tấm gương. Nó giống như một màn ảnh chiếu phim, phản ánh những gì được chiếu lên nó xuyên qua tâm con người. Cho nên bất cứ hình ảnh nào con giữ nơi những tầng cao của tâm con, nó sẽ định đoạt các điều kiện đời sống mà con trải nghiệm trong thế giới vật chất. Nếu con có một hình ảnh bất toàn, con sẽ tạo ra một biểu hiện bất toàn mà tự nó nhất định sẽ hủy hoại. Tựa như con xây cất một Tháp Babel vậy, nó nhất định phải sụp đổ do chính sức nặng của nó.

Ở khởi thủy của địa cầu, các sinh thể tự nhận biết mang tâm thức cao hơn con người bây giờ. Trong tâm thức đó, các dòng sống này tiếp xúc một cách ý thức với cái ta tâm linh cùng những vị thày tâm linh của mình. Con người sử dụng quyền tự quyết của mình để thử nghiệm với năng lượng của Thượng đế, và khi làm vậy, họ thường lầm lỗi, tạo ra những biểu hiện bất toàn. Tuy nhiên vì họ biết rõ quy luật sáng thế, họ có khả năng nhận ra bất toàn, thừa nhận sai lầm, và lập tức thay thế kết quả bất hảo bằng kết quả tốt đẹp hơn.  

Nhưng sau khi Con Người Sa ngã, loài người đánh mất liên lạc với cái ta tâm linh cùng các vị thày tâm linh của mình, và vì vậy họ cũng không còn biết gì về quy luật sáng thế nữa. Họ quên mất quy luật rằng bất cứ gì mình tạo ra trong cõi vật chất chỉ đơn giản là sự phóng chiếu những hình ảnh được cầm giữ nơi ba thể cao hơn. Và như thế, họ cũng mất luôn hiểu biết rằng họ có khả năng thay đổi điều kiện vũ trụ vật chất bằng cách thay đổi nội dung các thể cao.   

Thế là con người bắt đầu tin rằng các điều kiện trong thế giới vật chất là vĩnh viễn, vượt ngoài tầm kiểm soát ý thức của mình. Họ bắt đầu xem mình là nạn nhân của những tình huống mà họ không hề gây ra. Họ bắt đầu coi mình là nô lệ của những thế lực ngoài vòng kiểm soát. Nếu nhìn dưới một khía cạnh nào đó thì quả thật là họ không sai. Đúng vậy, vì khi không chịu thay đổi cảm xúc, tư tưởng cùng bản sắc của mình, thì tất nhiên họ không thể thay đổi thế giới vật chất, và họ trở thành nạn nhân của điều kiện đời sống. Kẹt một nỗi là một khi mình đã tạo ra các điều kiện đó thì bây giờ mình phải tháo gỡ nó đi.

Chính vì đã quên, đã từ chối trách nhiệm về hoàn cảnh của mình như vậy mà họ đã tạo cơ hội cho một số sinh thể từ các bầu cõi cao hơn – những sinh thể đã đối nghịch lại quy luật Thượng đế – đầu thai trên địa cầu. Trong bài giảng, đức Mẹ Mary cũng mô tả sự kiện này.  

Con thấy đó, có sự khác biệt căn bản giữa thử nghiệm quyền tự quyết của mình (và lầm lỗi khi mình làm vậy) với cố tình đối nghịch lại quy luật cùng ý chỉ sáng tạo của Thượng đế. Như Mẹ Mary có mô tả, một số sinh thể trong cõi tâm linh đã chủ tâm nghịch lại quy luật cùng ý chỉ sáng tạo của Thượng đế. Xong chúng bị sa xuống một trạng thái tâm thức thấp hơn, và cuối cùng một số đã đầu thai ở địa cầu.  

Những sinh thể đó đã khuynh loát nhiều người tin vào lời gian dối rằng tự do tối hậu chỉ có thể đạt được khi mình đi ngược lại quy luật Thượng đế. Chúng đã lừa dối tinh vi để gạt gẫm con người vi phạm quy luật Thượng đế, đồng thời tin rằng những hậu quả xấu mà mình gặt hái là không thể tránh được, thậm chí còn do Thượng đế làm ra.

Khi loài người rơi vào tâm thức thấp hơn, đó là khởi đầu cho một tiến trình ô nhiễm nơi bốn thể phàm của mọi người trên trái đất cũng như của tâm thức tập thể. Và điều này dẫn đến những điều kiện bất hảo dưới hình thức khổ đau, thiên tai cùng tai ương đủ loại.

Tất cả những gì con có thể thấy trong thế giới vật chất chỉ đơn giản là sự phản chiếu các thể cao hơn. Cả ba thể cao đó đã bị ô nhiễm và chứa đựng hình ảnh bất toàn. Nhưng có một thể đã hoàn toàn bị tà lực chiếm đoạt là cảm thể. Thể này là thể cốt yếu cho những ai muốn kiểm soát thế giới vật chất, bởi vì đó là cơ quan hoán chuyển tư tưởng thành hành động xác thân.

Bản chất của cảm xúc là lấy hình dạng của bất cứ hình ảnh nào được trí thể chiếu vào nó. Cảm xúc là năng lượng chuyển động, mà năng lượng thì không có ý niệm gì về đúng hay sai. Khi nó được hướng tới một hành động, nó sẽ tuôn vào đó mà không xét tới hậu quả. Cho nên nếu tà lực đã chiếm đoạt cảm thể một người, chúng có thể thao túng cho người đó làm bất cứ gì mà không xét đến hậu quả, không cân nhắc phải trái. Đây là nguồn gốc của hội chứng “Nếu thích thú thì cứ việc làm”, là hội chứng dựa trên lời dối gạt tinh vi rằng nếu mình cảm thấy ưa thích điều gì thì điều đó không thể sai trái.    

Vậy bây giờ con đã thấy, có những thế lực không ngừng ra sức thao túng con người qua cảm thể. Một cách để chúng thực hiện điều này là khiến cho cảm thể con người luôn luôn dao động, rồi dần dần chúng bồi thêm cường độ cho tới khi người đó không thể cưỡng lại năng lực cảm xúc được nữa. Cảm xúc trào ra thành hành động, và đây là hiện tượng khi những cá nhân, những nhóm người, thậm chí cả quốc gia, cảm thấy bó buộc phải làm những hành động mà họ bình thường không bao giờ làm. Đây là nguyên nhân chủ yếu của chiến tranh. Trong suốt thời gian dẫn đến chiến tranh, con sẽ thấy cảm thể của cả một nước bị kích động tới mức người ta cảm thấy phải làm một cái gì đó, và cái đó là phải chiến đấu chống lại kẻ thù được coi là đã gây ra kích động.

Các sinh thể trí năng trong cả bốn cõi

Có điều quan trọng nữa ta muốn giảng cho con trong bài này là nơi cả bốn cõi của vũ trụ vật chất, có những sinh thể trí năng tự nhận biết. Con người là những sinh thể trí năng sống trong cõi vật chất. Nơi ba cõi cao hơn cũng có những sinh thể trí năng. Một số những sinh thể đó chưa từng hiện thân trong một thể xác vật lý. Còn một số khác thì đã từng đầu thai nhưng hiện đang cư ngụ ở những cõi khác của vũ trụ vật chất.

Tiến trình tự nhiên của các dòng sống là đi xuống một xác thân vật lý để thử nghiệm cõi vật chất, và giúp Thượng đế đồng sáng tạo tầng cấp này của thế giới hình tướng. Một khi đã hoàn thành mục đích hiện thân trong vũ trụ vật chất, dòng sống sẽ thăng lên cõi tâm linh. Nói cách khác, nếu một dòng sống còn ngụ, hoặc bị kẹt lại, nơi bốn cõi vật chất, cảm xúc, tư tưởng hay bản sắc, thì đây không phải là chuyện tự nhiên. Như trường hợp một dòng sống bị mất quân bình khiến cho một hay nhiều thể của mình bị tha hóa, thì dòng sống đó có thể bị kẹt lại trong vũ trụ vật chất, không có khả năng thăng lên cõi tâm linh..   

Bốn thể phàm tương ứng với bốn nguồn lực của Cha, Con, Mẹ và Thánh linh. Cha tương ứng với bản sắc thể, Con với trí thể, Mẹ với cảm thể, và Thánh linh với xác thể. Nếu một dòng sống bị mất quân bình trong cả bốn thể phàm, nó sẽ bị kẹt lại trong cõi vật chất, và nó sẽ mãi tái đầu thai trong một loạt thân xác khác nhau. Nếu một dòng sống đạt được quân bình xác thể nhưng không trong ba thể kia, nó có thể bị kẹt lại nơi cảm thể. Nếu nó đạt được quân bình xác thể và cảm thể, nó có thể bị kẹt lại nơi trí thể, và nếu nó quân bình được cả ba thể thấp thì nó có thể bị ket lại nơi bản sắc thể.

Nếu con muốn thật sự hiểu tại sao ta giảng dạy bài này, con cần nhận rõ rằng cả bốn cõi của vũ trụ vật chất chỉ khác nhau về rung động. Cho nên khi học bài này, con đừng rơi vào cái bẫy của lối suy nghĩ đường thẳng. Chẳng hạn, vì cõi vật chất có độ rung thấp nhất và các cõi kia có độ rung cao hơn, con dễ nghĩ lầm rằng ba cõi kia nằm cao hơn, vượt ngoài cõi vật chất. Nhưng nghĩ vậy không chính xác đâu.      

Ngay trong căn phòng con đang ngồi, có rất nhiều làn sóng vô tuyến đang hiện hữu trong cùng một khoảng không gian. Các sóng vô tuyến này tồn tại trong cùng một không gian với cơ thể con, với tường, bàn ghế và không khí trong phòng. Cũng vậy, những tần số rung động khác nhau có thể tồn tại trong cùng một không gian. Điều ta muốn nói là cõi vật chất tồn tại ở ngay cùng một chỗ với các cõi khác – cảm xúc, tư tưởng và bản sắc.

Điều quan trọng cần nhận rõ ở đây là giữa bốn cõi không hề có hàng rào bất khả xâm nào. Nói cho đúng, các cõi đó còn có thể trùng lấp nhau nữa. Chẳng hạn, rất có thể ở một khu vực nào đó của cõi vật chất, các rung động được biến đổi để chúng cộng hưởng với rung động ở một cõi khác.

Tâm con người có khả năng hoạt động như chiếc máy radio. Như ta vừa nói, có rất nhiều làn sóng vô tuyến xâm nhập vào căn phòng mà con đang ngồi. Nếu con bật máy lên, con có thể bắt được từng làn sóng bằng cách quay cái nút. Máy radio biến sóng năng lượng thành âm thanh nghe thấy, mà con nhận biết là những đài phát thanh khác nhau. Tâm con có khả năng tựa như chiếc máy radio vậy, nó có thể bắt sóng của mọi tầng cấp vũ trụ vật chất. Nó cũng có thể bắt được các tầng cấp trong cõi tâm linh. Nói cách khác, tâm con người có khả năng vượt ra ngoài cõi vật chất để đồng điệu với những sinh thể trí năng ở các cõi cảm xúc, tư tưởng, bản sắc, hoặc cả cõi tâm linh nữa.

Một hệ quả của lời dạy này là nếu con cố bắt liên lạc với sinh thể trí năng ở những cõi khác, con cần biết rằng không phải ai ai ở đó cũng thiện lành. Rất có thể một số đã từng cố tình đối nghịch lại các quy luật của Thượng đế, và họ sẽ cố lôi kéo con làm điều tương tự. Những lý do khiến họ làm vậy được giải thích trong bài giảng của đức Mẹ Mary.

Đã từng có một thời cả bốn cõi đều có những sinh thể thiện lành trú ngụ ở đó. Thế nhưng cõi cảm xúc bây giờ bị ô nhiễm, tha hóa đến độ không còn ai tốt nữa. Tất cả mọi sinh thể nơi cõi cảm xúc đều đã mất quân bình, họ tin rằng mục tiêu có thể biện minh cho mọi phương tiện, và phương châm của họ là “nếu thích thú thì cứ việc làm tới”. Trên địa cầu có nhiều người hiện thân tâm thức này bởi vì cảm thể họ bị mất quân bình do đồng cảm với cõi cảm xúc. Và họ trở thành nô lệ cho bọn thao túng đang hoành hành ở đó.

Cõi tư tưởng cũng bị ô nhiễm nặng nề, nhưng vẫn còn một số sinh thể không ác ý. Tuy vậy, rất nhiều trong số đó còn bị kẹt trong cách suy nghĩ rằng họ có thể hiểu được mọi chuyện bằng lý trí. Thậm chí, một số còn đinh ninh họ thông hiểu thế gian hơn cả Thượng đế và do đó họ hiểu rõ hơn Thượng đế phải vận hành vũ trụ làm sao. Đây là sự kiêu căng của trí thức, và con sẽ thấy trên địa cầu cũng có nhiều người hiện thân lòng tự kiêu này. Lý do là vì trí thể của họ đã đồng tình với những sinh thể tự kiêu nơi cõi tư tưởng. 

Cõi bản sắc là cõi tương đối trong sạch nhất, cho dù cũng bị ô nhiễm bởi một ý niệm bản sắc sai lầm. Ở đây có những sinh thể tự xem mình tách biệt với Thượng đế, và họ phóng chiếu cái nhìn này vào tâm thức loài người. Nhưng song song cũng có những sinh thể trong cõi ether giữ vững được bản sắc đúng đắn rằng mình là sinh thể tâm linh.

Các thày trong Đại đoàn Thăng thiên giáo hóa để phục vụ loài người. Các thày sẵn sàng giao tiếp với bất cứ ai để giúp họ tiến bước trên đường tu tâm linh. Khi địa cầu còn trong sáng, các thày đã có thể hiện ra trước con người trong cõi vật chất, và ai nấy đều có thể gặp gỡ, đàm đạo với các thày. Điều này xảy ra không phải vì các thày đã hiện ra trong một thể xác vật lý, mà vì tâm thức con người thời đó còn trong trắng đến độ có thể nhận biết các thày trong “thân thể” tâm linh của các thày. Với giác quan vật lý, họ nhìn thấy được thân tâm linh của các thày.

Nhưng ngày nay, những sự mất quân bình mà loài người tạo ra đã kéo thấp độ rung của toàn cõi vật chất, và việc nhận biết các thày đã trở nên khó khăn hơn. Con người không thể nhận biết các thày qua giác quan của cơ thể, trừ những trường hợp hiếm hoi khi các thày mượn tạm một thân thể vật chất.

Cho nên muốn giao tiếp với Đại đoàn Thăng thiên trong thế giới hiện đại, con phải nâng cao tâm thức, và điều này có nghĩa con phải quân bình cả bốn thể phàm của mình. Con chỉ tạo được quân bình bằng cách đạt đến trung đạo của tâm thức Ki-tô. Nếu con không quân bình trong tâm Ki-tô thì con sẽ không liên lạc được với Đại đoàn Thăng thiên. Nhưng tiếc thay, con vẫn có khả năng liên hệ với các sinh thể trú ngụ nơi các cõi phàm. Con đừng quên rằng chúng bị kẹt lại ở đó chính vì chúng đã mất quân bình trong một hay nhiều thể. Cho nên nếu con muốn giao tiếp một cách an toàn với cõi trên, con cần phải vươn lên tâm thức Ki-tô, và điều này có nghĩa con phải quân bình cả bốn thể phàm của con.

Thiên đàng hay Địa ngục trên địa cầu

Qua bài giảng này ta còn có một mục đích nữa, là chỉ cho con thấy cả bốn tầng của vũ trụ vật chất đều tồn tại chung trong cùng không gian. Khác biệt duy nhất là độ rung. Vì tâm con người có khả năng điều khiển ánh sáng Thượng đế, nó có thể hạ thấp hoặc nâng cao độ rung của ánh sáng. Điều ta muốn nói là con người có khả năng thay đổi những rung động của thế giới vật chất để cộng hưởng với rung động của một trong mấy cõi kia.

Ví dụ, có nhiều khu vực trên hành tinh này, đặc biệt ở các thành phố lớn, nơi một số đông dân cư đã gia tăng sự mất quân bình nơi cảm thể mình đến nỗi toàn khu vực phải rung động ở tần số của cõi cảm xúc. Cõi cảm xúc hiện có những biểu hiện thấp kém nhất trong số các cõi. Một số khu vực của cõi cảm xúc đã thực sự trở thành cái mà người ta xem là Địa ngục. Cho nên trên địa cầu cũng có nhiều nơi với độ rung như cõi cảm xúc. Thực sự đó là những nơi Địa ngục Trần gian.  

Tương tự như vậy, có một số khu vực rung ở cùng tần số với cõi tư tưởng, chẳng hạn các học viện nơi người ta tôn vinh trí thức con người nhưng lại phủ nhận trí tuệ vượt trội của tâm Ki-tô. Và cuối cùng, có những khu vực được cống hiến cho sinh hoạt tâm linh, đồng điệu với cõi ether và cả với cõi tâm linh. Những nơi này chính là Thiên đàng Hạ thế.

Cho nên một lần nữa con thấy đó, con người có khả năng tạo dựng thực tại của mình. Con tạo ra thực tại qua quyền năng của tâm, nhưng để hiểu làm thế nào, con cần phải nhận ra rằng tâm con có đến mấy tầng. Tâm phàm của con rất giống một chiếc radio chỉ biết khuếch đại những tần số vô tuyến để giác quan có thể bắt được. Những gì con sáng tạo trong tâm phàm được định đoạt bởi những gì con tiếp nhận vào trong tâm từ các cõi cao hơn của tâm.   

Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu chiếc radio của tâm con sẽ bắt tần số của đài phát thanh nào? Nó sẽ đồng tần số với cái ta Ki-tô, hay nó đồng tần số với những sinh thể ở các cõi thấp? Ngay hôm nay con phải chọn con phục vụ cho ai. Con phải chọn gian phòng trong căn nhà của Cha ta nơi con muốn sống, và cách con chọn là đặt chú tâm vào một tầng cõi đặc thù nào đó. Nếu con còn mất quân bình nơi một thể thấp, con sẽ chú tâm vào cõi vật chất, cảm xúc hay tư tưởng. Nếu bản sắc thể của con còn mất quân bình, con sẽ chú tâm vào cõi bản sắc mà không lên được cao hơn. Nhưng nếu cả bốn thể phàm của con được quân bình thì con sẽ vươn lên cao hơn cõi bản sắc để hòa điệu với Đại đoàn Thượng thăng. Khi đó con sẽ trở thành cánh cửa mở cho rung động và chân lý nơi Thiên đàng xối xuống địa cầu. Con có khả năng trở thành cánh cửa mở đó để Lời Hằng sống chảy vào thế gian.